Tải bản đầy đủ

Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và tăng trưởng kinh tế ở new zealand

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
---------***--------

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 2

MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT
MỤC TIÊU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở NEW ZEALAND

Nhóm: 2
Lớp: KTE402.1
Khóa: 56
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hồng

Hà Nội, tháng 3 năm 2019
0


MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC 1

TIÊU ……………………………………………………………………………………...
1.1 Khái niệm…………………………………………………………………………….
1
1.2 Lý do áp dụng………………………………………………………………………...
1
1.3 Điều kiện áp dụng……………………………………………………………………
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU Ở 1
NEW ZEALAND………………………………………………………………………… 2
2.1 Giới
thiệu
chính
sách
LPMT

New
Zealand……………………………………….
2
2.1.1Bối
cảnh
ra
2
đời…………………………………………………………………………...
3
2.1.2 Các giai đoạn áp dụng chính sách……………………………………………………
4
2.2 Đánh giá tác động của chính sách lạm phát mục tiêu đến tăng trưởng kinh tế ở
New Zealand…………………………………………………………………………
2.2.1Các biến và nguồn số liệu sử dụng trong mô hình nghiên cứu……………………
4
2.2.2Mô hình ước lượng………………………………………………………………………
5
2.2.3Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………….
5
2.2.4Kết quả nghiên cứu………………………………………………………………………
5
CHƯƠNG 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM…………………………….
3.1 Khả năng áp dụng chính sách LPMT ở Việt Nam………………………………….
8
3.1.1Mức độ độc lập của Ngân hàng Trung ương Việt Nam……………………………..
8
3.1.2Cơ sở hạ tầng kỹ thuật…………………………………………………………………..
8
3.1.3Độ lành mạnh của hệ thống tài chính…………………………………………………
3.1.4Cấu trúc kinh tế…………………………………………………………………………..
8
3.2 Giải pháp thực hiện chính sách LPMT ở Việt Nam………………………………..
8
3.2.1Nâng cao tính độc lập của NHNN……………………………………………………..
9
3.2.2Cải thiện cơ sở hạ tầng kĩ thuật………………………………………………………..
3.2.3Nâng
cao
độ
lành
mạnh
của
cấu
trúc
kinh
9
tế………………………………………...
9
3.2.4Xây dựng lộ trình hợp lý trước và sau khi thực hiện chính
9
sách………………......
10
10

1


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LPMT
TTKT
CSTK
CSTT

Lạm phát mục tiêu
Tăng trưởng kinh tế
Chính sách tài khóa
Chính sách tiền tệ

NHTW
NHNN
NHDT
NSNN

Ngân hàng trung ương
Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng dự trữ
Ngân sách nhà nước

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ lạm phát tại New Zealand giai đoạn 1978-1989................................3
Bảng 2.1 Mô tả các biến số.............................................................................................5
Bảng 2.2 Thông kê mô tả dữ liệu....................................................................................5
Bảng 2.3 Mối quan hệ tương quan giữa các biến...........................................................6
Bảng 2.4 Kết quả hồi quy mô hình.................................................................................6
Bảng 2.5 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình.......................................7
Hình 3.1 Dự toán ngân sách nhà nước năm 2018...........................................................9

2


LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua, lạm phát cao luôn là mối đe dọa cho sự phát triển lâu dài và bền
vững cho nền kinh tế của một quốc gia.Lạm phát cao có thể dẫn đến suy thoái kinh tế, ảnh
hưởng mọi mặt đời sống xã hội.Vì vậy, mỗi quốc gia đều tìm cho mình chính sách riêng để
kiểm soát mức độ lạm phát, đảm bảo sức mạnh của đồng tiền quốc gia.Tuy nhiên, cũng có
những quốc gia đã và đang phải trải qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế, mà một trong những
nguyên nhân quan trọng đó là lạm phát cao, lạm phát đạt đến 2-3 con số. Do đó, ngay từ
những năm 1990, đã có những quốc gia đề ra chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu để kiểm
soát mức độ lạm phát, một trong số nước đầu tiên áp dụng chính sách này là New Zealand.
Chính sách này cho phép chính phủ đặt ra mức lạm phát mục tiêu trong tương lai, nhờ đó
người dân có cơ sở để đặt niềm tin cho một nền kinh tế khỏe mạnh.Thực tế là New Zealand
đã khá thành công khi áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu một cách khoa học và có tính
toán.
Áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu là một trong những bước đi thông minh giúp đất
nước thoát khỏi tình trạng lạm phát cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, có phải
quốc gia nào cũng có thể áp dụng chính sách này hay không thì chúng ta phải xem xét kĩ đến
các điều kiện cần và đủ để thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu. Vì vậy, trong bài tiểu luận
“ Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và tăng trưởng kinh tế ở New Zealand” này, chúng ta
sẽ phân tích tại sao New Zealand có thể thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu thành công
như vậy, và tác động của chính sách lên tăng trưởng kinh tế như thế nào; đồng thời đưa ra
phân tích mối liên hệ, giải pháp khi thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam
tương ứng với 3 chương trong bài tiểu luận dưới đây:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về chính sách lạm phát mục tiêu.
Chương 2: Thực trạng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu ở New Zealand.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

3


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT
MỤC TIÊU
1.1 Khái niệm
Chính sách lạm phát mục tiêu (LPMT) đã được nêu ra cách đây hơn 30 năm và chính thức
được áp dụng lần đầu tiên ở New Zealand vào tháng 4 năm 1990. Tuy nhiên, bàn về LPMT, có
rất nhiều các học giả đưa ra những định nghĩa khác nhau. Trong đó, có lẽ đầy đủ và cụ thể nhất là
khái niệm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) – khi họ đưa ra “Chính sách tiền tệ LPMT là một bản
thông báo đưa ra công chúng về chỉ tiêu trung hạn của lạm phát cũng như uy tín của cơ quan
thẩm quyền về tiền tệ để đạt mục tiêu này”. Như vậy, LPMT có thể được miêu tả như một cơ chế
điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) dựa trên nền tảng việc dự báo chỉ số lạm phát làm mục tiêu
trung gian.Trong giới hạn của mình, ngân hàng trung ương (NHTW) linh hoạt lựa chọn và sử
dụng bất kì các công cụ để đạt một mục tiêu duy nhất - lạm phát mục tiêu.
1.2 Lý do áp dụng
Thực tế cho thấy rằng việc mau chóng đạt được vài mục tiêu (như giảm thất nghiệp, tăng
trưởng kinh tế…) với sự trợ giúp của các CSTT mở rộng sẽ không tránh khỏi lạm phát gia
tăng.Điều này dẫn đến xung đột nguyên tắc ổn định giá cả - yếu tố tiên quyết thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế (TTKT).Để trả lời cho sự xung đột này, đối với các quốc gia kế hoạch hóa lạm
phát, LPMT là yếu tố củng cố quá trình phát triển cũng như ổn định tỉ lệ lạm phát.
Thứ nhất, LPMT xác lập nên khuôn khổ CSTT minh bạch công khai trước công chúng với
sự đảm bảo bằng trách nhiệm và uy tín của NHTW.Để làm được điều này, xã hội cần một dự báo
duy nhất, nhờ đó dư luận thấy được sự mong muốn thực hiện CSTT này của NHTW.
Thứ hai, LPMT tạo cho NHTW một sự tự do và linh hoạt nhất định trong điều hành CSTT.
Điều này buộc NHTW tập trung hơn, khi mà họ có thể tự đưa ra quyết định đối với CSTT.
Thứ ba, LPMT duy trì tính độc lập tương đối của NHTW khiến họ bảo vệ nền kinh tế tốt
hơn trước các cú sốc trong và ngoài nước.
Thứ tư, việc hướng vào một mục tiêu duy nhất là lạm phát tạo nên tiền đề cho sự phát triển
ổn định lâu dài các biến số vĩ mô khác như việc làm, tăng trưởng…
Tất cả yếu tố trên là điều mà những quốc gia đang chịu ảnh hưởng cú sốc khủng hoảng tài
chính – tiền tệ hay các quốc gia có kỳ vọng về một CSTT hiệu quả hơn cần.
1.3 Điều kiện áp dụng
Tuy nhiều ưu điểm đáng chú trọng như vậy nhưng để áp dụng chính sách LPMT một cách
thành công đòi hỏi 4 yếu tố: tính độc lập, tính kỹ thuật, tính lành mạnh và tính phù hợp.
- Tính độc lập: Trước hết, đó phải là là quốc gia có bộ máy NHTW độc lập tương đối với
Chính phủ. Điều này thể hiện ở việc NHTW tự quyết định lựa chọn CSTT để hoạch định, thực
thi và tự chủ động trong điều tiết cung tiền.Bên cạnh đó, chính sách tài khóa (CSTK) không
được chi phối lên CSTT. Cuối cùng, việc bổ nhiệm hay miễn nhiệm bất kì chức vụ nào trong
NHTW kể cả Thống đốc ngân hàng Chính phủ cũng không được can thiệp.

1


- Tính kỹ thuật ở đây được thể hiện bởi hệ thống cơ sở dữ liệu và năng lực dự báo. Hệ thống
cơ sở dữ liệu bao gồm tất cả các biến số vĩ mô trong đó có chỉ số lạm phát qua các thời kì từ quá
khứ. Mọi số liệu cần được cập nhật liên tục và chính xác bởi nó là cơ sở dự báo trực tiếp đến chỉ
số LPMT. Bên cạnh đó, để dự báo một cách chính xác và có căn cứ cần dựa vào các công cụ
kinh tế lượng xử lý dữ liệu và một nguồn nhân lực chất lượng có khả năng phân tích, nhìn nhận
một cách định tính để đưa ra quyết định cuối cùng.
- Tính lành mạnh thể hiện ở hệ thống tài chính vững vàng, kỉ cương rõ ràng và cạnh tranh
lành mạnh. Hệ thống tài chính đòi hỏi không chỉ một thị trường tiền tệ hoạt động hiệu quả mà
còn cần một thị trường vốn an toàn.
- Tính phù hợp ở đây đề cập đến một nền kinh tế đã chuẩn bị sẵn sàng mọi ưu tiên trên hết
cho chính sách LPMT. Điều đó đồng nghĩa với những biến số vĩ mô khác không thể cố định an
toàn mà phải linh động theo. Ví dụ như quốc gia đó phải thả nổi tỷ giá hối đoái hoàn toàn hoặc
trong một mức biên độ; hay chính sách mở cửa nền kinh tế cũng phải được kiểm soát. Khi quốc
gia mở cửa nền kinh tế, chính sách thương mại càng ngày sẽ càng theo hướng tự do hóa, điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả trong nước, từ đó không thể kiểm soát được mức lạm phát.
Tuy nhiên để đáp ứng được tất cả các điều kiện này cùng một lúc là rất khó khăn. Thực tế
nhìn vào các nước đã áp dụng chính sách này ta có thể nhận ra rằng: LPMT không yêu cầu tất cả
các điều kiện trên cùng một lúc, vì vậy NHTW cần kết hợp với Chính phủ đưa ra lộ trình theo
đuổi từng điều kiện một và điều quan trọng là các quốc gia phải bền bỉ theo đuổi chính sách
LPMT này đến cùng – đây mới là yếu tố then chốt cho sự thành công của một chính sách.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC
TIÊU Ở NEW ZEALAND
2.1 Giới thiệu chính sách lạm phát mục tiêu ở New Zealand
2.1.1 Bối cảnh ra đờí
Vào những năm 1960-1970, do chi phí cho chiến tranh Việt Nam, cũng như 2
cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973 và 1979, đã làm cho kinh tế Mỹ và các nước phương Tây,
trong đó có New Zealand tăng trưởng chậm hơn bất kì giai đoạn hậu chiến nào trước đó,
cùng với tỷ lệ lạm phát rất cao. Tỷ lệ lạm phát ở New Zealand tăng từ 2,8% (1966) lên đến
16,9% (1976) và 17,2% (1980). Trong suốt 17 năm từ 1971 đến 1988, chỉ có 4 năm lạm phát
dưới mức 10%, và có đến 5 năm lạm phát vượt mức 15%.

2


Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ lạm phát tại New Zealand giai đoạn 1978-1989(Đơn vị: %)
20
18
16
14
12
10
8
6
4
2
0
1978 1979 1980 1981 1982 1983 1984 1985 1986 1987 1988 1989

Để đối đầu với lạm phát mà không phải đánh đổi quá lớn với tỷ lệ thất nghiệp,
chính phủ New Zealand đã dùng đến những biện pháp mạnh tay trong đó có việc “đóng
băng” giá cả và lương (a price and wage freeze) từ năm 1982 đến năm 1984. Bên cạnh đó,
chiến lược “Big Think” ra đời, thực hiện đầu tư trên diện rộng vào ngành công nghiệp năng
lượng, với mong muốn giảm gánh nặng chi phí nhập khẩu nhiên liệu và cân bằng cán cân
thanh toán. Tuy nhiên chiến lược này thất bại do giá dầu giảm trong những năm 80 và thiếu
kinh phí. Những sai lầm trong chính sách đã khiến tình hình nền kinh tế New Zealand không
mấy cải thiện.
Năm 1984, chính phủ mới do Đảng Lao động lên nắm quyền sau cuộc bầu cử
giữa 1984. Chính phủ này đã thực hiện một cuộc cải cách sâu rộng nền kinh tế (điều này sẽ
được đề cập rõ hơn ở phần sau).Đó cũng chính là tiền đề để New Zealand chính thức đưa vào
thực hiện chính sách LPMT với Đạo luật Ngân hàng Dự trữ (Reserve Bank Act 1989).New
Zealand trở thành nước đầu tiên chính thức sử dụng công cụ LPMT để kiềm chế lạm phát.
2.1.2 Các giai đoạn thực hiện chính sách
Ngày nay, đa phần các quốc gia phát triển đều có tỷ lệ lạm phát thấp tương đối, thậm chí
nhiều quốc gia còn có chính sách LPMT khá tương đồng và coi đó là điều không thể
thiếu.Tuy nhiên, cách đây 10 – 15 năm, tỷ lệ lạm phát cao và thay đổi thất thường là điều
không hề xa lạ.New Zealand là quốc gia đi tiên phong trong việc thực hiện chính sách LPMT,
đưa lạm phát về mức thấp và ổn định giá cả.Nhưng nó đã phải trải qua cả một quá trình
chuẩn bị và thay đổi dần dần, phát triển từng bước mới có thể thành công.
2.1.2.1 Giai đoạn 1 (1984-1990)
Ngay sau cuộc cải cách năm 1984, lạm phát được dự báo sẽ tăng mạnh nên New
Zealand đã bắt đầu lên kế hoạch giảm lạm phát một cách bền vững. Tại thời điểm này, New
Zealand chưa có một chính sách LPMT rõ ràng nhưng đã từng bước xây dựng các điều kiện
để thiết lập một chính sách LPMT hoàn chỉnh: Giữa năm 1984, bắt đầu thực hiện thả nổi tỷ
giá hối đoái; năm 1986, Ngân hàng Dự trữ New Zealand được quyền chỉ tập trung vào mục
tiêu mong đợi mà không phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ hậu quả cụ thể nào; năm 1987 –
1988, luật mới bắt đầu được hình thành nhằm cải cách cơ cấu quản trị CSTT…
3


Với những cố gắng bước đầu, đầu năm 1988, tỷ lệ lạm phát của nước này đã giảm đáng
kể, cụ thể giảm 9.3% từ 17.5% năm 1987 xuống còn 6.2% năm 1988, theo World Bank.
Đồng thời, vào tháng 6/1988, Ngân hàng đã tự tin mô tả công khai mục tiêu “ổn định giá cả
và đầu những năm 1990” với mức lạm phát trong khoảng 0-2%. Từ đây, tỷ lệ lạm phát của
New Zealand bắt đầu giảm dần và đi vào ổn định.
2.1.2.2 Giai đoạn 2 (1990 – nay)
Kể từ đầu năm 1990, New Zealand chính thức định hình chính sách LPMT của mình với
hai điểm đáng chú ý nhất là Thỏa ước Mục tiêu Chính sách (Policy Targets Agreement –
PTA) và Báo cáo Chính sách Tiền tệ định kỳ 6 tháng mới (Moneytary Policy Statements).
Trong đó, PTA bao gồm các mục tiêu được thỏa thuận bởi Bộ tài chính và Chính phủ, còn
Báo cáo CSTT định kỳ cho phép theo dõi những thay đổi tạm thời trong tỷ lệ LPMT. Vào
tháng 4/1990, trên Báo cáo CSTT số thứ nhất, bản theo dõi tạm thời đã được công bố dựa
trên những dự báo lúc bấy giờ của Ngân hàng (0-2% trước năm 1992).
Ngoài việc công bố mức LPMT, còn một vấn đề khó khăn hơn mà chính sách LPMT cần
giải quyết lúc bấy giờ đó là: xử lý các “cú sốc” và áp lực giá phi thị trường. Bởi lẽ, có nhiều
sự kiện có thể xảy ra và ảnh hưởng đến việc giữ mức lạm phát trong khoảng 0-2%. Để giải
quyết vấn đề này, trong PTA lần đầu tiên được ký vào tháng 3/1990, NHDT New Zealand đã
phải đồng ý sẽ xem xét điều chỉnh PTA trong trường hợp có “cú sốc” xảy ra và cho phép tăng
CPI lên thêm 0.5%.
Kết quả đạt được là từ năm 1990 – 1999, tỷ lệ lạm phát thực tế của New Zealand ổn
định trong khoảng LPMT 0 – 2% (thấp nhất là 0.76% năm 1999, cao nhất là 1.866% năm
1995). Trong khoảng từ năm 2000 – 2017, mặc dù không nằm trong khung LPMT (0 – 2%
đến năm 2006) nhưng tỷ lệ lạm phát của nước này vẫn duy trì khá ổn định, trung bình
2.5%/năm, không có năm nào vượt quá 5%.
2.2 Đánh giá tác động của chính sách lạm phát mục tiêu đến tăng trưởng kinh tế ở
New Zealand
2.2.1 Các biến và nguồn số liệu sử dụng trong mô hình nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ nghiên cứu tác động của chính sách LPMT
đến TTKT ở New Zealand trong giai đoạn 1978-2017. Các biến phụ thuộc và biến độc lập
được lựa chọn dựa trên nghiên cứu “Tác động của chính sách lạm phát mục tiêu đến tăng
trưởng kinh tế Chile và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” (2019) của các tác giả Nguyễn
Thị Hồng, Nguyễn Huy Công và Trần Quang Thanh. Các biến được thể hiện trong bảng sau
đây:

4


Bảng 2.1. Mô tả các biến số
Tên biến
Tăng trưởng kinh tế
Lạm phát muc tiêu
Tỷ lệ lạm phát thực tế
Tỷ lệ thất nghiệp
Lãi suất thực tế

Loại biến
Phụ thuộc
Độc lập
Độc lập
Độc lập
Độc lập

Ký hiệu
Log(GDP)
IT
IR
U
R

Đơn vị
%
%
%
%
%

Nguồn số liệu
OECD
NHDT New Zealand
OECD
OECD
OECD
Nguồn: Nhóm tự tổng hợp
Biến LPMT được xác định bằng phương pháp đặt biến giả, LPMT nhận giá trị 0 trong
giai đoạn trước khi New Zealand áp dụng chính sách LPMT (1978-1989) và nhận giá trị 1
trong giai đoạn áp dụng chính sách LPMT (1990-2017). Các biến tỷ lệ lạm phát thực tế, lãi
suất thực tế, tỷ lệ thất nghiệp là các biến định lượng thu thập theo từng năm từ 1978 đến
2017.
2.2.2 Mô hình ước lượng
Dựa trên nghiên cứu tương tự đã đề cập ở trên về Chile, mô hình kinh tế lượng được sử
dụng có dạng:
Log(GDP)t = β0 + β1ITt + β2IRt + β3Ut + β4Rt + εt
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi thực hiện hồi quy tham số của mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ
nhất (OLS) để xác định chiều tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc và giá trị của
các hệ số hồi quy.
2.3.4 Kết quả nghiên cứu
Sử dụng phần mềm kinh tế lượng GRETL, kết quả nghiên cứu được trình bày dưới đây:
 Bảng thống kê kết quả mô tả:
Dưới đây là thống kê chi tiết về số liệu được thu thập theo năm từ 1978-2017.
Bảng 2.2. Thống kê mô tả dữ liệu
Tên biến

Số

quan Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

8,8877

10,610

sát
Log(GDP
)
IT
IR
U
R

40

9,8611

40
40
40
40

0,7
5,125
5,5835
3,71

0,47737

0,4641
0
1
5,2557
-0,1
17,2
2,0661
1,66
10,65
2,756
-2,39
8,46
Nguồn: Tổng hợp phân tích trên Gretl
Trước khi tiến hành hồi quy mô hình, các biến được kiếm tra mối quan hệ tương quan
với nhau để xác định độ tin cậy của các biến.

Bảng 2.3. Mối quan hệ tương quan giữa các biến
5


Log(GDP)
1,00
-0,7603
-0,1460
-0,1319

Log(GDP)
IR
U
R

IR

U

R

1,00
-0,5669
-0,2157

1,00
0,5155
1,00
Nguồn: Tổng hợp phân tích trên Gretl
Dựa vào bảng này có thể dự đoán được chiều ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến

phụ thuộc. Các biến tỷ lệ lạm phát thực tế, lãi suất thực tế và tỷ lệ thất nghiệp tác động
ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế ở New Zealand.
 Kết quả ước lượng:
Kết quả ước lượng được trình bày ở bảng 2.4.
Bảng 2.4. Kết quả hồi quy mô hình
Model 1: OLS, using observations 1978-2017 (T = 40)
Dependent variable: l_Log(GDP)
Const
IT
IR
U
R

Coefficient
10.4043
0.378120
−0.0594461
−0.0787719
−0.0171014

Mean dependent var
Sum squared resid
R-squared
F(4, 35)
Log-likelihood
Schwarz criterion
Rho

Std. Error
0.280349
0.193741
0.0177488
0.0274130
0.0186912

t-ratio
37.11
1.952
−3.349
−2.874
−0.9149

p-value
<0.0001
0.0590
0.0020
0.0069
0.3665

***
*
***
***

9.861057
2.234077
0.748619
26.05773
0.943484
16.55743
0.740793

S.D. dependent var
0.477365
S.E. of regression
0.252648
Adjusted R-squared
0.719890
P-value(F)
4.52e-10
Akaike criterion
8.113033
Hannan-Quinn
11.16626
Durbin-Watson
0.327630
Nguồn: Tổng hợp phân tích trên Gretl
Sau khi có kết quả ước lượng, chúng tôi thực hiện các kiểm định khuyết tật có thể có của
mô hình.
 Các kiểm định khuyết tật của mô hình
- Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
Theo kết quả kiểm định đa cộng tuyến từ Bảng 2.5, ta thấy VIF trung bình bằng 3,46 tất
cả các biến đều có VIF nhỏ hơn 10 và 1/VIF < 1 nên mô hình không mắc phải khuyết tật đa
cộng tuyến.

Bảng 2.5. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình
Biến
IT
IR
U
R

VIF
4,940
5,317
1,960
1,621
6

1/VIF
0,202
0,188
0,510
0,617


VIF Trung bình

3,46
Nguồn: Kết quả phân tích trên Gretl

- Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Ta sử dụng phương pháp định lượng kiểm định Breusch – Pagan. Sử dụng lệnh Tests
Heteroskedasticity Breusch – Pagan ta thu được: P_value = 0,16101
Qua đó cho thấy với mức ý nghĩa  = 5%, P_value = 0,16101 > 0,05 cho nên mô hình
không mắc phải khuyết tật phương sai sai số thay đổi.
- Kiếm định hiện tượng tự tương quan
Ta sử dụng kiểm định Durbin – Watson để kiểm định tự tương quan trong mô hình. Kết
quả thu được là giá trị d của Durbin – Watson là 0,32763 cho nên không có hiện tượng tự
tương quan bậc 1 trong mô hình.
Như vậy, mô hình không bị mắc các khuyết tật. Các phân tích tiếp theo sẽ dựa trên kết
quả hồi quy trong bảng 2.4 ở trên.
 Phân tích kết quả hồi quy
Từ bảng 2.4 ta thấy rằng mức ý nghĩa  = 5%, các biến IT, IR, U và R đều có ý nghĩa
thống kê. Với R2 = 0,748619, mức độ phù hợp của mô hình là 74,8619%. Hay sự biến đổi
của các biến độc lập giải thích 74,8619% cho sự biến đổi của biến phụ thuộc.
Vậy mô hình hồi quy có dạng:
Log(GDP) = 10,4043+ 0,37812IT – 0,0594461IR – 0,0787719U – 0,0171014R + εt
Kết quả hồi quy cho thấy rằng, các biến tỷ lệ lạm phát thực tế, lãi suất thực tế, tỷ lệ thất
nghiệp đều tác động ngược chiều tới tăng trưởng kinh tế, còn LPMT tác động cùng chiều tới
TTKT. Nói cách khác, việc áp dụng chính sách LPMT sẽ giúp TTKT của NewZealand cao
hơn. Cụ thể, TTKT ở thời kì áp dụng chính sách LPMT cao hơn e0,37812 lần (hoặc hơn
45,95%)so với thời kỳ không áp dụng. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu
trước đây và các lý thuyết kinh tế vĩ mô.
Như vậy, việc ước lượng tác động của chính sách LPMT tới TTKT New Zealand đã
chứng tỏ sự hiệu quả và tầm quan trọng của chính sách LPMT trong điều tiết vĩ mô: vừa giúp
kiềm chế lạm phát, vừa tác động tích cực đến TTKT. Tuy nhiên, bên cạnh chính sách LPMT,
còn có rất nhiều yếu tố khác cùng tác động vào TTKT. Lạm phát tuy được kiềm chế nhưng
vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, đòi hỏi chính phủ và NHDT New Zealand cần phối hợp
hiệu quả chính sách LPMT với những chính sách khác để có được kết quả tốt nhất cho nền
kinh tế.

7


CHƯƠNG 3
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
3.1 Khả năng áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam, NHTW đang theo đuổi CSTT đa mục tiêu. Tuy nhiên, đó chưa
thực sự là công cụ thật sự hữu hiệu để kiểm soát lạm phát.Xét thấy trên thế giới đã có nhiều
quốc gia triển khai và thực hiện thành công chính sách LPMT.Việt Nam- là một quốc gia
đang phát triển, có nên thực hiện hay không thì phải tiến hành xem xét, đối chiếu đối với
thực tiễn ở Việt Nam. Cụ thể:
3.1.1 Mức độ độc lập của Ngân hàng Trung ương Việt Nam
Thực tế cho thấy Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam có mức độ độc lập thấp và
chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính phủ. Đây cũng là một trong những nguyên
nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHNN, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu kiểm
soát lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ và hệ thống tài chính thời gian qua.
Độc lập về chính trị: Tất cả các nhân viên trong hệ thống Ngân hàng đều là những cán
bộ, nhân viên do Nhà nước bổ nhiệm và trả công. Thống đốc có nhiệm kì 5 năm, trùng với
thời gian 1 nhiệm kì của Chính Phủ. Do đó có sự lệ thuộc nhất định vào Nhà nước.
Độc lập trong quyết định chính sách: Theo quy định của Luật NHNN năm 2010, NHNN
có trách nhiệm xây dựng CSTT để Chính phủ xem xét và trình Quốc hội quyết định. Sau đó,
NHNN chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách khi đã được phê duyệt.Như vậy,
NHNN không phải là tổ chức có quyết định cuối cùng về chính sách.
Độc lập trong kinh tế: Hiện nay mức độ độc lập của NHNN đối với Chính Phủ đang dần
được cải thiện, giảm bớt tình trạng Chính Phủ sử dụng nguồn ngân sách của NHNN để chi
tiêu cho các khoản vay của mình.
3.1.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cùng với sự phát triển toàn diện của đất nước, cơ sở hạ tầng kĩ thuật của Việt Nam đã và
đang được chú trọng hoàn thành và phát triển, Tuy nhiên, cơ sở số liệu vĩ mô đầu vào còn ít.
Hệ thống máy móc hiện đại phục vụ cho công tác thu thập số liệu, chạy mô hình, dự báo còn
thô sơ, chưa bắt kịp được với xu hướng các nước phát triển.
3.1.3 Độ lành mạnh của hệ thống tài chính
Về đánh giá tình hình thu NSNN năm 2018, báo cáo của Chính phủ cho thấy một số nét
nổi bật như kết quả thu NSNN vượt dự toán, trong đó thu cân đối từ hoạt động xuất nhập
khẩu cả năm ước tính vượt 10 nghìn tỷ đồng so với dự toán. Về chi NSNN, báo cáo cho biết
chi NSNN đã bảo đảm các nhiệm vụ chi quản lý nhà nước, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và
thanh toán đầy đủ các chế độ, chính sách an sinh xã hội và các nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam
kết . Tuy nhiên, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội cho thấy,
chưa có chuyển biến trong cơ cấu lại chi NSNN, tỷ trọng chi thường xuyên còn cao. Bên
cạnh đó, một số chính sách an sinh xã hội thiếu đồng bộ, chưa đạt hiệu quả so với mục tiêu,
cũng như còn hiện tượng trục lợi chính sách gây thất thoát cho NSNN.
Hình 3.1 Dự toán ngân sách nhà nước năm 2018
8


Việt Nam còn thường xuyên phải đối mặt với tình trạng thâm hụt ngân sách lớn (khoảng
5% GDP – cao hơn ngưỡng đặt ra), trong khi so với các nước khác trong khu vực vào thời
điểm áp dụng chính sách LPMT đều có mức thâm hụt ngân sách thấp hơn đáng kể (ví dụ:
Thái Lan khoảng – 2,8%, Indonesia – 1,1%,...).
3.1.4 Cấu trúc kinh tế
Về độ mở của nền kinh tế, chỉ số này của Việt Nam khá cao, đặc biệt từ sau khi Việt
Nam gia nhập WTO (năm 2007), độ mở của nền kinh tế luôn trên 150%. Tính đến năm 2016,
độ mở nền kinh tế Việt Nam đã trên 220%. Hơn nữa, thời gian gần đây Việt Nam cũng tích
cực tham giá các hiệp định tự do thương mại FTA, nổi bật là hiệp định Đối tác toàn diện và
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được hoàn thành kí kết vào cuối năm 2018 vừa
qua. Tuy nhiên, độ mở của nền kinh tế Việt Nam chất lượng còn thấp, thể hiện ở việc hàng
xuất khẩu có giá trị gia tăng thấp trong khi nhập khẩu nguyên phụ liệu còn lớn. Vì vậy, mọi
biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động mạnh đến nền kinh tế trong nước.
Về chế độ tỷ giá hối đoái, mấy năm gần đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thường có
cam kết đảm bảo Việt Nam Đồng (VND) không mất giá quá 2 - 3% so với năm trước. Việc
tuyên bố này tạo ra “neo danh nghĩa” cho VND.
3.2. Giải pháp thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam:
Từ những phân tích trên cho thấy các điều kiện áp dụng hiệu quả chính sách LPMT tại
Việt Nam vẫn chỉ đáp ứng ở mức thấp. Tuy nhiên, chính sách LPMT vẫn là một lựa chọn để
cân nhắc ngay cả khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết. Và để thực hiện được khuôn
khổ chính sách này Việt Nam cần có lộ trình giải pháp phù hợp.
3.2.1 Nâng cao tính độc lập của NHNN
- Bước đi đầu tiên có tính thử nghiệm cho một NHNN độc lập là cho phép NHNN được
độc lập trong việc lựa chọn mục tiêu chính sách ưu tiên trong nhóm các mục tiêu được chọn
lựa phù hợp với điều kiện nền kinh tế vĩ mô mà không nhất thiết phải phù hợp với các chính
sách khác của Chính phủ.
-Thống đốc phải được trao quyền quyết định trong việc thực thi các CSTT và tự chịu
trách nhiệm về các quyết định đó chứ không nên thông qua Chính phủ. Điều này không
những góp phần làm tăng tính chủ động cho NHNN mà còn làm giảm độ trễ ngoài của CSTT
- một yếu tố quan trọng làm giảm tính hiệu lực của chính sách.
9


-Thực hiện tốt CSTT đòi hỏi NHNN phải thu hút được đội ngũ lớn những chuyên gia
đầu ngành về tài chính, ngân hàng nên cần phải cạnh tranh với các ngân hàng thương mại
trong việc thu hút chuyên gia về môi trường làm việc và chế độ lương thưởng. Hơn nữa, để
cho việc thực thi chính sách có tính phản biện cao, Thống đốc cần được trao quyền chủ động
trong việc thành lập Ban tư vấn CSTT, trong đó quy tụ khoảng 10 người, gồm những chuyên
gia đầu ngành có kinh nghiệm quản lý và tư vấn tại các NHTƯ của các nước phát triển am
hiểu về điều kiện kinh tế Việt Nam
3.2.2 Cải thiện cơ sở hạ tầng kĩ thuật
- Trước hết, cần nâng cao chất lượng số liệu thống kê. Ðể đạt được điều đó, ngành thống
kê cần quan tâm một số nội dung chủ yếu sau: Hoàn thiện hệ thống và đồng bộ các phương
thức thu thập số liệu giữa các cuộc điều tra, các báo cáo định kỳ; Tăng cường ứng dụng công
nghệ trong thu thập và xử lý thông tin các cuộc điều tra; Đẩy mạnh hoạt động đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực thống kê nhằm nâng cao chất lượng và bảo đảm đủ số lượng
- Xây dựng và hoàn thiện phương pháp và công cụ dự báo hiện đại, bắt kịp xu hướng
của thế giới
3.2.3 Nâng cao độ lành mạnh của cấu trúc kinh tế
- Tích cực tham gia các hiệp định song phương, đa phương để tranh thủ những ưu đãi từ
quốc tế. Tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có giá trị, cải thiện độ mở của nền
kinh tế. Tiếp thu và phát triển những thành tựu khoa học- kĩ thuật để nâng cao chất lượng
cũng như sản lượng đầu ra.
- Ổn định giá trị VNĐ bằng các biện pháp như ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát
ở mức mục tiêu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Cân bằng thu, chi nhà nước. Tránh tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước
3.2.4 Xây dựng lộ trình hợp lý trước và sau khi thực hiện chính sách
Giai đoạn I: từ năm 2019 đến 2023
- Trao quyền độc lậр cho NHNN trong xâу dựng và thực thi CSTT
- Cải thiện hạ tầng kỹ thuật và hoàn thiện thị trường tài chính
- Theo đuổi chính sách LPMT linh hoạt thông qua việc xây dựng khung LPMT rộng.
Việc đưa ra khung LPMT rộng có thể cho phép NHNN linh hoạt ứng phó với những cú sốc
và đưa ra lựa chọn tối ưu trong bối cảnh CSTT còn theo đuổi các mục tiêu khác.
Giai đoạn II: từ năm 2023 trở đi
- Áp dụng chính sách LPMT hoàn toàn. NHNN thu hẹp dần khung LPMT và cam kết
theo đuổi mức lạm phát mục tiêu đã công bố
- Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của NHNN.

10


KẾT LUẬN
Dựa vào phân tích số liệu, chạy mô hình kinh tế lượng ở trên, chúng ta có thể thấy được
kinh tế của New Zealand đã tăng trưởng đáng kể sau khi áp dụng chính sách lạm phát mục
tiêu. New Zealand đã biết tận dụng những thế mạnh mình đang có để khắc phục vấn đề lạm
phát cao.Đó là một bài học đáng giá cho những quốc gia đã và đang có ý định thực hiện
chính sách lạm phát mục tiêu. Sau New Zealand cũng có một số quốc gia khác áp dụng chính
sách này như Chile, Thái Lan, Brazil,…Tuy nhiên không phải quốc gia nào cũng đạt được
thành công mà đã gặp phải những khó khăn và sai lầm nhất định. Các nghiên cứu tiếp theo
đây có thể đề cập đến những sai lầm của các quốc gia khi thực hiện chính sách lạm phát mục
tiêu mà không đạt được thành công cho sự tăng trưởng kinh tế, từ đó rút ra bài học.
Đối với Việt Nam - một quốc gia đang trên đà phát triển, chính sách lạm phát mục tiêu
cũng là một công cụ hữu hiệu để ổn định lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên,
với hoàn cảnh và những điều kiện mà Việt Nam đang có thì Việt Nam vẫn chưa thật sự sẵn
sàng cho một chính sách lạm phát mục tiêu hoàn hảo. Chỉ khi khắc phục được những thiếu
sót như phân tích ở trên thì Việt Nam mới nên áp dụng chính sách này để đạt thành công cao
nhất.
Do thời gian và kiến thức hiểu biết còn giới hạn nên tiểu luận khó tránh khỏi những thiếu
sót, kính mong cô có những góp ý để bọn em có thể hoàn thiện hơn kiến thức của mình về đề
tài này. Bọn em cũng xin gửi lời cảm ơn cô Nguyễn Thị Hồng vì đã luôn nhiệt tình giúp đỡ,
hướng dẫn bọn em để chúng em có thể hoàn thiện bài tiểu luận này một cách tốt nhất.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Thu Hương, 2005,“Hoàn thiện chính sách tiền tệ và giải pháp điều hành phối hợp với
các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo ổn định kinh tế và phát triển giai đoạn
2000-2020”, Đề tài nghiên cứu khoa học.
2. Lê Thái Phong, Nguyễn Thu Thủy và Lê Việt Dũng, 2017, ‘Khả năng áp dụng chính
sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam’, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị
Thế giới, Số 2(250) tháng 2/2017, 70-77.
3. Nguyễn Thị Hiền, 2015, ‘Hoàn thiện các điều kiện để thực hiện chính sách tiền tệ theo
khuôn khổ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam’, Luận án Tiến sỹ, Học viện Ngân hàng.
4. Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Huy Công và Trần Quang Thanh, 2019, “Tác động của chính sách
lạm phát mục tiêu đến tăng trưởng kinh tế Chile và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp
chí Kinh tế đối ngoại, số 114, 2/2019.
5. Tô Thị Ánh Dương, Bùi Quang Tuấn, Phạm Sỹ An, Dương Thị Thanh Bình và Trần Thị Kim
Chi, 2015,“Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam”,
Báo cáo nghiên cứu RS – 02 năm 2015.
6. Reddell, Michael (1999), Origins and early development of the inflation target, Reserve bank
of New Zealand Bulletin 1999.
7. The reserve bank of New Zealand (2007), The reserve bank and New Zealand’s economic
history, ISBN 978-0-9582675-6-4.
8. Website của Ngân hàng Dự trữ New Zealand, https://www.rbnz.govt.nz/
9. Website của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, www.imf.org.
10. Website của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế, http://www.oecd.org/.

1



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×