Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành thiết bị, vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán việt nam

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

HÀ THỊ KIM PHƢỢNG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH THIẾT BỊ,
VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2018


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

HÀ THỊ KIM PHƢỢNG


NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT THUỘC NHÓM NGÀNH THIẾT BỊ,
VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. TRƢƠNG BÁ THANH

Đà Nẵng - Năm 2018



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................. 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .............................................. 3
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu .............................................................. 4
7. Kết cấu của đề tài .................................................................................. 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH THANH KHOẢN ............. 9
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN ................................... 9
1.1.1. Khái niệm về tính thanh khoản ................................................................. 9
1.1.2. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty ..........................................10
1.1.3. Lý thuyết ƣu chuộng về khả năng thanh khoản.....................................12
1.1.4. Lý thuyết ngƣời đại diện (The agency theory) ......................................15
1.1.5. Các chỉ số đo lƣờng khả năng thanh khoản ...........................................17
1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA
DOANH NGHIỆP ........................................................................................... 24
1.2.1. Quy mô doanh nghiệp ..............................................................................24
1.2.2. Tổng nợ......................................................................................................25
1.2.3. Tỷ lệ nợ ngắn hạn .....................................................................................26
1.2.4. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh chia cho tổng tài sản, thu nhập từ
hoạt động kinh doanh chia cho doanh thu .................................................................27
1.2.5. Tỷ lệ hàng tồn kho và tổng tài sản cố định chia tổng tài sản ................29
1.2.6. Hệ số giá ghi sổ trên giá thị trƣờng .........................................................29


1.2.7 Doanh thu ...................................................................................................31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 32
CHƢƠNG 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
THUỘC NHÓM NGÀNH TBVLXD TRÊN TTCK VIỆT NAM ............ 33
2.1. TỔNG QUAN VỀ NHÓM NGÀNH TBVLXD TRÊN TTCK VIỆT
NAM................................................................................................................ 33
2.2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ...................................................................... 39
2.2.1. Câu hỏi nghiên cứu...................................................................................39
2.2.2. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu ..........................................................39
2.2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu .........................................................................41
2.2.4. Thu thập số liệu.........................................................................................43
2.2.5. Phân tích dữ liệu .......................................................................................44
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 50
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU............................................................................................... 51
3.1. THỰC TRẠNG TÍNH THANH KHOẢN CỦA CÁC CÔNG TY NHÓM
NGÀNH TBVLXD VIỆT NAM NIÊM YẾT TRÊN TTCK VIỆT NAM ..... 51
3.2. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................ 53
3.2.1. Thống kê mô tả .........................................................................................53
3.2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản.........................54
3.3. HÀM Ý TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................. 63
3.3.1. Xây dựng cấu trúc vốn hợp lý .................................................................64
3.3.2. Đẩy mạnh vòng quay hàng tồn kho ........................................................66
3.3.3. Xem xét, thay đổi tình hình sử dụng nợ vay ..........................................67
3.3.4. Có chính sách về cấu trúc tài sản hợp lý ................................................68
3.3.5. Tăng cƣờng chất lƣợng quản trị tín dụng ...............................................69


3.3.6. Lên kế hoạch hợp lý khi có biến động doanh thu..................................74
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI ĐỊA PHƢƠNG VÀ NHÀ NƢỚC...... 75
3.4.1. Các giải pháp giúp đẩy mạnh hoạt động của thị trƣờng mua bán nợ ..75
3.4.2. NHNN cần có chính sách khuyến khích TCTD tự chuyển nợ xấu
thành vốn góp ...............................................................................................................76
3.4.3. Các biện pháp từ chính các TCTD..........................................................77
3.4.4. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ............................................79
3.4.5. Các cơ quan Nhà nƣớc cần tăng cƣờng thúc đẩy nguồn vốn đầu tƣ cho
các doanh nghiệp TBVLXD .......................................................................................80
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 82
KẾT LUẬN .................................................................................................... 83
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ý nghĩa

Ký hiệu
VIF

Hệ số phóng đại phƣơng sai

TBVLXD Thiết bị vật liệu xây dựng
TTCK

Thị trƣờng chứng khoán

TCTD

Tổ chức tín dụng

NHNN

Ngân hàng nhà nƣớc


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

2.1.

Mã hóa các biến quan sát

42

3.1.

Bảng thống kê mô tả chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện

52

hành
3.2.

Kết quả thống kê mô tả

53

3.3.

Ma trận tƣơng quan giữa các biến

55

3.4.

Độ phù hợp của mô hình

57

3.5.

Ma trận tƣơng quan giữa các biến

58

3.6.

Giá trị Vif trong mô hình

59

3.7.

Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu

60


DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu
hình

Tên hình

Trang

2.1

Tốc độ phát triển ngành xây dựng Việt Nam

34

2.2

Cơ cấu đóng góp của các nhóm ngành

35

2.3

10 ngành có chỉ số ROE, ROA trung bình cao nhất

36

trong BXH V1000 năm 2013
2.4

10 ngành có hệ số Nợ/ Tổng tài sản trung bình lớn nhất

36

trong BXH V1000 năm 2013
2.5

Quy trình nghiên cứu đề tài

44


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh khoản là chỉ số đo lƣờng khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của
công ty, bao gồm: Tỷ số thanh khoản hiện thời (Current ratio) và tỷ số thanh
khoản nhanh (Quick ratio) (Nguyễn Minh Kiều, 2011). Một công ty có khả
năng thanh khoản tốt tức là công ty đó có thể chi trả các khoản nợ ngắn hạn,
ngƣợc lại, nếu tính thanh khoản của công ty kém công ty có thể mất đi những
cơ hội đầu tƣ, hạn chế khả năng quản lý điều hành cũng nhƣ có thể làm giảm
uy tín của công ty đó trên thị trƣờng, nguồn vốn bị ứ đọng, và công ty có thể
lâm vào tình trạng phá sản. Do đó, tính thanh khoản luôn là vấn đề cần đƣợc
các công ty quan tâm hàng đầu.
Hiện nay trong quan hệ thanh toán, hầu hết các doanh nghiệp (doanh
nghiệp) đều có xu hƣớng thực hiện việc tài trợ vốn thông qua vay nợ ngắn
hạn. Vấn đề đặt ra là liệu doanh nghiệp có khả năng thanh toán và thanh toán
đúng hạn các khoản nợ? Đây là câu hỏi, không chỉ bản thân doanh nghiệp mà
các ngân hàng, nhà cung cấp, nhà đầu tƣ,... cũng rất quan tâm. Cụ thể, nhà
đầu tƣ quan tâm đến tính thanh khoản vì nó quyết định đến chi phí thực hiện
các giao dịch của họ; ngân hàng và nhà cung cấp quan tâm đến tính thanh
khoản vì nó quyết định khả năng chi trả của doanh nghiệp.
Nắm bắt đƣợc vấn đề này, nhiều phân tích nghiên cứu về tính thanh
khoản của các công ty nói chung đã đƣợc thực hiện. Kết quả đã chỉ ra dòng
tiền hoạt động, tỷ lệ vốn lƣu động đƣợc xem là một trong yếu tố ảnh hƣởng
lớn đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bên cạnh đó còn
phải kể đến quy mô nhỏ lẻ của doanh nghiệp, khả năng cung thanh khoản và
các chính sách tài khóa của Chính phủ,…


2
Tuy nhiên, đối với mỗi ngành khác nhau thì có những đặc trƣng riêng
biệt do đó tính thanh khoản cần đƣợc đánh giá dựa trên tính đặc thù lĩnh vực
hoạt động của công ty, nhất là đối với các công ty hoạt động trong những
ngành thâm dụng vốn nhƣ ngành thiết bị, vật liệu xây dựng (TBVLXD). Nhận
thức đƣợc vai trò quan trọng của tính thanh khoản cũng nhƣ hiểu đƣợc những
nguyên nhân cốt lõi cũng nhƣ các yếu tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của
doanh nghiệp thời gian qua các công ty trong ngành TBVLXD đã có sự chú ý
quan tâm đến vấn đề này và đƣa ra những chính sách cơ cấu vốn nhằm gia
tăng tính thanh khoản của doanh nghiệp nhƣng vẫn chƣa đạt đƣợc hiệu quả
nhƣ mong đợi. Do đó, cần có những nghiên cứu thực nghiệm đánh giá một
cách tổng thể về những nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công
ty thuộc nhóm ngành này là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Trên cơ sở đó thì đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến tính
thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành thiết bị, vật liệu
xây dựng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” của tác giả là hết sức
cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến tính thanh khoản của
các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đƣa ra một số hàm ý chính sách và khuyến
nghị gia tăng khả năng thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm
ngành TBVLXD trên TTCK Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tƣợng nghiên cứu: những nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh
khoản của các các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK
Việt Nam.


3
 Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên
TTCK Việt Nam.
+ Thời gian: trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
 Phƣơng pháp thu thập thông tin: Tác giả lựa chọn, thu thập dữ liệu và
tính toán các chỉ tiêu tài chính trên cơ sở các báo cáo tài chính (BCTC) chủ
yếu từ năm 2010 đến năm 2016 của công ty niêm yết thuộc nhóm ngành
TBVLXD trên TTCK Việt Nam.
 Phƣơng pháp xử lý thông tin đƣợc thu thập:
+ Tác giả sử dụng phƣơng pháp phân tích tổng hợp và phƣơng pháp so
sánh đối chiếu để phân tích kết quả.
+ Sử dụng phƣơng pháp thống kê miêu tả, phân tích mô hình hồi quy đa
biến trên cơ sở xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
 Về mặt khoa học, đề tài góp phần tham gia vào việc hoàn thiện mô
hình xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các các công
ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD vốn có rất ít nghiên cứu chuyên sâu
trong lĩnh vực này.
 Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các công ty
niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên TTCK nói riêng và các công ty
thuộc nhóm ngành TBVLXD nói chung đề ra phƣơng hƣớng, chiến lƣợc, giải
pháp để nâng cao khả năng thanh khoản thông qua kế hoạch cải thiện các
nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của công ty.


4
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiểu rõ đƣợc tầm quan trọng về tính thanh khoản, một trong những yếu
tố có thể đảm bảo khả năng sống còn của công ty, trong quá khứ đã có nhiều
tác giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về tính thanh khoản và các nhân tố
ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác
nhau, áp dụng đa dạng các phƣơng pháp nghiên cứu. Trong quá trình thực
hiện nghiên cứu tác giả tham khảo một số tài liệu và nghiên cứu:
Khi nghiên cứu về tính thanh khoản cần nhắc đến một trong những lý
thuyết nổi bật trong “The General Theory of Employment, Interest and
Money” (Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ) của Keynes là “Lý
thuyết ƣa chuộng tính thanh khoản”. Ông đƣa ra ba động cơ lý giải cho mục
đích nắm giữ tiền mặt của con ngƣời, đó là: giao dịch, dự phòng và đầu cơ.
Học thuyết đã trở thành nền tảng lý thuyết cho nhiều nghiên cứu sau này.
Bruinshoofd và Kool (2004) đã tiến hành thực nghiệm về khả năng thanh
khoản ngắn hạn của các công ty Hà Lan. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu 453
doanh nghiệp giai đoạn 1986–1997. Các tác giả xem xét yếu tố quy mô, vốn
lƣu động, tài sản, doanh thu, tổng nợ, nợ ngắn hạn, đầu tƣ, lợi nhuận trên tài
sản, thu nhập không chắc chắn, lãi suất bình quân là biến độc lập. Kết quả cho
thấy vốn lƣu động, đầu tƣ và lợi nhuận trên tài sản lại có tác động tiêu cực
đến khả năng thanh khoản của công ty.
Opler và cộng sự (1999) đã thực nghiệm các yếu tố tác động đến thanh
khoản của 1048 công ty Mỹ từ 1971 đến 1994. Kết quả cho thấy thanh khoản
có mối tƣơng quan ngƣợc chiều đến quy mô, vốn lƣu động, đòn bẩy, chi trả
cổ tức. Ở chiều ngƣợc lại, tỷ lệ dòng tiền/tài sản, tỷ lệ chi tiêu vốn/tổng tài
sản, rủi ro ngành, và tỷ lệ chi phí nghiên cứu phát triển/doanh thu có tƣơng


5
quan cùng chiều với thanh khoản. Các tác giả kết luận rằng các công ty lớn có
tiếp cận thị trƣờng vốn tốt hơn sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn, sẽ khiến chỉ số
thanh khoản kém hơn.
Kim, Mauer và Sherman (1998) nghiên cứu những yếu tố quyết định tính
thanh khoản của công ty. Họ thu thập mẫu gồm 915 công ty công nghiệp ở
Mỹ trong giai đoạn 1975-1994. Kim, Mauer và Sherman dự đoán rằng có mối
quan hệ tích cực giữa chi phí tài chính (CPTC) bên ngoài và đầu tƣ vào tài sản
lƣu động. Họ cũng dự đoán rằng các công ty có biến động dòng tiền lớn có xu
hƣớng đầu tƣ vào tài sản lƣu động nhiều hơn. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng
chỉ ra tính thanh khoản của công ty có mối quan hệ tích cực với tỷ suất sinh
lời của tài sản.
Với mẫu nghiên cứu trong 3 năm 2008–2010, Gill và Mathur (2011) đã
chọn 164 công ty trên TTCK Toronto, Canada nhằm tìm ra các yếu tố tác
động đến thanh khoản của công ty. Quy mô, vốn lƣu động ròng, tỷ lệ nợ, nợ
ngắn hạn, tỷ lệ đầu tƣ và yếu tố ngành có tác động đến thanh khoản của công
ty. Các biến có tác động ngƣợc chiều đến thanh khoản là tỷ lệ nợ, vốn lƣu
động ròng và tỷ lệ đầu tƣ.
Muhammad Usama (2012) phân tích quản lý vốn lƣu động và nghiên
cứu ảnh hƣởng của vốn lƣu động đến lợi nhuận và thanh khoản của công ty.
Usama lấy mẫu gồm 18 công ty thuộc ngành thực phẩm đƣợc niêm yết trên
TTCK Karachi trong thời gian từ 2006-2010. Usama kiểm tra tác động của
quy mô, kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả nợ bình quân, vòng quay hàng tồn kho,
tỷ lệ nợ đến lợi nhuận và thanh khoản của các công ty. Qua phân tích hồi quy,
kết quả cho thấy có tác động tích cực của quy mô đến lợi nhuận và thanh
khoản, trong khi kỳ thu tiền bình quân có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của
công ty.


6
Niaz Ahmed Bhutto và các cộng sự (2011) nghiên cứu mối quan hệ giữa
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với quy mô công ty, vốn lƣu động và lợi nhuận
của các công ty ngành công nghiệp ở Pakistan. Dữ liệu thu thập đƣợc từ các
BCTC năm 2009 của 157 công ty đại chúng đƣợc niêm yết trên sàn chứng
khoán Karachi. Nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ tiêu cực giữa chiều dài
chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), nhƣng
có mối quan hệ tích cực với quy mô và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Isshaq và Bokpin (2009) thu thập dữ liệu hàng năm giai đoạn 1991-2007
tại Ghana để đánh giá mối quan hệ giữa thanh khoản, quy mô, vốn lƣu động,
tỷ lệ đầu tƣ và lợi nhuận trên tài sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô, lợi
nhuận trên tài sản, vốn lƣu động và tỷ lệ đầu tƣ có mối quan hệ cùng chiều
với khả năng thanh khoản của công ty.
Chen và Mahajan (2010) nghiên cứu các công ty từ 45 quốc gia giai
đoạn 1994-2005. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá khả năng thanh khoản của
công ty thông qua biến quy mô, dòng tiền/tài sản, vốn lƣu động/tài sản, chi
phí vốn/tài sản, tỷ lệ nợ, chi trả cổ tức. Nghiên cứu cho thấy dòng tiền có tác
động cùng chiều trong khi vốn lƣu động/tài sản và tỷ lệ nợ có tác động ngƣợc
chiều với khả năng thanh khoản.
Ferreira và Vilela (2004) nghiên cứu các yếu tố quyết định tính thanh
khoản của 400 công ty tại 12 quốc gia EU bao gồm Đức, Áo, Pháp, Hy Lạp,
Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Bỉ, Ireland, Phần Lan và Luxemburg
giai đoạn 1987-2000. Kết quả cho thấy tính thanh khoản chịu ảnh hƣởng cùng
chiều với cơ hội đầu tƣ và lƣu chuyển tiền tệ của công ty. Trong khi đó, đòn
bẩy, quy mô công ty và nợ có ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến tính thanh khoản.
Ở Việt Nam, bài báo của PGS.TS.Trƣơng Quang Thông (2013) nghiên


7
cứu “Các nhân tố tác động đến rủi ro thanh khoản của hệ thống ngân hàng
thƣơng mại Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản ngân
hàng không những phụ thuộc vào các yếu tố bên trong hệ thống ngân hàng
nhƣ quy mô tổng tài sản, dự trữ thanh khoản, vay liên ngân hàng và tỷ lệ vốn
tự có trên nguồn vốn mà còn chịu sự tác động của các biến kinh tế vĩ mô nhƣ
tăng trƣởng kinh tế, lạm phát.
Năm 2014 Nguyễn Đình Thiên, Nguyễn Thị Mai Trâm, Nguyễn Hồng
Thu đã nghiên cứu định lƣợng các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản
của các công ty đang niêm yết (trừ các tổ chức tài chính) tại TTCK Việt Nam
(HOSE, HNX). Dữ liệu nghiên cứu đƣợc trích từ BCTC từ năm 2007 – 2013.
Nghiên cứu đã cho thấy khả năng thanh khoản của các doanh nghiệp niêm yết
giai đoạn 2007 – 2013 bị ảnh hƣởng nhiều nhất từ tỷ lệ vốn lƣu động thuần và
tỷ số P/B. Các yếu tố trên cũng có tƣơng tác cùng chiều với khả năng thanh
khoản bên cạnh tỷ số P/E và tỷ lệ lƣu chuyển tiền thuần. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ
và tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có tƣơng quan âm đến khả năng thanh
khoản.
Tuy nhiên các nghiên cứu trên hầu nhƣ chƣa đề cập đánh giá các nhân
tố ảnh hƣởng đến tính thanh khoản của các công ty hoạt động riêng biệt trong
ngành TBVLXD; một lĩnh vực hoạt động có đặc điểm giá trị hàng tồn kho lớn
dẫn đến khả năng thanh toán hiện thời cao nhƣng vẫn gặp rủi ro thanh khoản.
Do đó, nghiên cứu này thực hiện trong phạm vi 550 mẫu đƣợc thu thập từ 50
công ty thuộc nhóm ngành TBVLXD niêm yết trên TTCK đễ làm rõ hơn vấn
đề trên.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng:


8
Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về tính thanh khoản
Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến tính
thanh khoản của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành TBVLXD trên
TTCK Việt Nam
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và hàm ý từ kết quả nghiên cứu


9
CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH THANH KHOẢN
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN
1.1.1. Khái niệm về tính thanh khoản
Theo Shim và Siegel (2000, trang 46-47) tính thanh khoản là khả năng
thanh lý nợ ngắn hạn phát sinh của công ty (trong vòng một năm). Đảm bảo
tính thanh khoản cao không những là mục tiêu của công ty mà là một điều
kiện mà không có điều đó không thể đạt đƣợc sự liên tục của một doanh
nghiệp.
Khả năng thanh toán và thanh khoản là hai khái niệm liên quan chặt
chẽ và phản ánh chính sách vốn lƣu động của công ty. Mức thanh khoản thấp
có thể dẫn đến tăng chi phí tài chính và dẫn đến việc không có khả năng thanh
toán. (Maness & Zietlow 2005, trang 25)
Thực tế giữ tỷ lệ thanh toán của công ty cao hơn 1,0 là cần thiết. Điều
này chứng tỏ khả năng trả nợ ngắn hạn theo cam kết của các doanh nghiệp,
với việc thanh lý tài sản ngắn hạn. Bất kỳ tỷ lệ dƣới 1,0 có thể có nghĩa là
doanh nghiệp có thể không tạo ra đƣợc tiền đủ để đáp ứng các nghĩa vụ thanh
toán ngắn hạn (Morrel, 2007, trang 65). Tuy nhiên, nhƣ Matarazzo (2003,
trang 54) đã nhấn mạnh, "nếu một nhà phân tích đang quan sát bảng cân đối
của công ty và phải đối mặt với tỷ lệ thanh khoản dƣới 1,0, về nguyên tắc,
ông sẽ không thể trả nợ đúng hạn". Theo tác giả, tỷ lệ thanh khoản sẽ đƣợc
hiểu là một chỉ số về mức độ độc lập của công ty đối với các chủ nợ và khả
năng đối mặt với khủng hoảng và những khó khăn bất ngờ.
Một khẳng định chung khác là thanh khoản cao chƣa hẳn là kết quả tốt
hơn là thanh khoản thấp, có nghĩa là quản lý kém tài chính. Theo Matarazzo


10
(2003, trang 55), tính thanh khoản không cao không phải lúc nào cũng là dấu
hiệu của quản lý tài chính kém. Nếu tỷ lệ hiện tại cao trong một khoản nợ
ngắn hạn, nó có thể là một dấu hiệu của một tổ chức khôn ngoan, tránh chi
phí tài chính cho vay ngân hàng, hoặc thậm chí một chiến lƣợc giảm giá tốt
với nhà cung cấp khi thanh toán bằng tiền mặt. Cũng có thể là trƣờng hợp
mức tồn kho cao là một phần của các đặc tính hoạt động của công ty. Ví dụ,
hàng tồn kho là đăc tính của ngành TBVLXD.
Trong thế giới kinh doanh, tồn tại nhu cầu cao về tính thanh khoản của
công ty, và trên thực tế các doanh nghiệp thuộc ngành tài chính và công
nghiệp quản lý các nhu cầu thanh khoản theo nhiều cách để thực hiện các kế
hoạch sản xuất và đầu tƣ trong tƣơng lai một cách hiệu quả mà không bị đình
trệ bởi sự thiếu hụt thanh khoản nhất thời.
Nhà đầu tƣ có thể hiểu đƣợc khả năng thanh khoản bằng cách phân tích
các BCTC của một công ty. Các chỉ tiêu tài chính sau đƣợc yêu cầu phải xác
định đƣợc để có thể đánh giá khả năng thanh khoản của một công ty: Tài sản
ngắn hạn và Nợ ngắn hạn.
1.1.2. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong công ty
Một công ty không thể tiếp tục giữ đúng nghĩa vụ thanh toán và không
thể trả nợ đúng hạn của mình đối với các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và
hàng hóa thì công ty đó có thể đang rơi vào tình trạng yếu kém hoặc bị phá
sản. Không có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn có thể ảnh hƣởng
đến hoạt động của công ty và trong nhiều trƣờng hợp có thể ảnh hƣởng nhiều
đến uy tín của công ty.
Thiếu tài sản lƣu động hoặc tiền mặt trong tay sẽ làm cho doanh nghiệp
bỏ lỡ những ƣu đãi đƣợc đƣa ra bởi các nhà cung cấp tín dụng, dịch vụ và


11
hàng hóa. Mất ƣu đãi nhƣ vậy có thể dẫn đến chi phí cao hơn do đó lợi nhuận
của doanh nghiệp bị ảnh hƣởng.
Tất cả các bên liên quan đều quan tâm đến khả năng thanh toán của một
công ty. Các nhà cung cấp tín dụng, hàng hóa và dịch vụ sẽ kiểm tra tính
thanh khoản của công ty trƣớc khi bán chịu hay cho vay. Đôi khi các ngân
hàng yêu cầu thanh khoản bởi khi họ đánh giá một khoản cho vay. Nếu một
công ty cần một khoản vay, ngân hàng có thể sẽ yêu cầu công ty đó duy trì
mức thanh khoản tối thiểu nhất định, nhƣ một phần của thỏa thuận cho vay.
Vì lý do đó, các bƣớc cải thiện thanh khoản là cần thiết.
Các nhân viên cũng quan tâm đến tính thanh khoản của công ty để biết
liệu các công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ liên quan đến các nhân viên của
mình nhƣ: tiền lƣơng, lƣơng hƣu, quỹ tích lũy...
Tính thanh khoản đƣợc các cổ đông quan tâm đến do tác động rất lớn
của nó đến lợi nhuận. Các cổ đông có thể không thích tính thanh khoản cao
khi lợi nhuận đƣợc chia cho các cổ đông và thanh khoản có mối quan hệ tỷ lệ
nghịch. Tuy nhiên, các cổ đông cũng nhận thức đƣợc rằng không có khả năng
thanh khoản sẽ làm cho công ty mất đi những ƣu đãi từ các nhà cung cấp, các
tổ chức cho vay và ngân hàng; và thậm chí công ty có thể bị phá sản nếu nhƣ
bị mất tính thanh khoản.
Nhƣ vậy, trong hoạt động kinh doanh có thể nói rằng tính thanh khoản là
mạch máu duy trì sự sống của công ty. Một khi công ty bị mất tính thanh
khoản thì sẽ không thể thanh toán đƣợc các khoản nợ và tất nhiên sẽ rơi vào
tình trạng vỡ nợ. Lúc này nếu doanh nghiệp không kịp thời khôi phục đƣợc
tính thanh khoản thì khoảng cách giữa vỡ nợ và phá sản chỉ là vấn đề về thời
gian. Do đó, để tránh đƣợc các rủi ro thanh khoản trong tƣơng lai, các nhà
quản lý kinh doanh phải hiểu rõ về tính thanh khoản của công ty.


12
1.1.3. Lý thuyết ƣu chuộng về khả năng thanh khoản
Lý thuyết ƣu chuộng về khả năng thanh khoản cho biết chi tiết rằng lợi
tức trên trái phiếu của chính phủ là một tài sản có sự gia tăng lên theo thời
gian đến khi đáo hạn. Các trái phiếu có thời hạn ngắn thƣờng có lãi suất thấp
và trái phiếu có thời gian đáo hạn dài thƣờng có lãi suất thấp hơn. Theo lý giải
của lý thuyết ƣu chuộng về khả năng thanh khoản thì các trái phiếu dài hạn có
nhiều rủi ro hơn; có nghĩa là nhà đầu tƣ dễ bị ảnh hƣởng bởi biến động trong
lãi suất hơn trái phiếu ngắn hạn và các cá nhân cần đƣợc bù đắp cho rủi ro
trong việc giữ các trái phiếu này, và khả năng dự đoán thấp hơn. (Boudoukh
và Matthew, Tom và Robert, 1999)
Lý thuyết ƣu chuộng về khả năng thanh khoản định hƣớng về những
lựa chọn nhà đầu tƣ đƣợc thực hiện trên đánh giá toàn bộ tài sản tài chính,
hoặc các tài sản khác. Lý thuyết ƣu chuộng về khả năng thanh khoản đã đƣa
ra các lựa chọn để các nhà đầu tƣ xác định số tiền đầu tƣ vào tài sản tài chính
và liên quan đến việc phân phối số tiền này giữa tiền mặt và tài sản tài chính
thay thế. Một vấn đề có thể đƣợc xác định ở đây; đó là, tại sao bất kỳ số dƣ
phải đƣợc giữ bằng tiền mặt, mặc dù tài sản tài chính khác? Tác giả phân biệt
hai nguồn có thể ƣu tiên thanh khoản, trong khi thừa nhận rằng những điều
này không loại trừ lẫn nhau. Thứ nhất là không biến đổi về lãi suất trong
tƣơng lai. Thứ hai là có sự biến đổi của lãi suất trong tƣơng lai. (Tobin, 1958)
Tobin (1958) cho rằng ƣu tiên thanh khoản là lý thuyết về danh mục
thuận lợi nhất trong một thế giới tài sản (tiền, trái phiếu) trong đó một tài sản
(tiền) không có rủi ro. Kết luận cơ bản về lý thuyết của Tobin về ƣu đãi thanh
khoản và sự lựa chọn danh mục đầu tƣ dựa trên các thuộc tính tài sản.
Theo Lachmann (1937), sự không chắc chắn phải đƣợc xem xét nhƣ là


13
yếu tố quyết định quan trọng nhất cho sự biến động về quy mô của số dƣ tiền
mặt, tức là nguyên nhân chính của ƣu tiên thanh khoản. Tuy nhiên, mối liên
hệ nhân quả giữa sự không chắc chắn và sự ƣu chuộng thanh khoản trong các
nghiên cứu quá khứ không thành công. Có thể sự thất bại của tác giả trong
việc thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa sự không chắc chắn và sự ƣa thích
về thanh khoản là do tác giả đã sử dụng từ không chắc chắn trong một khái
niệm quá rộng và quá vô hạn. Tuy nhiên nỗ lực để xác định mối liên hệ nhân
quả giữa sự không chắc chắn và sở thích về thanh khoản đến nay đã đƣợc
chứng minh.
Keynes (1936) đã công bố rằng ƣu chuộng thanh khoản là một phản
ứng kinh tế không thể thiếu đƣợc để đối phó với những rủi ro có thể xảy ra
trong tƣơng lai. Tính thanh khoản đƣợc đánh giá cao trong một tổ chức thiếu
quyết đoán vì nó cho phép các đơn vị kinh tế đƣợc ƣu tiên không gặp phải sự
khó khăn cho tƣơng lai trong những biến động của nền kinh tế. Nó giúp cho
các doanh nghiệp tổ chức lại các kế hoạch kinh tế của họ, phân phối lại tài sản
của họ trong tƣơng lai. Tóm lại, lý thuyết về tính thanh khoản của Keynes
(1936) thể hiện tầm quan trọng trung tâm rủi ro theo thời gian đối với tính
thanh khoản và ƣu tiên thanh khoản.
Theo thuyết ƣu chuộng thanh khoản của Keynes (1936), các cơ quan
chức năng đã đạt đƣợc các mục tiêu mà tác giả hiểu đƣợc về tác động lãi suất,
dựa trên cơ sở ƣu tiên thanh khoản. Lãi suất thay đổi không chỉ thông qua
thay đổi tỷ lệ tiền mặt mà ngân hàng trung ƣơng quy định cho các ngân hàng
giữ lại, mà còn bằng các hoạt động thị trƣờng mở: bán hoặc mua chứng khoán
giữa ngân hàng trung ƣơng và các thành viên thị trƣờng khác.
Kaldor (1939) đã quan sát thấy rằng sự ƣu chuộng thanh khoản nhƣ là


14
một lý thuyết về nhu cầu tiền bạc đã đóng góp to lớn cho việc hoàn thành
thuyết tiền tệ. Nhu cầu, khả năng cung cấp tiền là yếu tố quyết định chính cho
hoạt động kinh tế. Tác giả Kaldor (1939) nhấn mạnh rằng ƣu tiên thanh khoản là
một lý thuyết cho thấy mong muốn giữ tài sản ngắn hạn, dài hạn và tình trạng ƣu
chuộng thanh khoản chủ yếu do năng suất kinh doanh. (Mott, 1985-1986)
Theo Reilly và Keith (2005), lý thuyết ƣu đãi về thanh khoản cho rằng
lợi nhuận cao hơn phải đƣợc đầu tƣ lâu dài hơn so với các khoản đầu tƣ ngắn
hạn bởi vì các khoản đầu tƣ ngắn hạn đã đƣợc các nhà đầu tƣ thực hiện để
tránh sự biến động rủi ro. Một cách khác để giải thích giả thuyết về tính ƣu
chuộng thanh khoản là nói rằng các nhà cho vay ƣa thích các khoản vay ngắn
hạn và, để khiến họ cho vay dài hạn, cần phải mang lại lãi suất cao hơn. Lý
thuyết ƣu đãi về tính thanh khoản cũng đƣợc gọi là Thuật ngữ Tiền tệ Đặc
quyền (Term Premium Theory) và khẳng định rằng sự không chắc chắn và
biến động làm cho các nhà đầu tƣ ƣa thích các cổ phiếu ngắn hạn hơn đối với
cổ phiếu có kỳ hạn dài hơn bởi vì chứng khoán ngắn hạn ít biến động hơn và
có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt dự đoán nếu xảy ra sự kiện không
lƣờng trƣớc đƣợc xảy ra. Lý thuyết này lập luận rằng đƣờng cong năng suất
nhìn chung dốc lên và bất kỳ hình dạng nào khác cần đƣợc xem nhƣ một độ
lệch tạm thời. Để xem lý thuyết ƣu chuộng thanh khoản dự đoán lợi nhuận
trong tƣơng lai và cách bù đắp. Lý thuyết về ƣu chuộng thanh khoản cho thấy
các nhà đầu tƣ đã cộng thêm phí bảo hiểm thanh khoản lên các tỷ lệ kế tiếp để
lấy đƣợc lãi suất thực tế trên thị trƣờng. Ví dụ, các nhà đầu tƣ có thể đạt tỷ lệ
6.3%, 7.9%, và 9.0%. Trong thực tế, đƣờng cong năng suất cho thấy một xu
hƣớng đi lên, có nghĩa là, một số sự kết hợp của lý thuyết ƣu chuộng thanh
khoản và lý thuyết kỳ vọng sẽ giải thích chính xác hơn hình dạng của đƣờng


15
cong năng suất hơn. Cụ thể, tỷ lệ lãi suất dài hạn nhà đầu tƣ nhận đƣợc thực tế
thƣờng xuyên có xu hƣớng cao hơn những gì đƣợc hình dung từ giả thuyết kỳ
vọng giá cả. Xu hƣớng này hàm ý sự tồn tại của phí bảo hiểm thanh khoản.
Phí bảo hiểm thanh khoản đƣợc cung cấp để bù đắp cho nhà đầu tƣ dài hạn.
1.1.4. Lý thuyết ngƣời đại diện (The agency theory)
Lý thuyết ngƣời đại diện (The agency theory) năm 1976, Jensen và
Meckling đƣa ra lý thuyết ngƣời đại diện khi nghiên cứu các lý thuyết khái
quát của công ty gồm lý thuyết hành vi quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc
vốn chủ sở hữu. Lý thuyết ngƣời đại diện đề cập đến mối quan hệ giữa một
bên là chủ sở hữu của công ty và một bên khác là nhà quản lý – ngƣời đại
diện thông qua hợp đồng. Khi đó, chủ sở hữu ủy quyền cho ngƣời đại diện
điều hành hoạt động của công ty trong quyền hạn nhất định và hy vọng ngƣời
đại diện làm việc vì lợi ích tốt nhất cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, sự tách biệt
giữa quyền sở hữu và quyền quản lý có thể dẫn đến sẽ xung đột tìm ẩn giữa
chủ sở hữu và nhà quản lý, những mục tiêu của nhà quản lý có thể khác với
các cổ đông. Chủ sở hữu và nhà quản lý đều mong muốn tối đa hóa lợi ích
của mình, nhƣng điều kiện tối đa hóa lợi ích của hai bên có thể khác nhau.
Chủ sở hữu mong muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị
công ty, còn lợi ích của nhà quản lý thƣờng gắn trực tiếp với thu nhập nhận
đƣợc từ lƣơng, thƣởng nên nhà quản lý có thể không luôn hành động vì lợi ích
tốt nhất cho chủ sở hữu. Do đƣợc ủy quyền trực tiếp điều hành họat động của
công ty nên đôi khi nhà quản lý đƣa ra những quyết định nhằm tối đa hóa lợi
ích của mình nhƣ làm tổn hại đến lợi ích của chủ sở hữu (Horne và
Wachowicz, 2008; Jensen và Meckling, 1976). Để đảm bảo nhà quản lý luôn
đƣa ra quyết định tối ƣu với lợi ích của chủ sở hữu thì chủ sở hữu phải có các


16
chính sách đãi ngộ, thƣởng phù hợp và cơ chế giám sát chặt chẽ. Chính sách
đãi ngộ phải liên quan trực tiếp đến những quyết định mang đến lợi ích cho cổ
đông nhƣ thƣởng bằng cổ phiếu ... Lúc này, nhà quản lý sẽ tối đa hóa lợi ích
của họ bằng cách nỗ lực làm cho công ty hoạt động hiệu quả, tạo sự thay đổi
tích cực trong giá cổ phiếu và tăng khối lƣợng giao dịch của cổ phiếu (Jensen
và Meckling, 1976). Liên quan đến lý thuyết ngƣời đại diện, do tách biệt giữa
quyền sở hữu và quyền quản lý làm cho mục tiêu của nhà quản lý có thể khác
với mục tiêu của các cổ đông nên vai trò quản trị công ty của nhóm cổ đông
lớn sẽ đƣợc phát huy tích cực. Lợi ích của nhóm cổ đông lớn sẽ bị ảnh hƣởng
mạnh nếu công ty hoạt động kém hiệu quả nên nhóm cổ đông lớn sẽ tích cực
giám sát nhà quản lý nhằm tối đa hóa lợi ích của họ. Nhóm cổ đông lớn sẽ
gây áp lực để nhà quản lý hoạt động hiệu quả, họ tích cực thực thi quyền bỏ
phiếu của cổ đông để thay thế nhà quản lý kém hiệu quả. Bởi vì cổ phiếu có
tính thanh khoản cao, nhóm cổ đông lớn có thể thực hiện mua bán cổ phiếu
một cách dễ dàng nên khi họ không hài lòng với hoạt động điều hành của nhà
quản lý, họ gây áp lực đối với nhà quản lý, đe dọa sẽ bán cổ phiếu và khi một
khối lƣợng lớn cổ phiếu đƣợc bán ra sẽ làm cho giá cổ phiếu có xu hƣớng
giảm. Khi trách nhiệm của nhà quản lý gắn chặt với giá của cổ phiếu thì nhà
quản lý có thể đối diện với nguy cơ bị cắt giảm thu nhập, cắt chức hoặc sa
thải nếu để cổ phiếu giảm giá. Vì vậy, để ngăn cản nhóm cổ đông lớn bán cổ
phiếu dẫn đến giảm giá cổ phiếu thì nhà quản lý phải đặt lợi ích của họ cùng
với lợi ích của cổ đông, tập trung tạo ra giá trị cho công ty làm cho cổ đông
hài lòng. Lúc này, cổ phiếu có tính thanh khoản cao có tác động nâng cao giá
trị công ty (Edmans và Manso,2011; Edmans và ctg, 2011; Maug, 1998; Dou
và ctg, 2014).


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×