Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu về công bố thông tin lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở việt nam

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN
LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU TRONG
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng – Năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LÊ THÙY TRANG

NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN

LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU TRONG
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HỮU CƢỜNG

Đà Nẵng - Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Lê Thuỳ Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 3
5. Bố cục đề tài .................................................................................................. 3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ....................................................................... 4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ
CÔNG BỐ THÔNG TIN LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỐ PHIẾU ............. 6
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN
MỖI CỔ PHIẾU .............................................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu...................................... 6
1.1.2. Khái niệm về công bố thông tin ...................................................... 6
1.1.3. Vai trò của công bố thông tin ......................................................... 6
1.1.4. Phân loại công bố thông tin ............................................................ 7
1.1.5. Quy định về công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu ..... 8
1.1.6. Đo lường mức độ công bố thông tin ............................................... 9
1.2. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ
LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU ....................................................... 10
1.2.1. Lý thuyết thông tin hữu ích........................................................... 10
1.2.2. Lý thuyết tín hiệu .......................................................................... 11
1.2.3. Lý thuyết đại diện ......................................................................... 12
1.2.4. Lý thuyết kinh tế thông tin............................................................ 12


1.2.5. Lý thuyết các bên liên quan .......................................................... 13
1.3. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI
NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU ................................................................ 14
1.3.1. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố mức độ trì hoãn công
bố báo cáo tài chính ................................................................................ 14
1.3.2. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố đòn bẩy tài chính ...... 15
1.3.3. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố khả năng sinh lời ...... 15
1.3.4. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của khả năng thanh toán nhanh của
doanh nghiệp .......................................................................................... 16
1.3.5. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ thể kiểm toán .................. 16
1.3.6. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố thời gian niêm yết của
doanh nghiệp ........................................................................................... 17
1.3.7. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân tố quy mô doanh nghiệp17
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 19
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU................................................... 20
2.1. XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU ............................ 20
2.1.1. Giả thuyết về mức độ trì hoãn công bố báo cáo tài chính ............ 20
2.1.2. Giả thuyết về đòn bẩy tài chính .................................................... 21
2.1.3. Giả thuyết về khả năng sinh lời .................................................... 22
2.1.4. Giả thuyết về khả năng thanh toán nhanh ..................................... 23
2.1.5. Giả thuyết về chủ thể kiểm toán ................................................... 24
2.1.6. Giả thuyết về thời gian niêm yết ................................................... 24
2.1.7. Giả thuyết về quy mô .................................................................... 25
2.2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .................................................................... 26


2.2.1. Thiết lập mô hình nghiên cứu ....................................................... 26
2.2.2. Đo lường biến phụ thuộc............................................................... 27
2.2.3. Đo lường biến độc lập ................................................................... 33
2.3. MẪU NGHIÊN CỨU ............................................................................. 35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 37
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................... 38
3.1. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN
TRÊN MỖI CỔ PHIẾU................................................................................ 38
3.1.1. Mức độ công bố thông tin bắt buộc .............................................. 38
3.1.2. Mức độ công bố thông tin tùy ý .................................................... 51
3.1.3. Mức độ công bố thông tin tổng hợp.............................................. 55
3.2. PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG
BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIÊU .................. 56
3.2.1. Đối với báo cáo tài chính năm 2016 ............................................. 56
3.2.2. Đối với báo cáo tài chính bán niên năm 2016 .............................. 63
3.2.3. Đối với báo cáo tài chính quý 2 năm 2016 ................................... 69
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 77
CHƢƠNG 4: HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN ............................ 78
4.1. HÀM Ý CHÍNH SÁCH ......................................................................... 78
4.1.1. Đối với đơn vị công bố thông tin .................................................. 78
4.1.2. Đối với nhà nước........................................................................... 79
4.1.3. Hàm ý từ sự ảnh hưởng của chủ thể kiểm toán ............................ 81
4.1.4. Hàm ý từ sự ảnh hưởng của mức độ trì hoãn công bố BCTC ...... 81
4.1.5. Hàm ý từ sự ảnh hưởng của quy mô DN ...................................... 82


4.1.6. Hàm ý từ sự ảnh hưởng của khả năng sinh lời ............................. 82
4.2. KẾT LUẬN ............................................................................................. 82
4.2.1. Kết quả đạt được ........................................................................... 82
4.2.2. Hạn chế của nghiên cứu ................................................................ 83
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 .............................................................................. 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 85
PHỤ LỤC I .................................................................................................... 92


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCTC

Báo cáo tài chính

CBTT

Công bố thông tin

CTCP

Công ty cổ phần

CTNY

Công ty niêm yết

DN

Doanh nghiệp

EPS

Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu

GDCK

Giao dịch chứng khoán

HNX

Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hà Nội

HOSE

Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

IAS

Chuẩn mực kế toán Quốc tế

KQHĐKD

Kết quả hoạt động kinh doanh

SGDCK

Sở giao dịch chứng khoán

VAS

Chuẩn mực kế toán Việt Nam


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
2.1

2.2

Tên bảng
Các chỉ mục và phương pháp chấm điểm để đo
lường sự công bố thông tin bắt buộc
Các chỉ mục và phương pháp chấm điểm để đo
lường sự công bố thông tin tùy ý

Trang
28

32

2.3

Bảng điểm đánh giá công bố thông tin tùy ý

33

2.4

Mô tả và đo lường biến độc lập

34

3.1

3.2

3.3

3.4

3.5

Chi tiết mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC năm
2016 theo từng chỉ tiêu
Chi tiết mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC bán
niên 2016 theo từng chỉ tiêu
Chi tiết mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC quý 2
năm 2016 theo từng chỉ tiêu
Tổng hợp mức độ CBTT bắt buộc trên BCTC
năm, BCTC bán niên, BCTC quý 2 năm 2016
Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC năm
2016 theo từng chỉ tiêu

39

43

48

50

52


Số hiệu bảng
3.6

3.7

3.8

3.9

3.10

3.11

3.12

3.13

3.14

3.15

Tên bảng
Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC bán niên
theo từng chỉ tiêu
Chi tiết mức độ CBTT tùy ý trên BCTC quý 2
năm 2016 theo từng chỉ tiêu
Tổng hợp mức độ CBTT tùy ý trên BCTC năm,
BCTC bán niên, BCTC quý 2 năm 2016
Tổng hợp mức độ CBTT chung trên BCTC năm,
BCTC bán niên, BCTC quý 2 năm 2016
Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC năm
2016
Kết quả hồi quy OLS mô hình 1a
Bảng phân tích tương quan giữa các biến độc lập
trong mô hình 1a
Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 1a
Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC bán
niên
Kết quả hồi quy OLS mô hình 1b

Trang
53

53

55

56

57

59

59

60

63

65


Số hiệu bảng
3.16

3.17

3.18

3.19

3.20

3.21

Tên bảng
Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 1b
Bảng kết quả thống kê sự ảnh hưởng của các nhân
tố đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC bán niên
Thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC quý
2 năm 2016
Kết quả hồi quy OLS mô hình 1c
Bảng phân tích tương quan giữa các biến độc lập
trong mô hình 1c
Kiểm định đa cộng tuyến trong mô hình 1c

Trang
66

66

70

72

73

73


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công bố thông tin (CBTT) có thể làm giảm bất đối xứng thông tin, là
phương tiện quan trọng để quản lý, để truyền đạt hiệu quả hoạt động và quản
trị đến các nhà đầu tư bên ngoài (Nguyễn Hữu Cường, 2015).
Trong các thông tin được công bố trên báo cáo tài chính (BCTC) thì một
trong những thông tin quan trọng nhất là lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS).
EPS được sử dụng để đánh giá kết quả thực hiện của một công ty trong một
khoảng thời gian nhất định và để so sánh hiệu suất của công ty với các công
ty khác. Ngoài ra, EPS còn được dùng để tính toán tỷ suất lợi nhuận (PE), là
chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi như một tiêu chuẩn so sánh cho các quyết định
đầu tư. Tuỳ vào đối tượng sử dụng mà thông tin về EPS có ý nghĩa riêng,
chẳng hạn như các nhà đầu tư, họ quan tâm đến tiền lãi mà họ nhận được khi
mua cổ phiếu của công ty, EPS càng cao phản ánh năng lực kinh doanh của
công ty càng mạnh, khả năng trả cổ tức là cao và giá cổ phiếu cũng có xu
hướng tăng cao. Đối với các tổ chức tín dụng, khi nhìn vào chỉ tiêu EPS họ có
thể thấy được khả năng thu lợi nhuận của công ty là bao nhiêu, từ đó biết
được công ty có khả năng trả nợ hay không mới ra quyết định cho vay.
EPS được công bố bắt buộc đối với tất cả các công ty cổ phần (CTCP) ở
Việt Nam theo (Bộ Tài chính, 2014). Tại Việt Nam, các công ty niêm yết
(CTNY) phải công bố chỉ tiêu EPS cơ bản và EPS pha loãng trong BCTC
năm và BCTC giữa niên độ theo quy định tại chuẩn mực kế toán Việt Nam
VAS 30 “Lãi trên cổ phiếu”, và chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33 “Earnings
per share”.
Đa số các nghiên cứu về EPS trước đây chỉ đo lường ảnh hưởng của
nhân tố EPS đến giá các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán. Kết


2

quả nghiên cứu cho thấy EPS có ảnh hưởng lớn đến giá của cổ phiếu và thị
trường cổ phiếu rất nhạy cảm với EPS như các nghiên cứu của Al-Qenae và
cộng sự (2002), Al-Tamimi và Hussein (2007), Trương Đông Lộc (2014).
Các nghiên cứu trên không đo lường mức độ CBTT về EPS.
Cho đến nay, các nghiên cứu về mức độ CBTT về EPS còn rất ít, chẳng
hạn như nghiên cứu của Holgate và Kirby (1994) thực hiện tại Anh và
Harrison và Morton (2010) thực hiện ở Úc. Điểm chung của các nghiên cứu này
là ghi nhận được mức độ CBTT về EPS trên BCTC là rất thấp. Ở nước ta,
nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường (2015), đánh giá mức độ tuân thủ đối với
yêu cầu CBTT trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị trường chứng
khoán Việt Nam. Ông đã chỉ ra được rằng CBTT về EPS còn thấp, đặc biệt là
EPS pha loãng là một trong số các chỉ tiêu mà các CTNY thường ít công bố
nhất hoặc công bố không đầy đủ. Thực tiễn CBTT như vậy có thể bị ảnh
hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau, tuy nhiên Nguyễn Hữu Cường (2015)
không nghiên cứu vấn đề này và cũng chưa đi sâu khảo sát chi tiết mức độ
CBTT về EPS.
Cho đến thời điểm hiện tại, nghiên cứu đánh giá mức độ CBTT về EPS
bởi các CTNY ở Việt Nam chưa được chú trọng. Trong khi đó việc CBTT về
chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng. Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu
về CBTT về EPS trong BCTC của các CTNY ở Việt Nam” để thực hiện luận
văn này với mong muốn đóng góp phần nào vào lĩnh vực nghiên cứu về
CBTT trên BCTC trên cơ sở cung cấp bằng chứng định lượng về mức độ
CBTT về EPS và các nhân tố ảnh hưởng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định mức độ tuân thủ CBTT về EPS (gồm cả EPS cơ bản và EPS
pha loãng) trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ của các CTNY trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.


3

- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC
năm và BCTC giữa niên độ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ CBTT về EPS trên
BCTC năm và BCTC giữa niên độ bởi các CTNY trên thị trường chứng
khoán Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT này.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong phạm vi là các BCTC
năm 2016 và BCTC bán niên năm 2016, BCTC quý 2 năm 2016 trên Sở giao
dịch chứng khoán (SGDCK) Hà Nội và SGDCK thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Xác định mức độ CBTT bắt buộc và CBTT tùy ý bằng cách vận dụng
phương pháp phân tích nội dung trên cơ sở xây dựng chỉ số CBTT dựa trên
các chỉ mục thông tin. Chỉ mục được thiết lập căn cứ vào những quy định về
CBTT có liên quan. Luận văn đo lường mức độ CBTT bắt buộc và CBTT tùy
ý trên BCTC năm, BCTC bán niên và BCTC quý 2 của các CTNY được khảo
sát.
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC
năm, BCTC bán niên, và BCTC quý 2 của các CTNY thông qua việc kiểm
định mô hình hồi quy. Trong đó, các biến độc lập được thu thập và tính toán
dựa trên BCTC của các CTNY, biến phụ thuộc là mức độ CBTT về EPS. Dữ
liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, nội dung chính của luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin
lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu


4

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Hàm ý chính sách và kết luận
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay có nhiều nghiên cứu về EPS, tuy
nhiên đa số các nghiên cứu này chỉ đề cập đến tính hữu dụng của EPS. Một số
nghiên cứu lại tập trung vào mối liên hệ giữa EPS và giá cổ phiếu trên thị
trường chứng khoán (Đinh Bảo Ngọc và Nguyễn Chí Cường, 2014; Phạm
Hồng Thái và Lê Dũng Hiệp, 2016).
Các nghiên cứu CBTT về EPS trên BCTC còn rất ít, chẳng hạn như
nghiên cứu Holgate và Kirby (1994) thực hiện ở Anh, Harrison và Morton
(2010) thực hiện ở Úc, hay gần đây nhất là một nghiên cứu có liên quan của
Nguyễn Hữu Cường (2015).
Holgate và Kirby (1994) đã khảo sát các BCTC năm của 100 công ty tại
Anh để đánh giá chuẩn mực báo cáo tài chính FRS (Financial Reporting
Standard) 3 “Reporting Financial Performance”, có ảnh hưởng như thế nào đến
việc CBTT về EPS của các công ty. Kết quả nghiên cứu chỉ có 54 công ty CBTT
về EPS trong BCTC. Nghiên cứu này sử dụng thống kê mô tả và chỉ dừng lại ở
mức độ CBTT tự nguyện, không đánh giá mức độ CBTT bắt buộc.
Còn ở Úc, Harrison và Morton (2010) nghiên cứu mức độ CBTT tự nguyện
về EPS trên BCTC năm. Kết quả nghiên cứu ghi nhận được trong số 94 CTNY
được khảo sát thì có 81% công ty công bố ít nhất một trong hai chỉ tiêu ESP
(EPS cơ bản, EPS pha loãng) nhưng đại đa số là CBTT về EPS cơ bản và hầu
hết các CTNY không công bố chi tiết về thông tin EPS.
Tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Cường (2015) đã nghiên cứu về mức độ
tuân thủ đối với yêu cầu CBTT trong BCTC giữa niên độ của các CTNY trên


5

thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu được thực hiện trên BCTC quý
2 năm 2012 và BCTC bán niên năm 2012 của 100 CTNY có giá trị vốn hóa
thị trường lớn nhất ở Việt Nam tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2011. Kết
quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ yêu cầu trình bày chỉ tiêu EPS cơ bản
trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (KQHĐKD) của các CTNY ở
Việt Nam được khảo sát là khá cao: 99% đối với BCTC bán niên và 79% đối
với BCTC quý 2, ngược lại mức độ tuân thủ CBTT đối với chỉ tiêu EPS pha
loãng còn rất thấp: 28% đối với BCTC bán niên và 2% đối với BCTC quý 2.
Nghiên cứu này tập trung vào CBTT bắt buộc và tùy ý trên BCTC giữa niên
độ, việc CBTT về EPS là một phần nhỏ trong nghiên cứu và trong nghiên cứu
không đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT về EPS.
Theo tìm hiểu của tác giả thì các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng
đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC ở Việt Nam hay ở các nước khác vẫn
chưa có, trong khi đó EPS là chỉ tiêu rất quan trọng đối với các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT trên
BCTC của các CTNY như mức độ trì hoãn công bố BCTC, quy mô doanh
nghiệp (DN), loại hình sở hữu có yếu tố nước ngoài, đòn bẩy nợ, lợi nhuận,
khả năng thanh toán, tỷ suất sinh lời, kiểm toán độc lập, đặc điểm của hội
đồng quản trị, thời gian niêm yết của DN (chẳng hạn như, Ngô Thu Giang,
2014; Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015; Vũ Thị Mai Hương, 2017; Dương Ngọc
Như Quỳnh, 2017; Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc, 2018).
Tóm lại, nghiên cứu trước đây tập trung vào sự ảnh hưởng của EPS đến
giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT trên BCTC của các CTNY,
chưa có nghiên cứu nào đo lường mức độ CBTT về EPS trên BCTC và nhân
tố ảnh hưởng. Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu về CBTT về EPS trong
BCTC của các CTNY ở Việt Nam trong luận văn này hy vọng có được những
đóng góp nhất định về học thuật cũng như thực tiễn.


6

CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ
CÔNG BỐ THÔNG TIN LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỐ PHIẾU
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI NHUẬN TRÊN
MỖI CỔ PHIẾU
1.1.1. Khái niệm về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho
mỗi cổ phiếu phổ thông đang được lưu hành trên thị trường. Tại Việt Nam,
theo VAS 30 quy định EPS có hai loại gồm: EPS cơ bản và EPS pha loãng.
Trong đó, EPS cơ bản được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ
cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ (tử số) cho số lượng
bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ (mẫu
số); Còn EPS pha loãng được tính bằng tỷ lệ giữa lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ
cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty mẹ và số bình quân gia
quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành đã được điều chỉnh do ảnh hưởng
của các cổ phiếu phổ thông tiềm năng có tác động pha loãng.
1.1.2. Khái niệm về công bố thông tin
Theo sổ tay CBTT dành cho CTNY của Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội (2013), CBTT được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh
bạch của DN nhằm bảo đảm các cổ đông và công chúng có thể tiếp cận thông
tin. CBTT kế toán là cung cấp thông tin thông qua hệ thống các BCTC của
một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả báo cáo giữa niên độ và báo
cáo thường niên).
1.1.3. Vai trò của công bố thông tin
Việc CBTT đầy đủ và kịp thời sẽ làm gia tăng tính minh bạch và ảnh
hưởng rất lớn đến hành vi của các nhà đầu tư, mức độ CBTT càng tốt càng


7

làm giảm tình trạng thông tin bất đối xứng giữa các nhà đầu tư và công ty,
làm tăng giá trị và thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường (Johansen và
Plenborg, 2013). Ngược lại, việc CBTT không tốt có thể làm gia tăng chi phí
vốn, dẫn đến việc phân bổ các nguồn vốn không hiệu quả (Albitar, 2015).
Như vậy, có thể thấy CBTT không chỉ là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện
theo pháp luật, mà còn là quyền lợi của công ty trong việc nâng cao uy tín và
hình ảnh trên thị trường, là cách thuyết phục hiệu quả nhất đối với nhà đầu tư,
thể hiện tính chuyên nghiệp, tôn trọng cổ đông của công ty, là cơ sở để phát
triển bền vững và tăng giá trị công ty.
Mức độ CBTT của các DN được giải thích bởi nhiều lý thuyết khác
nhau, nhưng điểm chung của các lý thuyết này là mức độ tuân thủ phụ thuộc
vào sự cân nhắc chi phí – lợi ích liên quan đến thông tin được công bố
(Depoers, 2000, Bellora và Guenther, 2013, được trích dẫn bởi Nguyễn Hữu
Cường, 2015).
1.1.4. Phân loại công bố thông tin
 Phân loại theo yêu cầu công bố thông tin
- Thông tin bắt buộc: Thông tin phải công bố bắt buộc là các thông tin
mà các văn bản pháp luật có liên quan quy định các CTNY phải công bố theo
quy định. Thông tin bắt buộc phải công bố trên các BCTC được quy định tùy
thuộc vào từng quốc gia và vùng lãnh thổ thông qua các hội nghề nghiệp hoặc
các cơ quan quản lý nhà nước.
- Thông tin tự nguyện: là các thông tin mà các CTNY tự nguyện công bố
để nhà đầu tư hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của công ty mà các công ty
này không bắt buộc phải công bố theo quy định. Thông tin tự nguyện công bố
bổ sung những thiếu hụt của thông tin bắt buộc nhằm thỏa mãn nhu cầu người
sử dụng. Mức độ công bố những thông tin này tùy thuộc vào sự lựa chọn của
DN.


8

- Thông tin tùy ý: CBTT tùy ý là một trường hợp đặc biệt của CBTT bắt
buộc. CBTT tùy ý phát sinh khi những thông tin bắt buộc phải công bố theo
quy định của pháp luật nhưng chưa được các văn bản pháp luật quy định chi
tiết về chừng mực của thông tin được công bố nên DN có thể tùy ý điều chỉnh
mức độ CBTT nhiều hay ít.
 Phân loại thông tin theo tính chất định kỳ hoặc bất thường
- Thông tin định kỳ: Các thông tin công bố định kỳ thường là được công
bố trên BCTC năm và BCTC giữa niên độ.
- Thông tin bất thường: Bao gồm CBTT bất thường theo quy định như tài
khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở
lại bình thường sau khi bị phong tỏa và CBTT khác phải công bố theo yêu cầu
cầu của các SGDCK hay các co quan quản lý.
 Phân loại thông tin theo mức độ xử lý
- Thông tin ban đầu: Là những BCTC do DN công bố trên thị trường.
- Thông tin đã được xử lý: Là những thông tin được thống kê lại từ
những thông tin ban đầu nhằm nhiều mục đích sử dụng khác nhau.
1.1.5. Quy định về công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu
Hiện nay, việc CBTT về EPS trên BCTC tuân thủ theo quy định tại VAS
30 “Lãi trên cổ phiếu” (Bộ Tài Chính, 2005). VAS 30 quy định DN trình bày
thông tin về EPS cơ bản và EPS pha loãng trên báo cáo KQHĐKD và trình
bày trên bản thuyết minh BCTC. Thông tin cơ bản cần công bố gồm lợi nhuận
hoặc lỗ, số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông để tính EPS cơ bản và
EPS pha loãng, các công cụ có thể có tác động pha loãng EPS trong tương lai,
các giao dịch cổ phiếu phổ thông hoặc giao dịch cổ phiếu phổ thông tiềm
năng xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm.


9

VAS 27 “Báo cáo tài chính giữa niên độ” quy định EPS trước và sau
ngày phân phối cần phải được trình bày trong báo cáo KQHĐKD đầy đủ hoặc
tóm lược của kỳ kế toán giữa niên độ. Khuyến khích DN CBTT về EPS giống
như trong BCTC năm (Bộ Tài chính, 2005).
Ngoài các chuẩn mực kế toán trên, Chế độ kế toán cũng có yêu cầu về
công bố EPS và hướng dẫn cách tính EPS cơ bản cũng như EPS pha loãng
(Bộ Tài chính, 2014).
Các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam đều phải tuân thủ quy
định về CBTT theo Thông tư 155/2015/TT-BTC về hướng dẫn CBTT trên thị
trường chứng khoán (Bộ Tài chính, 2015). Các DN niêm yết phải trình bày
thông tin về EPS trong báo cáo KQHĐKD và thuyết minh BCTC. Cụ thể các
DN công bố chính sách kế toán áp dụng trong đó nêu rõ chỉ tiêu EPS được
tính như thế nào, thông tin bổ sung cho chỉ tiêu EPS được trình bày trong báo
cáo KQHĐKD.
1.1.6. Đo lƣờng mức độ công bố thông tin
Việc đo lường mức độ CBTT bằng thang đo do chính các nhà nghiên
cứu xây dựng có thể được tiếp cận theo một trong hai cách: đo lường bằng
thang đo không trọng số và ngược lại là đo lường bằng thang đo có trọng số.
Đo lường bằng thang đo không trọng số: Trên cơ sở hệ thống các chỉ
mục thông tin đã được xây dựng, từng mục thông tin tương ứng trong BCTC
được nghiên cứu sẽ được gán giá trị bằng một (1) nếu thông tin đó được công
bố, hoặc được gán giá trị bằng không (0) nếu thông tin đó không công bố.
Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn có thể quyết định không gán giá trị cho một
mục tin được đánh giá nếu chắc chắn rằng đối với BCTC được khảo sát đó thì
mục tin này chắc chắn là không liên quan (not applicable). Như vậy, việc đo
lường CBTT theo phương pháp này chỉ dừng lại ở chừng mực ghi nhận có


10

hay không việc thông tin được trình bày trên BCTC được khảo sát và nhà
nghiên cứu ngầm định tất cả các chỉ mục đều có tính quan trọng (tính hữu ích)
là như nhau.
Đo lường bằng thang đo có trọng số: Khác với phương pháp đo lường
không trọng số, các mục tin trong phương pháp đo lường bằng thang đo có
trọng số được đánh giá có tính hữu ích khác nhau đối với người sử dụng và do
vậy được gán bởi các trọng số khác nhau khi đánh giá mức độ CBTT. Chẳng
hạn, nghiên cứu của (Urquiza và cộng sự, 2009) việc xác định mức độ CBTT
được đánh giá theo nguyên tắc sau: mục tin công bố được gán giá trị bằng
không (0) nếu không được công bố, bằng 0,5 nếu công bố là định tính hoặc
bằng một (1) nếu công bố là định lượng. Tuy nhiên, phương pháp này bị đánh
giá là không chính xác vì việc đánh giá tầm quan trọng của khoản mục phụ
thuộc vào nhận xét chủ quan của người nghiên cứu.
1.2. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ
LỢI NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU
1.2.1. Lý thuyết thông tin hữu ích
Lý thuyết này hình thành trên cơ sở nghiên cứu của Staubus vào năm
1960 (Staubus, 2013). Đây là lý thuyết kế toán chuẩn tắc được sử dụng như
một lý thuyết nền tảng để xây dựng khuôn mẫu lý thuyết kế toán hiện nay của
chuẩn mực BCTC quốc tế và chuẩn mực của nhiều quốc gia. Lý thuyết này
nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích và thích
hợp cho các đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế. Giả thuyết
cho việc chấp nhận cách tiếp cận ra quyết định trên cơ sở thông tin hữu ích
của kế toán là về mặt lý thuyết, các BCTC được lập để phục vụ tốt hơn cho
nhu cầu của người dùng. Lý thuyết thông tin hữu ích cũng đề cập đến khái
niệm cân bằng lợi ích – chi phí, là một khía cạnh quan trọng cần quan tâm khi
thiết lập các chuẩn mực.


11

Theo lý thuyết thông tin hữu ích, việc cung cấp thông tin qua các BCTC
được xem như là quá trình cung cấp thông tin thích hợp cho các đối tượng sử
dụng. Vì vậy, tính hữu ích của thông tin được đánh giá cao qua khả năng đáp
ứng cho các đối tượng sử dụng trong quá trình ra quyết định. Áp dụng lý
thuyết thông tin hữu ích có vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng
thông tin BCTC mà các CTNY công bố. Đối với các CTNY, nhà quản lý là
người cung cấp thông tin, còn người sử dụng thông tin trên các BCTC phần
lớn là các nhà đầu tư (xem Dương Ngọc Như Quỳnh, 2017).
Khi vận dụng lý thuyết này, các nhà nghiên cứu đã kiểm chứng sự ảnh
hưởng của nhân tố chủ thể kiểm toán đến mức độ CBTT (chẳng hạn như
Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016).
1.2.2. Lý thuyết tín hiệu
Lý thuyết tín hiệu được phát triển bởi Michael Spence năm 1973, trong
bối cảnh của thị trường lao động. Ông phân tích bất đối xứng thông tin thông
qua phân tích sự lựa chọn bất lợi trên thị trường lao động của các chủ DN, do
người lao động có lợi thế thông tin hơn về bản thân người lao động và năng
suất lao động tiềm năng (xem Nguyễn Hữu Cường, 2017).
Lý thuyết tín hiệu chỉ ra rằng do sự không đối xứng thông tin giữa công
ty và nhà đầu tư sẽ gây ra sự lựa chọn có hại cho nhà đầu tư. Do đó, CBTT là
một trong những công cụ mà các công ty dùng để tạo ra sự khác biệt về chất
lượng hoạt động của công ty mình so với công ty khác. CBTT là phát tín hiệu
gửi ra thị trường cho người sử dụng BCTC, để họ có thể đánh giá tình hình
hoạt động của DN một cách phù hợp (xem Nguyễn Thị Thu Hảo, 2015).
Lý thuyết tín hiệu giải thích các DN có khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn nhà đầu tư; và trong bố cảnh đó DN sẽ tiết


12

lộ thông tin nhiều hơn nhằm truyền tín hiệu đến các nhà đầu tư, cổ đông
(Singhvi và Desai, 1971; Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016).

1.2.3. Lý thuyết đại diện
Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling năm 1976
(Nguyễn Hữu Cường, 2017), lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên
ủy quyền và bên được ủy quyền. Theo lý thuyết này thì chi phí đại diện và bất
đối xứng thông tin phát sinh do sự tách rời giữa quyền sở hữu (nhà đầu tư) và
quyền kiểm soát (nhà quản lý). Chi phí đại diện phát sinh khi ban giám đốc
thực hiện những hoạt động nhằm mục đích mang lại lợi ích riêng cho họ thay
vì những hoạt động có lợi cho các cổ đông, thông qua việc điều chỉnh mức độ
CBTT dẫn đến các quyết định của nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng.
Áp dụng lý thuyết đại diện các nghiên cứu trước đã lý giải ảnh hưởng
của các nhân tố khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính đến mức độ CBTT, có
thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hảo (2015).
1.2.4. Lý thuyết kinh tế thông tin
Lý thuyết kinh tế thông tin đã được áp dụng từ những năm 1970 để đánh
giá mức độ mà thị trường tài chính cũng như các tổ chức khác xử lý và truyền
đạt thông tin. Lý thuyết này được hình thành trên cơ sở của các nghiên cứu về
sự lựa chọn bất lợi trên thị trường sản phẩm do bên bán có thông tin nhiều
hơn người mua, nghiên cứu về bất đối xứng thông tin thông qua phân tích sự
lựa chọn bất lợi trên thị trường lao động của các chủ DN (Spence, 2002).
Nghiên cứu bất đối xứng thông tin trên thị trường bảo hiểm, do người mua
bảo hiểm có lợi thế thông tin hơn về những rủi ro tiềm ẩn của chính họ so với
các DN bán bảo hiểm (xem Rothschild và Stiglitz, 1976).


13

Các nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết kinh tế thông tin để cung cấp bằng
chứng thực nghiệm rằng chiến lược CBTT của các DN là tuân thủ rất thấp đối
với những khoản mục thông tin tốn kém cho dù thông tin này người sử dụng
rất có nhu cầu, như thông tin về hợp nhất kinh doanh, các công cụ tài chính và
các thử nghiệm về tổn thất tài sản (xem Nguyễn Hữu Cường, 2017). Cũng vận
dụng lý thuyết kinh tế thông tin, theo nghiên cứu của Nguyen (2015) đã kiểm
chứng ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ trì hoãn CBTT.
1.2.5. Lý thuyết các bên liên quan
Lý thuyết các bên liên quan được hình thành trong nghiên cứu của
Freeman (1984), đây là lý thuyết về quản trị tổ chức và đạo đức kinh doanh.
Nó đề cập tới đạo đức và các giá trị trong quản trị tổ chức. Trong lý thuyết
này, khái niệm "các bên liên quan" là bất kỳ cá nhân hay nhóm người bị ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi những hành động của tổ chức. Lý thuyết
các bên liên quan cho rằng, ngoài các cổ đông còn có các đối tượng khác có
liên quan đến quá trình hoạt động DN bao gồm cơ quan chính phủ, các nhóm
chính trị, các hiệp hội thương mại, công đoàn, cộng đồng, các công ty liên
quan, khách hàng tiềm năng, và công chúng. Từ quan điểm đạo đức, tổ chức
có nghĩa vụ phải đối xử công bằng giữa các bên liên quan. Trong trường hợp,
các bên liên quan xung đột lợi ích, DN phải có nghĩa vụ đạt được sự cân bằng
tối ưu giữa chúng. Từ quan điểm quản trị, vai trò quan trọng của quản lý là để
đánh giá tầm quan trọng, của việc đáp ứng nhu cầu các bên liên quan để đạt
được mục tiêu chiến lược của DN. Do kỳ vọng và mối quan hệ quyền lực của
các bên liên quan thì luôn thay đổi theo thời gian, nên tổ chức phải liên tục
điều chỉnh các chiến lược điều hành và CBTT để đáp ứng nhu cầu của các bên
liên quan. Lý thuyết này được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá nhóm nhân tố
áp lực từ phía các bên liên quan ảnh hưởng tới CBTT (Hoàng Thị Bích Ngọc,
2017).


14

1.3. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ LỢI
NHUẬN TRÊN MỖI CỔ PHIẾU
Các nghiên cứu có liên quan đến việc kiểm chứng ảnh hưởng của các
nhân tố đến mức độ CBTT về EPS trên BCTC còn khan hiếm nên luận văn có
đề cập đến các nghiên cứu về CBTT chung trong BCTC để làm cơ sở xây
dựng các giả thuyết nghiên cứu ở chương tiếp theo.
Các nhân tố thường được các nghiên cứu trước về CBTT trong BCTC
gồm: mức độ trì hoãn việc công bố các BCTC, đòn bẩy tài chính, khả năng
sinh lời, khả năng thanh toán nhanh, chủ thể kiểm toán (soát xét) các BCTC,
thời gian niêm yết của DN và quy mô DN.
1.3.1. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của nhân tố mức độ trì hoãn công bố
báo cáo tài chính
Mức độ trì hoãn công bố BCTC được đo bằng tỉ lệ giữa độ trễ thực tế so
với độ trễ lý thuyết. Độ trễ thực tế là số ngày từ khi kết thúc kì kế toán (năm,
giữa niên độ) đến khi SGDCK nhận được BCTC, còn độ trễ lý thuyết được
quy định theo các văn bản pháp luật có liên quan (Nguyen, 2015).
Có rất ít bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa mức độ trì hoãn và
CBTT. Chẳng hạn như Tower và cộng sự (1999), nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng đến mức độ tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) ở sáu nước
châu Á. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ ngược chiều giữa độ trể
về CBTT và mức độ CBTT trên BCTC năm của các CTNY. Tuy nhiên, trong
nghiên cứu trên thì độ trể thực tế là ngày kết thúc niên độ BCTC đến ngày
BCTC được công bố, sự chênh lệch về độ trể thực tế so với thời gian quy định
không được tính đến.
Kết quả nghiên cứu của Nguyen (2015) cho thấy đối với CBTT trên
BCTC giữa niên độ thì mức độ CBTT cao hơn ở các CTNY có thời gian phát


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×