Tải bản đầy đủ

Sử dụng phần mềm adobe presenter 10 thiết kế bài giảng e learning cho bài học unit 13 the 22nd sea games tiết language focus lớp 12 ban cơ bản”

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của giải pháp
1. Không gian thực hiện
Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện tại trường THPT ... huyện ... tỉnh
Sơn La
2. Thời gian thực hiện
Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện từ tháng 10 năm 2018 đến hết năm
học 2018-2019. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu sẽ tiếp tục nghiên cứu, thiết kế
thêm các bài giảng E-Learning bộ môn Tiếng Anh trong những năm tiếp theo.
3. Thực trạng của việc thực hiện
Trong bối cảnh cuộc cách mạng thông tin diễn ra như vũ bão, bùng nổ
khoa học kỹ thuật công nghệ và thông tin hiện nay thì việc nắm bắt được ngoại
ngữ là rất quan trọng. Sự phát triển của khoa học và công nghệ đã cho việc giảng
dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng được thừa hưởng nhiều thành
quả. Nhiều thiết bị dạy học tiên tiến đã được giới thiệu và áp dụng vào trong lớp
học ngoại ngữ. Ngày nay, tiếng Anh để giao tiếp với các nước khác trên thế giới
lại càng quan trọng hơn. Tiếng Anh giúp chúng ta có thêm thông tin, tài liệu để
cho chúng ta tự hoàn chỉnh tri thức, nâng cao trình độ, tự hoàn thiện về mọi mặt.
Học tốt môn tiếng Anh người học sẽ bổ túc được khiếm khuyết về các phương
diện, hiểu biết sâu sắc hơn tầm quan trọng của môn tiếng Anh có niềm hứng thú
khi tiếp xúc với nó. Đó là trợ thủ đắc lực để nâng cao chất lượng học tập. Trước

đây mục tiêu chủ yếu của việc dạy và học ngoại ngữ là đọc hiểu để phục vụ mục
tiêu nghiên cứu khoa học, văn học. Ngày nay nhằm phục vụ chính sách mở cửa
giao lưu kinh tế, đổi mới, hoà nhập với khu vực và thế giới, nhất là từ khi Việt
Nam chính thức gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO, và hướng tới xây dựng
cộng đồng ASEAN. Vì vậy, tiếng Anh đã và đang trở thành ngoại ngữ số một
được dạy ở nước ta và hướng tới dạy học các môn học cơ bản bằng tiếng Anh. Để
học sinh nắm bắt được kiến thức tốt, giáo viên phải thay đổi phương pháp truyền
đạt, sử dụng các trang thiết bị dạy học tiên tiến theo kịp với trình độ khoa học
công nghệ trên thế giới và cần phải tạo nhiều hứng thú trong tiến trình bài giảng
của mình. Do nhiều nguyên nhân khác nhau việc dạy và học tiếng Anh và áp
dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy trong nhà trường hiệu quả còn chưa cao.
Việc đánh giá đúng mức vai trò và sự học tập môn học của học sinh là một nhu
cầu bức xúc và cần thiết.
4. Tổng quan về những vấn đề cần nghiên cứu:
4.1. Tổng quan về E-learning
E-Learning (viết tắt của Electronic Learning) là một thuật ngữ mới. Hiện
nay theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu
về E- Learning. Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả
1


việc học tập và đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là
công nghệ thông tin.
Theo quan điểm hiện đại, E-Learning là sự phân phát nội dung học sử
dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng máy tính, mạng vệ tinh,
mạng internet, Intranet…trong đó nội dung học có thể thu được từ các Website,
đĩa CD, băng video, audio…thông qua một máy tính hay TV; người dạy và học
có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận
trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
E-Learning phục vụ:
- Đào tạo trực tuyến, đáp ứng cho cả chính qui và giáo dục thường xuyên
- Đào tạo từ xa qua mạng
- Học tập suốt đời, học mọi nơi, mọi lúc, mọi thứ cần
- Tự học, cá nhân hóa việc học
- Tạo cơ hội bình đẳng trong học tập
4.2. Giáo án điện tử
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học
của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ dạy học đó đã được Multimedia hoá một
cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học.
Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện
bằng vật chất trước khi bài dạy được tiến hành. Giáo án điện tử chính là bản thiết
kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài
giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài
giảng điện tử.
4.3. Bài giảng điện tử
Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế
hoạch hoạt động dạy-học (của thầy và trò) được chương trình hoá (nhờ một phần
mềm) do giáo viên điều khiển thông qua môi trường Multimedia do hệ thống máy
vi tính tạo ra.
Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông.
Trong môi trường này, thông tin được biểu diễn dưới nhiều dạng khác nhau như
văn bản (text), đồ hoạ (graphics), hoạt ảnh (animation), phim video (video clip)…
Đặc trưng của bài giảng điện tử là toàn bộ kiến thức của bài học được số hoá
(để lưu vào máy tính) dưới nhiều dạng dữ liệu khác nhau, đồng thời kịch bản của
quá trình dạy học (trình tự logic và phương pháp truyền thụ kiến thức) cũng được
cài đặt vào quá trình diễn trong môi trường Multimedia thông qua một phần
mềm. Nhờ đó mà kiến thức truyền tải tới học sinh theo các kênh và các kiến thức
khác nhau.

2


Như vậy cùng với máy tính bài giảng điện tử thực sự là một công cụ hỗ trợ
đắc lực trên nhiều phương diện cho hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học
của học sinh.
4.4. Bài giảng E-learning
Bài giảng E-Learning là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng
(authoring tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện (multimedia) gồm phim
(video), hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh, ..., và tuân thủ một trong các
chuẩn SCROM, AICC
Bài giảng E-Learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử, bài
trình chiếu hoặc bài giảng điện tử (powerpoint) thường gọi.
Bài giảng E-Learning có thể dùng để học ngoại tuyến (off-line) hoặc trực
tuyến (online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự
học mà không cần đến thầy dạy, không cần đến trường – lớp.
II. Lý do chọn giải pháp:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo có nêu: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và
truyền thông trong dạy học”.
Phương pháp dạy học là một trong những nhân tố quan trọng của quá trình
dạy học. Cùng một nội dung giống nhau, nhưng học sinh học tập có hứng thú học
tập tích cực hay không, giờ học có phát huy được tiềm năng sáng tạo, có thể để
lại dấu ấn sâu sắc và khơi dậy những tình cảm lành mạnh trong tâm hồn các em
hay không, phần lớn đều phụ thuộc vào phương pháp dạy học của người giáo
viên.
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương
pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến
tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như dạy học
đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường
công nghệ thông tin và truyền thông. Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy
tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua
cầu truyền hình. Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho
học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển
cho học sinh các phương pháp học chủ động. Nếu trước kia người ta thường quan
tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì
nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh. Như vậy,
3


việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làm trung tâm”
sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục
cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile,
LessonEditor/VioLet … hệ thống WWW, Elearning và các phần mền đóng gói,
tiện ích khác. Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi
người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và
phần mềm dạy học nói riêng. Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà học
sinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong
môi trường học tập. Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh
tay của giáo viên tới từng gia đình học sinh thông qua hệ thống mạng. Nhờ có
máy tính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh
động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp
truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội
dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú
ý và tạo hứng thú nơi học sinh. Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có
nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều
hơn trong giờ học.
Trên thực tế hiện nay thì bài giảng điện tử dưới dạng trình chiếu bằng MS
PowerPoint luôn là công cụ thông dụng và được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên với
sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, ứng dụng lĩnh vực này vào việc
dạy và học đã được Bộ Giáo dục Đào tạo cũng như nhiều người đang quan tâm
tiếp cận và định hướng đến bài giảng E-Learning theo chuẩn quốc tế SCORM để
chia sẻ dùng chung, bởi bài giảng E-Learning có những ưu điểm vượt bậc so với
bài giảng trình chiếu sử dụng MS PowerPoint như: Đào tạo trực tuyến, đáp ứng
cho cả chính qui và giáo dục thường xuyên; đào tạo từ xa qua mạng; giáo dục
thường xuyên; học tập suốt đời; tự học, cá nhân hóa việc học, lấy học sinh là
trung tâm; học mọi nơi, mọi lúc, mọi thứ cần; Tạo cơ hội bình đẳng trong học
tập… Bài giảng E-Learning đã và đang dần được ứng dụng trong các trường Đại
học, Cao đẳng, đặc biệt là ứng dụng cho các chương trình đào tạo từ xa. Các
trường THPT cũng đang lập các trang Website không ngoài mục đích đưa ra các
bài giảng E-Learning để giúp cho các em học sinh học tập trực tuyến của trường.
Tuy nhiên, đối với những trường đóng trên địa bản vùng sâu vùng xa, vùng điều
kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn việc tiếp cận với công nghệ thông tin của giáo
viên và học sinh còn hạn chế thì khái niệm bài giảng E-Learning còn khá mới
mẻ.
Tính đến năm 2017 Bộ giáo dục và Đào tạo đã tổ chức cuộc thi Thiết kế
bài giảng E-Learning lần thứ 4. Tuy nhiên qua theo dõi tôi nhận thấy số lượng bài
tham gia dự thi trong toàn tỉnh còn ít, số lượng bài thi đạt giải không nhiều, điều
này cho thấy mức độ quan tâm cũng như kinh nghiệm thiết kế bài giảng ELearning của giáo viên còn nhiều hạn chế.
Qua những vấn đề vừa nêu trên, để một phần nào đó giúp cho giáo viên và
các em học sinh hiểu và ứng dụng bài giảng E-Learning vào việc dạy và học tôi
4


mạnh dạn đề xuất sáng kiến “ Sử dụng phần mềm Adobe Presenter 10 thiết kế
bài giảng E-Learning cho bài học Unit 13: The 22nd Sea Games tiết language
focus lớp 12 Ban cơ bản”.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1. Phạm vi nghiên cứu :
Cá nhân tôi đã được tham gia giảng dạy chương trình lớp 10, 11, 12 ban cơ
bản từ năm học 2010 đến nay, do vậy tôi đã có điều kiện thử nghiệm đề tài từ
chương trình SGK lớp 12 ban cơ bản. Năm học 2018-2019 tôi đã nghiên cứu và
thử nghiệm đề tài “ Sử dụng phần mềm Adobe Presenter 10 thiết kế bài giảng ELearning cho bài học Unit 13: The 22nd Sea Games tiết Language focus lớp12
Ban cơ bản” tại 2 lớp 12B1, 12B3 của trường THPT .... Trong quá trình nghiên
cứu tôi đã sử dụng các phương pháp như: điều tra, dạy thử nghiệm, so sánh, đối
chiếu, kiểm tra, đánh giá kết quả. Việc ứng dụng và thử nghiệm này đã mang lại
hiệu quả tích cực trong quá trình dạy học của bản thân và của đồng nghiệp trong
nhà trường.
Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài đề cập đến việc sử dụng
phần mềm Adobe Presenter10 thiết kế bài giảng E-Learning cho bài học Unit 13:
The 22nd Sea Games tiết Language focus lớp 12 Ban cơ bản đặc biệt đối với tiết
học ngữ pháp. Hoạt động này nhằm gây hứng thú, tạo tâm thế cho học sinh dễ
học dễ hiểu trong tiết ngữ pháp
2. Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu bài giảng E-Learning
- Sử dụng phần mềm Adobe Presenter 10 vào thiết kế bài giảng ELearning cho bài học Unit 13: The 22nd Sea Games tiết Language focus lớp 12
Ban cơ bản
IV. Mục đích nghiên cứu:
Làm nổi bật vai trò của bài giảng E-Learning trong việc đổi mới và nâng
cao chất lượng dạy và học trong trường phổ thông. Tìm hiểu thực trạng việc thiết
kế và sử dụng bài giảng E-Learning trong dạy và học tại trường THPT ...
huyện ... tỉnh Sơn La.
Nghiên cứu tổng quan về phần mềm Adobe Presenter 10, hướng dẫn sử
dụng phần mềm Adobe presenter 10 thiết kế bài giảng E-Learning cho bài học
Unit 13: The 22nd Sea Games tiết Language focus lớp 12 Ban cơ bản. Chia sẻ
công cụ hỗ trợ cho việc soạn giáo án E-Learning đó là dùng phần mềm Adobe
Presenter 10 tạo tập tài liệu để đồng nghiệp và học sinh tham khảo trong quá trình
dạy và học
Giúp học sinh bước đầu tiếp cận với với giáo án E- Learning, tiếp cận với
cách dạy và học trực tuyến
5


Nâng cao tính tự học, tự nghiên cứu của học sinh góp phần đổi mới
phương pháp dạy học

6


PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng của giải pháp đã biết:
Từ phân tích số liệu điều tra ý kiến của học sinh trong suốt quá trình giảng
dạy và qua các buổi dự giờ lên lớp của các đồng nghiệp, đặc biệt trong các tiết ôn
thi tốt nghiệp tôi thấy một số hiện trạng, các nhân tố, các điều kiện ảnh hưởng của
vấn đề đưa ra trong sáng kiến kinh nghiệm này như sau:
Về phía người học, đa số các em học sinh cho rằng tiết ngữ pháp là một
trong những tiết học khó tiếp thu kiến thức nhất mặc dù các em đã học qua 6 năm
tiếng Anh chương trình phổ thông (lớp 6,7,8,9,10 và 11). Trong phần học ngữ
pháp đa số các em không có hứng thú để học và làm bài tập. Vốn từ vựng và kiến
thức ngữ pháp hạn chế là trở ngại lớn nhất trong quá trình các em giải quyết các
dạng bài tập khác nhau. Hạn chế này khiến người học chán nản, không có động
lực để suy nghĩ tiếp.
Về phía người dạy, việc áp dụng phương pháp truyền thống vào giảng dạy
phần đọc nói chung và phần ngữ pháp nói riêng vẫn còn, điều này làm cho tình
trạng dạy và học chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Trong phần dạy ngữ
pháp, người dạy vẫn giữ nguyên yêu cầu trong sách giáo khoa, chủ yếu cho các
em ghi công thức trên bảng và làm theo ví dụ mẫu. Thực trạng này khiến phần
dạy ngữ pháp và làm bài tập trở nên khô khan và nhàm chán.
Nhìn chung, vẫn còn nhiều vấn đề trong việc làm sao để vừa truyền tải
được kiến thức cho học sinh vừa tạo được không khí học sôi nổi trong tiết học.
Do đó, để nâng cao chất lượng tiết ngữ pháp và bài tập nói chung thì việc đưa ra
những phương pháp nâng cao hiệu quả của phần này cần được tìm hiểu và ứng
dụng.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của giáo dục phổ
thông, hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá đã được quan
tâm tổ chức và thu được những kết quả bước đầu. Các Sở Giáo dục và Đào tạo đã
chỉ đạo các trường thực hiện các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học thông
qua tổ chức các hội thảo, các lớp bồi dưỡng, tập huấn về phương pháp dạy học,
đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường, cụm chuyên môn.
Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được, việc đổi mới phương pháp
dạy học, kiểm tra đánh giá ở trường phổ thông còn nhiều hạn chế. Hoạt động đổi
mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông chưa mạng lại hiệu quả
cao. Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp chủ đạo của nhiều giáo
viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các
phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh còn
chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng nề truyền thụ kiến thức lí thuyết. Việc rèn luyện kỹ
năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua
7


khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm. Việc ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được
thực hiện rộng rãi và hiệu quả.
Trên thực tế, vấn đề áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình đổi mới dạy
học không còn mới mẻ, trong đó có việc xây dựng bài giảng điện tử sử dụng MS
PowerPoint luôn là công cụ thông dụng và được ứng dụng rộng rãi. Tuy nhiên,
việc ứng dụng hình thức này dần sẽ được thay thế bằng hình thức mà trong đó
kiến thức được truyền tải đến người học với nhiều ưu điểm vượt trội, đó là bài
giảng E-Learning. Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông,
đào tạo trực tuyến ra đời như một cuộc cách mạng về dạy và học, tạo ra cơ hội
cho người học có thể tự học, nghiên cứu và trau dồi kiến thức. Trong cuốn The
Road Ahead, Bill Gates đã từng nói: “Công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi rất lớn
việc học của chúng ta. Những người công nhân sẽ có khả năng cập nhật các kỹ
thuật trong lĩnh vực của mình. Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham
gia các khóa học tốt nhất, được dạy bởi các giáo viên giỏi nhất”.
Ở Việt Nam hiện nay, E-learning là một khái niệm khá mới nhưng không hoàn
toàn xa lạ với học sinh, sinh viên và nhất là giới trí thức văn phòng. Phương thức
học trực tuyến đang dần trở thành sự lựa chọn tối ưu khi người học hiểu được
những tính ưu việt và tiện ích của mô hình đào tạo này so với phương thức học
truyền thống. Ngoài việc học sinh có thể chủ động lựa chọn những kiến thức phù
hợp với mình so với việc thụ động đến lớp, tham gia các khóa học trực tuyến giúp
người học có khả năng tự kiểm soát cao thông qua việc tự đặt cho mình lịch trình
phù hợp. Nội dung E-learning nhất quán, phù hợp với yêu cầu của người học; kết
quả hoàn thành chương trình đào tạo được tự động hóa và được thông báo chính
xác, khách quan. Ngày càng có nhiều người nhận thức được tính ưu việt của loại
hình đào tạo trực tuyến qua mạng internet. Tuy nhiên, do tâm lý đã quen thuộc
với loại hình đào tạo theo phương thức truyền thống, lại thêm hình thức đào tạo
trực tuyến vẫn còn sơ khai và mới mẻ, hiểu biết về phương pháp và kỹ năng tự
học của người học còn hạn chế. Do vậy nhiều người vẫn chưa thực sự tin tưởng
vào chất lượng đào tạo E-learning.
Trường THPT ... cũng như nhiều trường THPT trong toàn tỉnh đóng trên địa
bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, cơ
sở vật chất phục vụ giáo dục còn hạn chế, hạ tầng CNTT còn nghèo nàn và lạc
hậu chưa thực sự bắt kịp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Tuy nhiên không vì thế
mà việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động giáo dục của nhà
trường không được quan tâm đúng mức. Các thầy giáo, cô giáo vẫn tích cực sử
dụng CNTT vào soạn giảng giáo án, bài giảng điện tử. Đối với bài giảng Elearning mặc dù cơ sở hạ tầng CNTT nhà trường chưa cho phép học trực tuyến.
Nhưng các giáo viên vẫn có thể sử dụng bài giảng E-learning như một kênh tài
liệu để học sinh tham khảo, xem lại (off-line) hoặc dạy học 1 hoạt động, giao
nhiệm vụ học tập ở nhà….để kích thích việc tự học, tự đánh giá, ôn tập, củng cố,
hệ thống hoá kiến thức của các em học sinh.
8


Thực tế khảo sát tại trường THPT ... thông qua phiếu hỏi (Phụ lục 1, phụ lục
2) tôi thu được kết quả như sau:

- Về phía giáo viên
Số có sử dụng bài
Số giáo viên được
giảng điện tử
hỏi
trong giảng dạy
52

Số biết về thuật
ngữ E-learning

Số có thiết kế và
sử dụng bài
giảng E-learning
vào dạy học

45(86,5%)

6(11,5%)

52 (100%)

Từ kết quả điều tra cho thấy 100 % các giáo viên được hỏi điều có sử dụng
bài giảng điện tử trong việc giảng dạy. Tuy nhiên số biết về thuật ngữ E-Learning
là 86,5%, đặc biệt số có sử dụng bài giảng E-Learning trong dạy học chỉ chiếm
11,5%. Điều này cho thấy thực trạng việc thiết kế bài giảng E-learning hỗ trợ việc
dạy học của giáo viên là rất ít mặc dù tính đến năm 2017 thì Bộ giáo dục và Đào
tạo đã phát động Cuộc thi Thiết kế bài giảng E-Learning lần thứ 4 trên phạm vi
toàn quốc. Lí giải cho thực trạng này có rất nhiều lí do trong đó phải kể đến là:
Để soạn bài giảng E-Learning có chất lượng đòi hỏi tốn nhiều công sức của
giáo viên. Hiện tại chế độ hỗ trợ chưa phù hợp với công sức bỏ ra để soạn bài
giảng E-learning, vì vậy chưa khuyến khích đối với giáo viên.
Đời sống của giáo viên gặp nhiều khó khăn, áp lực thi cử, bệnh thành tích
trong giáo dục... dẫn đến việc giáo viên không có thời gian đầu tư cho ELearning.
Nhiều giáo viên giỏi về chuyên môn và khả năng sư phạm, nhưng kỹ năng
sử dụng công nghệ (ghi hình, thu âm, sử dụng phần mềm)còn hạn chế, nên chưa
hoặc gặp khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng bài giảng E-Learning.
Cơ sở vật chất, hạ tầng CNTT chưa thực sự đảm đảm, thiếu đồng bộ.

- Về phía học sinh
Số học sinh được
hỏi

Số học sinh sử dụng
Internet phục vụ việc
học tập

Số học sinh có tham gia
học các bài giảng Elearning

120

103(85,8%)

20(16,6%)

Từ kết quả trên cho thấy tỉ lệ học sinh có sử dụng Internet để phục vụ việc học
tập khá cao và hầu hết các em học sinh đều sử dụng điện thoại thông minh để kết
nối Internet. Tuy nhiên tỉ lệ các em học sinh có tham gia học các bài giảng Elearning còn thấp chỉ chiếm 16,6% học sinh được hỏi mặc dù các bài giảng E9


learning có thể phát trên các thiết bị điện thoại thông minh. Nguyên nhân của tình
trạng trên là do:
Học tập theo phương pháp E-Learning đòi hỏi người học phải có tinh thần tự
học, do ảnh hưởng cách học thụ động truyền thống, tâm lý học phải có thầy, nội
dung quá tải tại trường... dẫn đến việc tham gia học E-Learning chưa trở thành
động lực học tập.
Các em chưa được giới thiệu và tiếp xúc nhiều với bài giảng E-Learning nên
chưa biết cách khai thác bài giảng E-Learning phục vụ việc học tập.
Như vậy có thể thấy việc thiết kế và sử dụng bài giảng E-Learning phục vụ
việc dạy học của giáo viên còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ
quan trong đó có nguyên nhân: “Nhiều giáo viên giỏi về chuyên môn và khả năng
sư phạm, nhưng kỹ năng sử dụng công nghệ (ghi hình, thu âm, sử dụng phần
mềm)còn hạn chế, nên chưa hoặc gặp khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng bài
giảng E-Learning”. Nguyên nhân này hoàn toàn có thể khắc phục được nếu các
giáo viên này nắm được vai trò của bài giảng E-Learning trong việc đổi mới và
nâng cao chất lượng dạy và học trong trường phổ thông và được học tập cũng
như tập huấn thiết kế bài giảng E-learning để sử dụng trong dạy học.
Đối với các em học sinh, khi giáo viên thường xuyên thiết kế và sử dụng bài
giảng E-Learning trong dạy học các em sẽ được làm quen nhiều với bài giảng Elearning, các em học sinh sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng bài giảng Elearning không những đối với những bài giảng do chính thầy cô giáo trực tiếp
giảng dạy thiết kế mà còn sử dụng và tham khảo các bài giảng E-Learning trên
Internet phục vụ cho việc học tập, từ đó phát huy tính tích cực và chủ động của
học sinh trong học tập.
Mặt khác trong thời gian qua tôi đã tham gia cuộc thi “Thiết kế bài giảng ELearning” do Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức. Tôi nhận thấy những tính ưu việt
và tính ứng dụng thực tiễn cao trong tương lai khi nhà trường Phổ thông xây
dựng được các trang Website để đưa bài giảng E-Learning nhằm đáp ứng nhu cầu
của người học tại nhà. Vì vậy trong sáng kiến này, tôi muốn làm nổi bật vai trò
của bài giảng E-Learning trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học
trong trường phổ thông. Nghiên cứu tổng quan về phần mềm Adobe Presenter 10,
hướng dẫn sử dụng phần mềm Adobe Presenter 10 thiết kế bài giảng E-Learning
cho bài học Unit 13: The 22nd Sea Game tiết Language focus lớp12 Ban cơ bản
theo chuẩn quốc tế SCORM. Tạo tập tài liệu để đồng nghiệp và học sinh tham
khảo trong quá trình dạy và học cũng như nhằm góp phần xây dựng chương trình
học trực tuyến trong tương lai.
II. Nội dung sáng kiến
1. Bản chất của giải pháp mới
* Những yếu tố tích cực khi sử dụng bài giảng E-Learning

10


- Các hiện tượng tác động vào giác quan như film ảnh, âm thanh, đặc biệt là
hình ảnh giáo viên trực tiếp giảng qua video… đến người học thì cảm giác của
học sẽ được hình thành.
- Đảm bảo một người thiết kế có thể cho nhiều người sử dụng.
- Cung cấp cho người học tốc độ tiếp cận tri thức nhanh hơn với giá thành rẻ
hơn, công bằng với mọi người học.
- Lấy người học là trung tâm.
- Mang lại lợi ích thực tế, đào tạo hiệu quả…
* Khác biệt của E-Learning so với dạy học truyền thống:
- Giúp cho việc học ở mọi nơi, mọi lúc. Người học có thể tận dụng tối đa
các cơ hội học tập.
- Làm cho người học chủ động, tích cực hơn trong học tập, hỗ trợ việc học
thông qua phản hồi và thảo luận.
- Đạt được tính dễ dàng truy cập.
- Giúp người học có thể tự học mà không cần đến lớp, đến thầy dạy trực
tiếp.
- Tạo môi trường học tập mở cho người học (mở về: không gian, thời gian,
nội dung học).
- Thể hiện tính sáng tạo của giáo viên trong việc thiết kế, triển khai các nội
dung học tập.
* Các chức năng hỗ trợ hoạt động dạy và học của bài giảng E-learning
- Đối với hoạt động học của giáo viên
Bài giảng điện tử là một phương tiện đã hỗ trợ rất có hiệu quả trên nhiều mặt
trong hoạt động của dạy và học của giáo viên và học sinh. Sử dụng bài giảng điện
tử giáo viên đã được giải phóng khỏi hầu hết những công việc chân tay bình
thường. Từ việc ghi chép nội dung bài học lên bảng, trình bày các tranh ảnh, bảng
biểu, biểu đồ, hướng dẫn các thao tác thực hành, theo dõi và điều tiết tiến trình
thực hiện bài giảng, đến việc ghi nhớ các nội dung cần phải thuyết trình và giảng
giải, những công thức, những số liệu, những phép tính từ đơn giản đến phức tạp,
tóm tắt nội dung bài học… Ưu việt hơn nữa, với bài giảng E-Learning với nhiều
tính năng nổi trội và mở ra một phương pháp học tập hiện đại nhưng rất hiệu quả
trong tương lai, giáo viên có thể theo dõi học sinh dễ dàng. E-Learning cho phép
dữ liệu được tự động lưu lại trên máy chủ, thông tin này có thể được thay đổi về
phía người truy cập vào khóa học. Giáo viên có thể đánh giá các học sinh thông
qua cách trả lời các câu hỏi kiểm tra và thời gian trả lời những câu hỏi đó. Điều
này cũng giúp giáo viên đánh giá một cách công bằng học lực của mỗi học sinh.
- Đối với hoạt động học của học sinh:
11


Có thể nói rằng những gì mà bài giảng điện tử đã hỗ trợ cho hoạt động dạy
của giáo viên, thì cũng có nghĩa là nó đã hỗ trợ được cho hoạt động học của học
sinh. Điều này thật dễ hiểu vì các phương tiện dạy học giúp cho giáo viên nâng
cao hiệu quả của quá trình truyền thụ thì cũng chính nó sẽ có tác dụng làm dễ
dàng cho quá trình nhận thức của học sinh.
Hệ thống E - learning hỗ trợ học theo khả năng cá nhân, theo thời gian biểu tự
lập nên học viên có thể chọn phương pháp học thích hợp cho riêng mình. Học
viên có thể chủ động thay đổi tốc độ học cho phù hợp với bản thân, giảm căng
thẳng và tăng hiệu quả học tập. Bên cạnh đó, khả năng tương tác, trao đổi với
nhiều người khác cũng giúp việc học tập có hiệu quả hơn. Kích thích được hứng
thú, tạo được động cơ học tập, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc học, tăng
cường độ bền của trí nhớ, sự sâu sắc của tư duy…); hỗ trợ tốt cho việc tự học, tự
đánh giá, ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức (nhờ hệ thống các bài tập luyện
tập, kiểm tra, sự liên kết giữa các thư viện, giữa các tài liệu điện tử trực tiếp trên
Internet nói chung và trang website học trực tuyến nói riêng… Và với nhiều ưu
điểm mà hệ thống mang lại như đã nêu ở trên.
- Tại sao nên sử dụng phần mềm Adobe Presenter?
Có rất nhiều phần mềm có thể giúp giáo viên tạo bài giảng E-learning. Tuy
nhiên qua quá trình tìm hiểu và sử dụng phần mềm tạo bài giảng E-learning tôi
nhận thấy phần mềm Adobe Presenter rất tiện dụng. Phần mềm này như là một
add-in tích hợp với MS PowerPoint, một ứng dụng được hầu hết các giáo viên
nắm bắt và sử dụng trong các tiết dạy có ứng dụng CNTT. (Quá thuận lợi trong
việc sử dụng vì chỉ thêm phần ứng dụng Presenter nữa là hoàn thành tốt bài
giảng E-learning). Đáp ứng được các tiêu chí của Cục CNTT – Bộ GD&ĐT đặt
ra trong việc thiết kế bài giảng điện tử.
1.1 Các bước, qui trình thực hiện giải pháp
1.1.1 Thiết kế bài giảng E-learning với phần mềm Adobe Presenter 10
* Thiết đặt ban đầu
* Đặt tiêu đề cho màn hình
Nhấn vào nút lệnh

sẽ cho màn hình sau:

Dòng Appearance: Đặt tiêu đề cho bài giảng hiển thị trên giao diện trong
hộp Title

12


- Đặt title (Tiêu đề) cho bài giảng. Tiêu đề này xuất hiện trên giao diện và
Tab trình duyệt
* Đặt chế độ chạy khi xuất bản

Chọn sang thẻ Playback:
* Đính kèm tệp tin
Thẻ Attackment để đính kèm thêm tài liệu văn bản hoặc bảng tính bằng
nút lệnh. Khi này một hộp thoại sẽ xuất hiện cho phép người dùng lựa chọn tệp
tin từ bất cứ nguồn tài nguyên nào (trên máy, trên website khác).

13


Click vào đây để lựa chọn đối tượng
cần chèn thêm.
File: Tệp tin trên máy
Link: Tệp tin từ website khác

Sau khi lựa chọn thích hợp các chỉ mục trên thì có thể tìm hiểu thêm các
mục khác như thẻ Quality để hiệu chỉnh chất lượng cho âm thanh và phim ảnh
(hoặc là để chế độ mặc định)
* Khai báo thông tin giáo viên
Vào menu Adobe Presenter chọn thẻ Presenter chọn Add. Khi đó màn
hình sau xuất hiện, chúng ta tiến hành điền các thông tin như hướng dẫn bên
dưới.

Ví dụ:

14


*Chọn giao diện cho bài giảng khi xuất bản
Chọn Themes (giao diện) phù hợp bằng cách điều chỉnh lại màu sắc trong
khu vực Appearance

Trong đó:
- Theme: Chọn lại màu cho giao diện
- Glow: Chọn màu cho hộp lựa chọn khi chọn một dòng nào đó trên
theme
- Font: Màu của chữ hiển thị trên giao diện
- Background: Màu của nền, có thể dùng một hình ảnh nào đó
trong máy tính của mình bằng cách chọn Background Image.
Mục Modify Text Labels: Chỉnh sửa lại các tiêu đề hiển thị trên giao
diện (có thể gõ tiếng Việt theo ý muốn)
Mục Show Slidebar: Chọn Left/Right để cho phép hiển thị cột thông
15


tin bên trái hoặc phải của bài giảng.
1.1.2 Âm thanh và video
* Ghi âm thuyết minh
Từ menu của Adobe Presenter, click chọn các mục Audio với 4 công việc như
sau
- Chèn tệp âm thanh đã có sẵn
- Ghi âm
trực tiếp

- Đồng bộ âm thanh với hoạt
động trên slide
- Biên tập

- Nguyên lý liên quan đến âm thanh và hình ảnh:
+ Âm thanh và hình ảnh đều gắn bó tới từng slide một.
+ Có thể ghi âm, ghi hình trực tiếp (Record), nhưng cũng có thể chèn vào
từ một file đã có (Import).
+ Ưu điểm chính của âm thanh trong Adobe Presenter là đồng bộ âm thanh
với các hoạt động của slide và biên tập âm thanh.
- Các bước tiến hành:
Bước 1: Tạo nội dung cần thuyết minh: Phần hiển thị trên slide và phần
kịch bản thuyết minh
Bước 2: Ghi âm: trực tiếp (Record) và gián tiếp (Import) , Bước 3: Chỉnh
sửa âm thanh thuyết minh (Edit)
Bước 4: Tạo hiệu ứng cho nội dung thuyết minh
Bước 5: Đồng bộ âm thanh và hiệu ứng (sync)
Chú ý: Âm thanh chèn vào bằng chức năng Import Audio phải chuyển sang định
dạng mp3, wav. File âm thanh chèn sau sẽ ghi đè vào file âm thanh trước đó.
* Ghi hình giáo viên
Bạn có thể ghi hình video giáo viên giảng bài vào mỗi slide. Hãy dùng
webcam, máy quay để ghi video.
- Chèn và chỉnh sửa
video có sẵn
- Ghi hình
trực tiếp
- Các bước tiến hành:
16


+ Bước 1: Ghi hình trực tiếp (Record video) hoặc gián tiếp (Import). Chú ý: định
dạng phim đưa vào là: *.FLV; *.mp4 (nên để định dạng FLV)
+ Bước 2: Chỉnh sửa phim (Edit videos): Cắt bỏ phần thừa, chọn hiệu ứng,
đặt chế độ chạy phim.
1.1.3. Bài tập tương tác
Đây là một ưu điểm rất mạnh của Adobe Presenter. Giáo viên cần khai thác
để thể hiện trình độ sư phạm cao khi xây dựng bài giảng E-Learning. Adobe
Presenter giúp giáo viên thiết kế hệ thống câu hỏi tương tác thông minh, xử lý
theo tình huống, có nhiều loại, nhiều dạng câu hỏi khác nhau.
* Tổ chức các gói câu hỏi trong bài giảng
Cho phép kiểm tra nhiều lần trong một bài giảng, ví dụ: kiểm tra bài cũ,
củng cố kiến thức trước khi kết thúc bài,.. Mỗi lần kiểm tra như vậy gọi là một
Quiz.
Mỗi Quiz có thể có nhiều câu hỏi (Question), mỗi câu hỏi có thể cho một
điểm số (Score)
Khi đó mỗi Quize sẽ có một thang điểm tối đa – Total points ( = tổng
điểm của các câu hỏi trong Quiz)
Cho phép đánh giá chất lượng sau mỗi Quiz kiểm tra (ví dụ: được bao
nhiêu điểm thì đạt (Passing score), bao nhiêu điểm thì chưa đạt).
* Các bước tạo gói bài tập
Bước 1: Xác định vị trí sẽ tạo gói trắc nghiệm (chọn một slide ở vị trí thứ n
trong bài giảng mà bài tập sẽ xuất hiện ngay sau nó)
Bước 2: Tiến hành tạo gói trắc nghiệm (Quiz) (Ví dụ như: Kiểm tra bài cũ,
Tình huống, Trò chơi, Củng cố…)
Bước 3: Việt hóa các thông báo dành riêng cho gói vừa tạo, cài đặt thông
số cho phép học sinh hoàn thành thành gói
* Gói bài tập (Quiz) và các dạng bài tập
Từ menu của Adobe Presenter, nháy chọn mục Manager trong thẻ Quiz.

- Nháy chọn mục Add Quiz để thêm
gói câu hỏi và xử lý cách làm bài của
người học

Cho phép làm lại
Cho phép xem lại câu hỏi
Bao gồm slide hướng dẫn
Hiện thị kết quả khi làm xong

17

Hiện thị câu hỏi trong outline (danh
mục, mục lục)
Trộn câu hỏi
Trộn câu trả lời


Có thể tạo nhiều gói (Quiz) khác nhau để xử lý cách làm bài khác nhau của
người học, đồng thời cấu trúc bài giảng được rõ ràng hơn.
- Nháy chọn mục Add Question để thêm câu hỏi trắc nghiệm với nhiều loại khác
nhau

Câu hỏi lựa chọn
Câu hỏi đúng/sai
Điền vào chỗ khuyết
Trả lời ngắn với ý kiến của mình.
Sắp xếp thứ tự
Xác định vị trí
Kéo thả

- Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple choice)
Là loại câu hỏi có nhiều lựa chọn để trả lời, trong đó có thể chỉ có một lựa
chọn được chọn là câu trả lời chính xác hoặc cũng có thể có nhiều lựa chọn chính
xác.
18


Adobe Presenter cung cấp chức năng tương tác ngược lại với người học
thông qua thẻ Option. Một chức năng vô cùng độc đáo tạo ra sức mạnh đặc trưng
cho bài giảng điện tử. Giáo viên cần khai thác triệt để chức năng này.

Để thể hiện tốt tính tương tác thì ngay mỗi lựa chọn trả lời, cần bổ sung
những thông tin phản hồi tương ứng. Giúp người học nhận ra họ trả lời đúng là vì
sao? Trả lời sai cũng vì sao thông qua nút lệnh
cho từng câu trả lời.

- Câu hỏi dạng đúng – sai (True – False)
Là loại câu hỏi đưa ra sự giải quyết nhanh chóng, hoặc đúng hoặc sai. Người
học cần cân nhắc để có thể thực hiện chọn một trong hai đáp án.

19


- Câu hỏi dạng điền khuyết (Fill – in – the - blank)
Là loại câu hỏi mang nội dung điền vào chỗ trống. Người học sẽ hoàn
thành bài tập này thông qua vấn đề điền được các nội dung thích hợp vào ô lựa
chọn do người soạn câu hỏi đặt ra

20


Sau khi lựa chọn xong một từ (cụm từ), một hộp thoại sau hiện ra, hãy điều
chỉnh để đạt kết quả tốt nhất.

- Câu hỏi có trả lời ngắn với ý kiến của mình (Short answer)
Là loại câu hỏi mà người học có thể trả lời với ý kiến của mình. Trong đó
người soạn câu hỏi có thể tạo ra những câu trả lời có thể chấp nhận.

- Câu hỏi dạng ghép đôi (Matching)
Là loại câu hỏi có sự ghép giữa hai nhóm đối tượng để cho ra kết quả
đúng nhất. Người học sẽ ghép những yếu tố ở cột 1 với cột 2 để cho ra kết quả.

- Loại câu hỏi điều tra, thăm dò, đánh giá mức độ tiếp thu ( Rating Scale)
Là loại câu hỏi thăm dò ý kiến của người học. Không có câu trả lời nào là sai
trong này. Người học đưa ra các quan điểm của mình trong từng nội dung mà
người soạn thảo câu hỏi đưa ra.
21


- Câu hỏi sắp xếp thứ tự (Sequence)
Tại ô Name, nhập tên câu hỏi.
Tại ô Question, nhập câu hỏi và lời hướng dẫn. Tại ô Score nhập điểm số cho
câu hỏi này
Click nút lệnh Add, Sau đó lần lượt nhập các đối tượng cần sắp xếp theo đúng
thứ tự đáp án.

- Câu hỏi xác định vị trí (Hot spot)
Name: Tên câu hỏi.
Question: Nội dung, yêu cầu cần hỏi.
Hot Spots: số khu vực sẽ cho phép click chuột vào đó Answers: đánh dấu
khu vực nào được cho là đúng.
Allow clicks on Hot Spots Only: nếu chọn thì chỉ đánh dấu khu vực của
Hot Spots còn ngược lại thì có thể đánh dấu bất kì chỗ nào.

22


Sau khi nhấn OK, ra ngoài Microsoft PowerPoint để trình bày như:
Đặt các bức tranh làm đối tượng lựa chọn
Đặt lại đối tượng Hot Spots (khung hình chữ nhật) vào vị trí các bức tranh
cho đúng (có thể bỏ nền, viền của khung hình này)
- Câu hỏi dạng kéo thả ( Drag Drop)
Drag Item: Đối tượng được kéo thả bao gồm cả hình ảnh và chữ.
Mục Drop Target: Đối tượng cố định để thả vào.
Background Imager: Tạo ảnh nền cho trò chơi bằng cách chọn một bức ảnh có
độ phân giải không vượt quá 1280x1024px.
Return to start if dropped outside: nếu chọn thì khi kéo sai, đối tượng kéo sẽ tự
động trở về vị trí ban đầu.
Reveal one at a time: Nếu chọn thì các đối tượng kéo sẽ hiện ra lần lượt.
Snap drag to drop target: Chọn cách bắt đối tượng kéo vào đối tượng thả và căn
chỉnh: Center (giữa), Tiled (xếp lên đầu), disappear (đè lên và ẩn đi)
Chọn >> để chuyển sang cửa sổ bố trí, sắp xếp các đối tượng

*Cài đặt hiển thị và thống kê
- Cài đặt hiển thị
23


- Cài đặt thống kê:

* Xuất bài giảng E-leaning
Trong menu Adobe Presenter, chọn Publish. Khi này một bảng sau hiện ra
cho các chọn lựa:
My Computer: Lưu trên máy tính
Location: đường dẫn đến thư mục chứa kết quả xuất bản. Nếu để mặc định
thì thư mục sẽ là My Document\MyAdobe Presentation\
Pulish Format: SWF: bài giảng mở trên các trình duyệt web có hỗ trợ
Flash Player; HTML5: hỗ trợ mở bài giảng trên các thiết bị cầm tay như mobile,
ipad,…; Both: là bao gồm cả hai: SWF và HTML5
Có thể nén nội dung bài giảng lại dưới dạng tập tin nén (mặc định *.zip)
hoặc đóng gói sản phẩm lên đĩa CD. Sau khi bấm nút Publish, máy xử lý và
thông báo khi hoàn thành.

24


Ngoài ra còn một số tính năng như việt hóa các thông báo, chèn các đối
tượng tương tác trực tiếp nhưng do giới hạn của sáng kiến tôi không trình bày ở
đây các bạn có thể trực tiếp thực hiện để khám phá.
1.1.4. Sử dụng phần mềm Adobe Presenter 10 thiết kế bài giảng
E - Learning cho bài học Unit 13: The 22nd Sea Games tiết Language focus
lớp 12 Ban cơ bản.
1.1.4.1. Cấu trúc bài giảng E-Learning
Với bài giảng E-learning thường có cấu trúc 3 phần:
- Phần mở đầu (Trang bìa): Trình bày tên bài học, tên tác giả, thông báo
bản quyền nếu cần thiết
- Phần nội dung (Các trang nội dung): Trình bày theo kế hoạch bài giảng.
- Phần cuối: Thông tin về tài liệu tham khảo
1.1.4. 2. Các bước thiết kế bài giảng E-learning
Thông thường để thuận lợi trong quá trình thiết kế bài giảng E-Learning, ta
nên thiết kế theo trình tự các bước sau:
- Bước 1: Thiết kế bài giảng trên Microsoft PowerPoint: Dùng phần mềm
Microsoft PowerPoint soạn bài giảng như bình thường chúng ta vẫn sử dụng để
thiết kế bài giảng điện tử.
Lưu ý: Chỉ nên thiết kế với kênh chữ và kênh hình ảnh, còn đối với kênh âm
thanh (audio) và phim (video) ta nên sử dụng phần mềm Adobe Presenter để đưa
vào bài giảng sau. (Phần mềm Adobe Presenter sau khi cài đặt thành công sẽ có
trong menu của Microsoft PowerPoint)
Một số hình ảnh thiết kế trên Microsoft PowerPoint:

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×