Tải bản đầy đủ

Pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở việt nam hiện nay tt

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ NA

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 9.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019


Công trình được hoàn thành tại:
Học viện khoa học xã hội
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Như Phát


Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Thị Mơ
Phản biện 2: PGS.TS. Dương Đăng Huệ
Phản biện 3: PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại Học viện khoa học xã hội – Viện Hàn lâm
khoa học xã hội Việt Nam.

Vào hồi………..….giờ…………phút,
ngày………tháng……….năm………………..
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội


DANH MỤC BÀI VIẾT VÀ CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ
LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ
1. “Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật Việt
Nam hiện hành” - Tạp chí Tòa án nhân dân, số 22, tháng 12/2017;
trang 40-46.
2. “Assessment of legal framework for state-owned
enterprises and making suggestions” (dịch là: Đánh giá khung pháp
lý về quản trị doanh nghiệp nhà nước và kiến nghị hoàn thiện) - Tạp
chí Công thương số 7, tháng 5/2018; trang 188-194.
3. “The law on transparency, supervision in governancing
Vietnamese enterprises and international” (dịch là: Pháp luật về
minh bạch, giám sát trong quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam và kinh nghiệm quốc tế) - Tạp chí Công thương số 9, tháng
6/2018, trang 32-36.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, quản trị doanh nghiệp là vấn đề thu hút
được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và đang là câu chuyện
mang tính thời sự của các chủ đầu tư cũng như những người quản lý
doanh nghiệp. Song trên thực tế, các nghiên cứu về quản trị doanh
nghiệp thường tập trung chủ yếu vào loại hình công ty cổ phần (CTCP),
đặc biệt là CTCP niêm yết, đại chúng. Cho đến thời điểm DNNN được
nhìn nhận là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước – tức thời điểm Luật
Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực, thì nó chỉ hoạt động dưới một loại
hình duy nhất là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH
MTV). Do đó, xét về mặt hình thức, các quy định về quản trị CTCP gần
như không còn ảnh hưởng nhiều tới DNNN nữa, trong khi quản trị trong
công ty TNHH MTV 100% vốn nhà nước lại chưa được chú trọng theo
những đặc thù của DNNN. Bên cạnh đó, việc tập trung sự nghiên cứu về
quản trị DNNN cần được xem là có tính cấp thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích mà Đề tài hướng tới là
trên cơ sở xác định mô hình lý luận về quản trị DNNN để nhận diện thực
trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về quản trị
doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện
các thể chế pháp lý kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Mong đợi
cuối cùng ở Luận án sẽ là việc đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm
bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật và thi hành pháp luật về
quản trị DNNN ở Việt Nam. Qua đó, Luận án góp phần nâng cao năng
lực quản trị DNNN đồng thời hạn chế những hậu quả kinh tế - xã hội
phát sinh từ những yếu kém trong quản trị DNNN nhằm nâng cao hiệu
1


quả hoạt động kinh doanh của các DNNN hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu bản chất kinh tế, bản
chất pháp lý đặc thù của DNNN, từ đó làm rõ các hệ luỵ lý luận và thực
tiễn về quản trị DNNN theo pháp luật Việt Nam hiện nay; tìm hiểu các
yếu tố chi phối, ảnh hưởng đến quản trị trong DNNN và nội dung cơ bản
của pháp luật Việt Nam về quản trị DNNN; Khảo cứu và so sánh mô
hình, quy định pháp luật, chuẩn mực, thông lệ quốc tế về quản trị
DNNN; Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật
về quản trị DNNN để từ đó chỉ ra những khiếm khuyết, bất cập trong các
quy định của pháp luật và thực tiễn quản trị DNNN so với nhu cầu quản
trị DNNN và với các chuẩn mực quốc tế về quản trị DN nói chung và về
quản trị DNNN nói riêng; Phân tích, đánh giá để xác định phương hướng
và đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm bổ sung và hoàn thiện và thi
hành pháp luật về quản trị DNNN trong điều kiện kinh tế của nước ta
hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Loại hình DNNN theo Luật Doanh
nghiệp 2014; Các mô hình DNNN trong quá khứ ; Các nội dung về quản
trị doanh nghiệp và quản trị DNNN; những chi phối về DNNN theo
chính sách phát triển hệ thống DNNN ở Việt Nam; Hệ thống các quy
định pháp luật về quản trị doanh nghiệp nói chung mà trọng yếu là quy
định pháp luật về quản trị DNNN ở Việt Nam; Các quy định pháp luật,
chuẩn mực, thông lệ, kinh nghiệm quốc tế về quản trị công ty trong
DNNN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Đến nay, khái niệm DNNN thay đổi ,
DNNN phải là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Tức là không xuất hiện vấn đề liên kết vốn trong DNNN nữa, theo đó
mô hình quản trị CTCP cũng không thể áp dụng cho loại hình doanh
2


nghiệp một chủ như DNNN. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất giữa
Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước năm
2014, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu về pháp luật quản trị của các
doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoạt động dưới
hình thức công ty TNHH MTV.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Xuyên suốt đề tài, nghiên cứu sinh sử dụng phương pháp luận
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng
thời, Luận án vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò
chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước mà trọng tâm là các DNNN đối
với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay. Bên cạnh đó, các nguyên lý chung của quản trị doanh
nghiệp trong kinh tế thị trường, các lý thuyết tiếp cận nêu trên…cũng
được vận dụng để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu.
4.2.Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng trong hầu
hết các nội dung của luận án. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài
liệu thứ cấp, phương pháp thống kê được sử dụng để thu thập, tổng
hợp, đánh giá các tài liệu về thực trạng pháp luật quản trị DNNN ở
Việt Nam và các bài học, kinh nghiệm quốc tế. Phương pháp so
sánh và điển hình hoá được sử dụng để phân tích, đánh giá mô hình,
pháp luật về quản trị DNNN ở một số quốc gia khác trên thế giới;
Đánh giá những hạn chế, nhược điểm, khiếm khuyết của pháp luật
về quản trị DNNN trong sự tương quan với các nguyên tắc quản trị
DNNN theo khuyến cáo của OECD.
5. Những điểm mới của Luận án
Thứ nhất, Luận án phân tích và hệ thống hóa các khái niệm, cơ
3


sở pháp lý, những vấn đề lý luận liên quan đến quản trị doanh nghiệp và
pháp luật về quản trị DNNN; Thứ hai, cung cấp thông tin, phát hiện vấn
đề và đánh giá khách quan thực trạng quản trị DNNN theo pháp luật
Việt Nam hiện nay; Thứ ba, Luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp
cụ thể trên cơ sở những nhận định khách quan ở phần thực trạng kết hợp
so sánh với các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại và pháp luật
quản trị của các quốc gia khác để góp phần hoàn thiện pháp luật về quản
trị DNNN ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Luận án xây dựng được hệ thống lý luận về quản trị DNNN và
pháp luật về quản trị DNNN, trong đó bao hàm cả quan điểm của tác giả.
Luận án cũng làm rõ sự liên quan giữa vai trò của các quy định pháp luật
về quản trị doanh nghiệp với hiệu quả hoạt động của DNNN. Đồng thời
phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị DNNN ở Việt Nam
hiện nay, trên cơ sở đó có những định hướng và giải pháp hoàn thiện
pháp luật quản trị DNNN. Từ đó, Luận án có được những ý nghĩa khoa
học và tính thực tiễn.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
Luận án được kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và
phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp nhà
nước và pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về quản
trị doanh nhiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
4


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ
LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
1.1.1. Các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động
quản trị doanh nghiệp, quản trị DNNN: Về khái niệm DNNN, các
quốc gia trên thế giới đều có những cách định nghĩa và tên gọi riêng.
Tuy nhiên, khi xem xét cụ thể các khái niệm nói trên đều thể hiện một
điểm chung là bản chất đa dạng trong kết cấu của DNNN. Quản trị
DNNN thường xuất hiện nhiều vấn đề yếu kém và mức độ quản trị hiệu
quả thấp hơn so với quản trị doanh nghiệp trong khối doanh nghiệp sở
hữu tư nhân. Cuốn cẩm nang quản trị công ty tại Việt Nam của IFC
(2010) [156] đã thực hiện việc rà soát, hệ thống lại và phân tích tổng
quan các văn bản pháp luật Việt Nam về quản trị doanh nghiệp, quản trị
công ty đang có hiệu lực tại thời điểm năm 2010. Qua đó đánh giá khái
quát pháp luật quản trị công ty ở Việt Nam, và DNNN cũng không nằm
ngoài phạm vi nghiên cứu. G20/OECD (2015) [150], là Bộ nguyên tắc
gồm 6 nội dung lớn Nội dung các khuyến nghị OECD đưa ra trong Bộ
nguyên tắc này tập trung vào đối tượng là các công ty cổ phần đại chúng.
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và
thực hiện pháp luật về quản trị DNNN: OECD (2014) [171] đã dựa
trên kết quả khảo sát thực tế việc áp dụng các thông lệ tốt về quản trị
doanh nghiệp ở các nước trong khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Báo cáo đã có những đánh giá khá cụ thể đối với vấn đề công bố thông
tin, vấn đề về quyền sở hữu và kiểm soát. Đặc biệt là những đánh giá về
5


cơ chế thực thi pháp luật, tổ chức cơ quan thực thi pháp luật và hệ thống
pháp luật quản trị doanh nghiệp của các quốc gia và liên quốc gia nói
trên. Đây là nguồn tài liệu “hướng dẫn và thực hành tốt” giúp những
người quản lý cũng như những người hoạch định chính sách ở các nước
châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng có cái nhìn bao quát hơn về
khía cạnh thực thi quản trị doanh nghiệp tại nước mình.
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp
hoàn thiện và thực hiện pháp luật về quản trị DNNN, OECD (2005)
khuyến nghị việc quản trị các DNNN bằng 06 nhóm đề xuất cụ thể: Thứ
nhất, đảm bảo khuôn khổ pháp lý và quy định hiệu quả cho các DNNN;
Thứ hai, thiết lập hệ thống chính sách thống nhất để đảm bảo thực hiện
minh bạch và hiệu quả việc quản trị trong các DNNN thông qua vai trò
chủ sở hữu là Nhà nước; Thứ ba,đảm bảo các cổ đông được đối xử công
bằng; Thứ tư, công nhận trách nhiệm giữa DNNN với các bên liên quan
bằng các chính sách sở hữu của Nhà nước; Thứ năm, Chuẩn hóa việc minh
bạch và công bố thông tin; Thứ sáu, khuyến nghị ban quản trị của các
DNNN phải có năng lực, có đủ thẩm quyền cần thiết để thực hiện trách
nhiệm của mình một cách khách quan và công tâm nhất và phải chịu trách
nhiệm với những quyết định của mình.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận và
thực trạng pháp luật quản trị doanh nghiệp, quản trị DNNN: Nghiên cứu
của Phạm Duy Nghĩa (2015) [98] cho ta dễ dàng hình dung về bức tranh kinh
tế Việt Nam thời kỳ mở cửa, hội nhập thông qua góc nhìn pháp lý. Đồng thời
trực tiếp đề cập đến mô hình DNNN, cũng như phân tích, đánh giá tổng quát
những vấn đề pháp lý xung quanh mô hình này, trong đó có cả vấn đề về quản
trị. Phạm Đức Trung (2011) [122] đã rà soát hệ thống pháp luật về quản trị
DNNN đến thời điểm năm 2011 cho thấy nhiều bất cập và chưa tạo điều kiện
6


thúc đẩy cải thiện quản trị DNNN.
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực tiễn thi
hành pháp luật về quản trị DNNN : Một bức tranh về thực trạng
DNNN ở Việt Nam thời gian qua với “gam tối nhiều hơn sáng” là nội
dung xuyên suốt nghiên cứu của Nguyễn Thị Thành Vinh (2016) [127].
Một bức tranh khác về thực trạng pháp luật quản trị doanh nghiệp, Phạm
Duy Nghĩa (2013) [96] đã phác họa những nét tổng quan về quản trị
công ty ở Việt Nam với bằng những thông tin, con số mang tính cảnh
báo. Đồng thời đánh giá và đề xuất việc áp dụng mô hình quản trị hiện
đại cũng như những kinh nghiệm, bài học cụ thể của các quốc gia khác
vào quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam.
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp
hoàn thiện và và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản trị
DNNN:Các tác giả Phạm Đức Trung (2011), Phạm Trí Hùng và Nguyễn
Trung Thẳng (2012), Nguyễn Thành Tâm (2013) đề cho rằng đây là một
trong những giải pháp mang tính cấp bách của pháp luật về quản trị
DNNN. Lê Vũ Nam (2012) khẳng định việc xem xét sửa đổi, bổ sung
hoặc ban hành một quy chế mới về quản trị công ty là rất cần thiết ở thời
điểm bấy giờ. Cùng chung ý tưởng trên, một trong những giải pháp Lê
Minh Toàn (2015) đề cập đến cũng là việc ban hành quy định riêng về quy
chế quản trị công ty nhà nước. Nguyễn Thế Mạnh (2014) [88] đề xuất
giải pháp tiến hành công khai hóa từ mọi trách nhiệm và nghĩa vụ của
DNNN về sản xuất cung ứng dịch vụ công ích và trách nhiệm xã hội cho
đến mục tiêu của Nhà nước đối với từng doanh nghiệp; ban hành và
công bố rõ ràng, minh bạch cơ chế bổ nhiệm thành viên HĐQT của các
doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Về xây dựng mô hình, khung quản trị
doanh nghiệp, DNNN phù hợp ở Việt Nam được đề xuất trong khá nhiều
nghiên cứu.
7


1.1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu và những nội dung cần
giải quyết trong luận án
1.1.2.1. Đánh giá tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quan đến
luận án: Thứ nhất, Các nghiên cứu đề cập khá đầy đủ cơ sở lý luận về
quản trị doanh nghiệp cũng như quản trị DNNN, sự cần thiết của quản trị
công ty trong các DNNN… Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu đều tiếp
cận những vấn đề này dưới góc độ kinh tế, rất ít các nghiên cứu đề cập ở
góc độ khoa học pháp lý. Thứ hai, liên quan đến thực tiễn pháp luật về
quản trị DNNN, các nghiên cứu thường dừng lại ở việc nêu ra một số
thực trạng về quản trị doanh nghiệp của DNNN, chỉ ra những quy định
chưa phù hợp trong các văn bản pháp luật hơn là việc đi sâu phân tích về
nội hàm vấn đề. Thứ ba, liên quan đến phần giải pháp, các nhà nghiên
cứu đã đề xuất khá nhiều giải pháp có tính thực thi cao, tuy nhiên chủ
yếu tập trung vào pháp luật quản trị doanh nghiệp nói chung, đối với
việc hoàn thiện pháp luật về quản trị DNNN cũng có một số giải pháp
mang tính định hướng mà còn thiếu những giải pháp cụ thể, sát sườn.
1.1.2.2. Những nội dung cơ bản cần giải quyết trong luận án:
Thứ nhất, kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, Luận
án tập trung nghiên cứu chuyên sâu ở góc độ pháp lý các nội dung về
quản trị doanh nghiệp, quản trị DNNN, DNNN, pháp luật về quản trị
DNNN. Đồng thời đóng góp, bổ sung vào việc hoàn thiện cơ sở lý luận
về quản trị DNNN. Thứ hai, Tập trung làm rõ các quy định mới của Luật
Doanh nghiệp về cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành cũng như nghĩa vụ
minh bạch thông tin của DNNN đã đủ chặt chẽ và phù hợp với đặc thù sở
hữu và thành phần kinh tế của DNNN hay chưa. Thứ ba, tập trung phân
tích các vấn đề về cơ chế chính sách liên quan như chế độ chủ quản, sự
tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, thực hiện quyền sở hữu
tại DNNN, giám sát điều hành và minh bạch thông tin về DNNN. Từ đó
8


xây dựng một khung khổ pháp luật phù hợp với quản trị DNNN hiện đại.
Thứ tư, nghiên cứu, so sánh và tổng kết những bài học, kinh nghiệm từ
các chuẩn mực, thông lệ quốc tế, mô hình quản trị DNNN và pháp luật
thực định của các nước có nền kinh tế phát triển và các nước khác có chế
độ tương đồng với Việt Nam. Từ đó, áp dụng vào quá trình hoàn thiện
pháp luật về quản trị DNNN ở nước ta. Thứ năm, khuyến nghị các quan
điểm, mục tiêu, phương hướng, giải pháp mang tính tổng thể và chi tiết
nhằm hoàn thiện pháp luật về quản trị DNNN tại Việt Nam.
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
Khi nghiên cứu về quản trị DNNN, nghiên cứu sinh sử dụng
một số cơ sở lý thuyết điển hình như sau: Lý thuyết đại diện được sử dụng
trong chương 2 của Luận án, phần lý luận về quản trị DNNN; Lý thuyết về
quản trị công ty được sử dụng trong chương 2 Luận án để làm rõ các vấn đề
của quản trị công ty; Lý thuyết về pháp nhân được sử dụng để nghiên cứu,
phân tích năng lực trách nhiệm của các DNNN, năng lực trách nhiệm của chủ
sở hữu DNNN trong quá trình hoạt động kinh doanh.; Lý thuyết về rủi ro và
kiểm soát rủi ro được sử dụng xuyên suốt cả Luận án để phân tích những tác
động của rủi ro và kiểm soát rủi ro lên nội dung của quản trị DNNN.
1.2.2. Giả thuyết nghiên cứu:
Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những quy định tiến bộ từ trong
tư duy về quản trị DNNN, tuy nhiên khi áp dụng trên thực tế vẫn còn
những bất cập, hạn chế, những điểm chưa phù hợp và đặc biệt là thiếu sự
đồng bộ với những quy định khác trong hệ thống pháp luật điều chỉnh về
quản trị DNNN. Pháp luật về Quản trị DNNN gồm 5 nội dung. Tuy
nhiên, tiếp cận của OECD về DNNN không giống như của Luật Doanh
nghiệp 2014 về DNNN. DNNN ở Việt Nam hoạt động kém hiệu quả từ
nhiều năm nay nguyên nhân chính xuất phát từ năng lực quản trị, từ những
9


quy định của pháp luật về quản trị trong DNNN chưa đủ chặt chẽ, chưa
đảm bảo tính khả thi. Hiện nay, quản trị doanh nghiệp trên toàn thế giới
được khuyến nghị định hướng theo các nguyên tắc và mô hình của
OECD. Trong đó có khuyến nghị về quản trị DNNN. Về nguyên tắc,
DNNN Việt Nam có thể áp dụng mô hình của OECD song do DNNN ở
Việt nam tồn tại trong cơ chế kinh tế thị trường khá đặc thù nên việc áp
dụng kinh nghiệm quốc tế và nước ngoài vào Việt Nam là có khó khăn
và trở ngại một khi, thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện.
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
2.1. Những vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp nhà nước
2.1.1. Khái quát về quản trị doanh nghiệp
2.1.1.1. Khái niệm quản trị doanh nghiệp: Có một khái
niệm về QTDN đến nay được coi là khái niệm tương đối cụ thể
nhất, bao quát nhất và được nhiều quốc gia vận dụng nhất là khái
niệm của G20/OECD (2015):
2.1.1.2. Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp: Cho đến nay,
các nguyên tắc QTDN của OECD vẫn đang được áp dụng rộng rãi ở các
quốc gia thành viên. Các doanh nghiệp nói chung, các nhà hoạch định
chính sách và cơ quan quản lý nhà nước là những đối tượng hướng tới
của Bộ Nguyên tắc quản trị của OECD. Có 06 nội dung chính yếu trong
các nguyên tắc QTDN mà OECD đưa ra.
2.1.2. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước từ góc nhìn quản trị
2.1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước: Khái niệm gần đây
nhất và hiện tại đang có hiệu lực áp dụng là khái niệm DNNN trong Luật
10


Doanh nghiệp năm 2014: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do
Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” [11, Điều 4]. Như vậy, DNNN
được đưa về vạch xuất phát ban đầu với sự sở hữu vốn tuyệt đối của chủ
sở hữu Nhà nước.
2.1.2.2. Đặc trưng của doanh nghiệp nhà nước : Mục đích của
khu vực kinh tế nhà nước nói chung và DNNN nói riêng là những mục
tiêu, chính sách phát triển kinh tế xã hôi quốc gia. Phương tiện để thực
hiện mục đích chính sách cũng chính là DNNN, thông qua hoạt động
kinh doanh của DNNN. Như vậy, đặc trưng mang tính bản chất của
DNNN ở chỗ nó vừa là mục đich, vừa là phương tiện không thể trộn lẫn
cũng không thể tách rời để Nhà nước thực hiện các mục tiêu ổn định,
cân bằng và phát triển kinh tế, xã hội. Mặt khác, vai trò cũng như quan
niệm về DNNN ở mỗi thời điểm đều có những khác biệt nhất định. Tuy
nhiên, để thống nhất cách hiểu về DNNN, có thể rút ra những đặc điểm
ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề quản trị DNNN theo pháp luật hiện hành.
2.1.3. Quản trị doanh nghiệp nhà nước: Các nguyên tắc, nội
dung và yêu cầu về QTDN nói chung về mặt lý thuyết có thể áp dụng
đối với tất cả các doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp có phần vốn
góp của Nhà nước và DNNN – hai loại hình đặc thù vì có sự tham gia
của chủ sở hữu Nhà nước. Thứ nhất, đảm bảo một khuôn khổ pháp lý và
quản lý hiệu quả cho các doanh nghiệp nhà nước; Thứ hai, vai trò chủ sở
hữu của Nhà nước; Thứ ba, quan hệ của DNNN với các bên có quyền lợi
liên quan; Thứ tư, minh bạch và công bố thông tin; Thứ năm, trách
nhiệm của Hội đồng thành viên.
2.2. Pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
2.2.1. Khái niệm và những khác biệt của pháp luật về quản trị
doanh nghiệp nhà nước so với pháp luật quản trị doanh nghiệp nói chung
Có thể khái quát pháp luật về quản trị DNNN là tổng thể các
11


nguyên tắc, các quy định pháp luật và quy chế của DNNN về cấu trúc
quản lý nội bộ của DNNN và các biện pháp nhằm kiểm soát doanh
nghiệp bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, của các chủ thể có liên quan và
của toàn xã hội. Theo đó, nội dung của pháp luật quản trị DNNN có
những điểm khác biệt nhất định so với pháp luật QTDN nói chung quy
định bởi sự khác biệt về tính chất, mục tiêu hoạt động cũng như bản chất
sở hữu của loại hình doanh nghiệp này.
2.2.2. Nội dung pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
2.2.2.1. Các quy định về mô hình quản trị và các thiết chế quản
lý của doanh nghiệp nhà nước:
- Về mô hình quản trị;
- Về các thiết chế quản lý:
2.2.2.2. Pháp luật về hoạt động của Nhà nước với tư cách là
chủ sở hữu cẩn trọng và trách nhiệm: Hoạt động của Nhà nước trong vai
trò đại diện chủ sở hữu tích cực và trách nhiệm để đảm bảo hoạt động
quản trị DNNN có hiệu quả là nội dung bao trùm nhiều nhiều khía cạnh.
2.2.2.3. Pháp luật trong quan hệ của doanh nghiệp nhà nước
đối với các bên có liên quan: Các bên liên quan của DNNN là những tổ
chức, cá nhân có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp
với DNNN. Do đó, trong quản trị DNNN, các đối tượng liên quan được
coi là quan trọng nhất. Ngoài ra, các bên có liên quan còn được hiểu là
“Người có liên quan”, là tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp với doanh nghiệp trong các trường hợp liên quan đến quản trị
DNNN mà có thể phát sinh rủi ro, thiếu minh bạch hoặc xâm hại lợi ích
của DNNN.
2.2.2.4. Pháp luật về công khai và minh bạch hóa: Pháp luật về
công khai và minh bạch hóa thông tin tập trung vào các nội dung liên
quan đến pháp luật đối với thông tin cần được công bố, thông tin khuyến
12


khích công bố và cơ chế đảm bảo sự chính xác của các của các thông tin;
đảm bảo các quy định về chế độ công khai hoá thông tin và mức độ
minh bạch của DNNN áp dụng với cả cơ quan điều phối, cơ quan chủ sở
hữu và bản thân doanh nghiệp; đảm bảo phù hợp với các tiêu chí OECD
khuyến nghị trong nguyên tắc công khai, minh bạch của quản trị DNNN.
2.2.2.5. Pháp luật về trách nhiệm của Hội đồng thành viên:
HĐTV là đại diện chủ sở hữu tại DNNN do cơ quan đại diện chủ sở hữu
quyết định bổ nhiệm. Do đó những quy định ràng buộc về mặt lợi ích và
trách nhiệm của HĐTV với chủ sở hữu Nhà nước trong pháp luật về trách
nhiệm của HĐTV là nội dung cần tập trung. Bên cạnh đó cũng cần ghi nhận
những nội dung về: thẩm quyền khách quan và cần thiết để thực hiện chức
năng định hướng chiến lược và giám sát điều hành của HĐTV.
2.2.3. So sánh quản trị doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ
100% vốn và quản trị doanh nghiệp Nhà nước giữ quyền chi phối:
Thứ nhất, quản trị doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước là quản trị doanh
nghiệp đơn sở hữu với một chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp là
Nhà nước. Thứ hai, vì doanh nghiệp đơn sở hữu nên không thể tổ chức
hoạt động cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước dưới hình thức công ty
TNHH hai thành viên trở lên hay CTCP được. Thứ ba, quản trị doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước “gắn với trách nhiệm giải trình của một
chuỗi các cơ quan, tổ chức, cá nhân đại diện. Thứ tư, tách bạch chức
năng chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý nhà nước trong quản
trị doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đôi khi không khả thi. Thứ năm,
trong môi trường có nhiều ưu đãi khiến cho quản trị doanh nghiệp 100%
vốn nhà nước không sợ áp lực về các vấn đề công khai, minh bạch thông
tin, tách nhiệm vụ công ích ra khỏi kinh doanh...

13


2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật quản trị doanh
nghiệp nhà nước
Pháp luật về quản trị DNNN chịu sự chi phối của nhiều yếu tố,
trong đó, thể chế kinh tế thị trường, cấu trúc sở hữu DNNN, chủ thể
quản trị DNNN, văn hóa, tập quán kinh doanh và mức độ hội nhập kinh
tế quốc tế là những yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất:
Chương 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Thực trạng pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
3.1.1. Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước và các thiết
chế quản trị doanh nghiệp nhà nước
A. Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước: Luật Doanh
nghiệp năm 2014 quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của DNNN và
công ty TNHH một thành viên có 02 mô hình hoạt động và cơ quan đại
diện chủ sở hữu có thể lựa chọn.
B. Các thiết chế quản trị doanh nghiệp nhà nước: Xét riêng ở
Luật Doanh nghiệp 2014 có thể thấy những tiến bộ trong các quy định về
quản trị DNNN, đặc biệt là về các chức danh trong cơ cấu tổ chức quản lý
DNNN. Tuy nhiên, do cùng hoạt động theo mô hình quản lý của công ty
TNHH một thành viên mà DNNN còn có thêm những quy định riêng ở
chương IV của Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản pháp lý riêng biệt
khác dẫn đễn việc có một số quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của các chức
danh còn chưa đầy đủ, chưa thực sự rõ ràng và hợp lý. Đồng thời, vị trí pháp
lý của các bộ phận trong 02 mô hình hoạt động của DNNN cũng có những
14


khác biệt nhất định so với quy định dành cho công ty TNHH một thành viên
do một tổ chức không phải Nhà nước là chủ sở hữu 100%. Cụ thể:
Đại diện chủ sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước: Pháp luật đã
có những quy định về: Hội đồng thành viên và thành viên hội đồng
thành viên; Chủ tịch hội đồng thành viên; Chủ tịch công ty; Người điều
hành hoạt động hàng ngày tại doanh nghiệp nhà nước
3.1.2. Quy định về hoạt động của Nhà nước với tư cách chủ sở
hữu doanh nghiệp: Đến thời điểm hiện tại, kết quả lớn nhất mà khung pháp
luật quản trị mang lại là bước đầu xây dựng được nền tảng pháp lý cho môi
trường kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN với doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế khác. Liên quan trực tiếp đến các nội dung
quản trị DNNN, khung pháp lý đề cập những vấn đề quan trọng.
Những tồn tại, hạn chế của pháp luật về chủ sở hữu DNNN:
Thứ nhất, các quy định pháp luật về chủ sở hữu DNNN hiện nay vẫn
chưa phân định được chức năng chủ sở hữu với các chức năng khác, đặc
biệt là chức năng quản lý hành chính của Nhà nước trong mối quan hệ
với DNNN. Thứ hai, chưa có quy định cho phép các chủ nợ được quyền
đề nghị mở các thủ tục giải thể, phá sản DNNN. Thứ ba, địa vị pháp lý
của DNNN ngang bằng, bình đẳng với các doanh nghiệp khác, pháp luật
không cần tạo ra cơ chế quá đặc thù cho DNNN. Thứ tư, pháp luật chưa
tách bạch được trách nhiệm sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích và các
trách nhiệm khác của DNNN. Thứ năm, mặc dù tinh thần chung của
pháp luật doanh nghiệp Việt Nam là bình đẳng về mọi mặt giữa DNNN
với các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tuy nhiên, còn không ít những
quy định không rõ ràng hoặc quy định một cách chung chung, nặng về
tính nguyên tắc. Thứ sáu, cơ chế pháp lý chưa đảm bảo bình đẳng trong
tiếp cận các nguồn lực tài chính. Quản trị DNNN theo thông lệ quốc tế
yêu cầu không được sử dụng các mối quan hệ của DNNN với các ngân
15


hàng thương mại nhà nước để tiếp cận các nguồn lực tài chính mà phải
áp dụng cơ chế cạnh tranh và quan hệ thương mại thuần túy.
3.1.3. Trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước với các bên
có liên quan: Là một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,
DNNN có đầy của các trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý với khách hàng,
đối tác, với chủ sở hữu (Nhà nước), với người lao động cũng như trách
nhiệm xã hội (CSR) như mọi công ty TNHH MTV khác, ngoài những
quy định đặc thù quy định tại Luật DN 2014. Trách nhiệm đối với các
bên có liên quan là nội dung mà trước đây rất ít các DNNN quan tâm,
đặc biệt là các DNNN hoạt động trong các ngành, lĩnh vực độc quyền.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, xác định tầm quan trọng của cạnh tranh
trong một sân chơi bình đẳng nên các DNNN đã bắt đầu quan tâm đến
mối quan hệ với các bên có liên quan.
3.1.4. Công khai và minh bạch hóa thông tin: Công ty phải
công bố định kỳ trên trang thông tin điện tử của công ty và của cơ quan
đại diện chủ sở hữu những thông tin đã được liệt kê trong Luật . Nội
dung công bố thông tin quy định tại có thể bao gồm Báo cáo tài chính
của công ty mẹ và Báo cáo tài chính hợp nhất. Thông tin được báo cáo
và công bố phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp
luật. Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố
thông tin thực hiện công bố thông tin. Người đại diện theo pháp luật phải
chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của
thông tin được công bố.
3.1.5. Trách nhiệm của Hội đồng thành viên trong quản trị
doanh nghiệp nhà nước: Một số chức năng quan trọng của HĐTV như
định hướng chiến lược và giám sát quản lý điều hành trên thực tế còn chưa
phát huy được hiệu quả. Một số khảo sát tại các cuộc họp thường kỳ và
đột xuất của HĐTV trong DNNN cho thấy, nội dung đưa ra cuộc họp thảo
16


luận rất ít khi liên quan đến chiến lược phát triển dài hạn của doanh
nghiệp mà vẫn chủ yếu tập trung vào báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh hàng quý, hàng năm; thảo luận và quyết định: kế hoạch hoạt động
kinh doanh, giải pháp tháo gỡ các vấn đề vướng mắc, vấn đề nhân sự, dự
án đầu tư...
3.2. Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về quản trị
doanh nghiệp nhà nước
3.2.1. Về mô hình và thiết chế quản trị doanh nghiệp nhà
nước: Vấn đề đầu tiên được nhiều nhà nghiên cứu pháp lý và quản trị
nói đến lâu nay là việc tách bạch chức năng chủ sở hữu và chức năng
quản lý doanh nghiệp của Nhà nước trong các DNNN. Vấn đề thứ hai
liên quan đến các lỗ hổng về quản trị nêu trên còn là vấn đề chồng chéo
giữa các nội dung quản lý, giám sát của nhiều cơ quan quản lý khác
nhau. Vấn đề thứ ba thể hiện yếu kém trong mô hình quản trị DNNN còn
là ở chỗ chưa xác định rõ ràng vai trò của Nhà nước trong quản trị
DNNN cũng như việc phân định mục tiêu lợi nhuận hay mục tiêu công
ích của DNNN. Vấn đề thứ tư là trên thực tế Nhà nước vẫn chưa thể
tách hẳn khỏi công việc quản lý hàng ngày của DNNN cũng như cho
phép DNNN tự chủ hoạt động đầy đủ để đạt được các mục tiêu đã được
xác định của họ. Vấn đề thứ năm, việc thực thi các quyền, nghĩa vụ của
chủ sở hữu nhà nước tại DNNN còn nhiều bất cập. Vấn đề thứ sáu, vấn
đề quản lý, giám sát, đánh giá DNNN và thực hiện chức năng chủ sở hữu
nhà nước còn bất cập.
3.2.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước đối với các
bên có liên quan: Vẫn còn đó khá nhiều tiêu chuẩn liên quan đến mối
quan hệ với các bên thứ ba chưa đạt tới, cũng như không ít những tồn
tại, hạn chế cần kịp thời điều chỉnh: Thứ nhất, chưa tôn trọng quyền của
các bên có quyền lợi liên quan. Thứ hai, chưa thực hiện báo cáo rõ ràng,
17


cụ thể mối quan hệ với các bên liên quan. Thứ ba, có rất ít HĐTV của
các DNNN, HĐQT của các công ty con thực hiện việc triển khai xây
dựng, công bố, thực thi và tuyên truyền rộng rãi chương trình tuân thủ
các quy tắc đạo đức kinh doanh nội bộ dựa trên chuẩn mực quốc gia, phù
hợp với các cam kết quốc tế và áp dụng cho DNNN
3.2.3. Về mức độ công khai hóa và minh bạch hóa thông tin:
Thứ nhất, số lượng và chất lượng thông tin công bố chưa đáp ứng được
yêu cầu theo chuẩn mực quản trị quốc tế. Thứ hai, việc kiểm toán nội bộ
chưa được chú trọng, tính hiệu quả thấp, thậm chí còn bị “vô hiệu hóa”
trong một số DNNN. Thứ ba, vấn đề kiểm toán độc lập đối với DNNN
hiện nay cũng rất yếu. Thứ tư, mối quan hệ thông tin giữa DNNN với
chủ sở hữu nhà nước cũng không diễn ra thường xuyên. Thứ năm, chế
tài dành cho các DNNN và cơ quan đại diện chủ sở hữu không tuân thủ
yêu cầu công khai thông tin chủ yếu là các biện pháp xử phạt hành chính
thông thường.
3.2.4. Về quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng thành viên:
Mặc dù HĐTV là đại diện chủ sở hữu tại DNNN do cơ quan đại diện
chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm, nhưng xét về bản chất họ với bộ phận
điều hành đều là người làm thuê, cả hai đều không phải đang quản lý
phần vốn của chính bản thân mình, do đó không có nhiều sự ràng buộc
về mặt lợi ích và trách nhiệm với chủ sở hữu. Thậm chí, thay vì thực
hiện chức năng giám sát, HĐTV còn có thể lạm dụng quyền hạn để cấu
kết, thông đồng với người điều hành nhằm “thu lợi ích riêng, rút ruột
DNNN.

18


Chương 4
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh
nghiệp nhà nước
4.1.1. Hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
cần phù hợp với xu thế phát triển và định hướng, lộ trình cải cách kinh tế
thị trường của Đảng và Nhà nước: Pháp luật quản trị DNNN vì vậy cần
phải phù hợp với những tiền đề chính trị, thể chế đó mới có thể góp phần
thực hiện thành công tái cấu trúc, đảm bảo vai trò của DNNN trong nền
kinh tế thị trường và trong hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, do chưa
đầy đủ về tiền đề chính trị, thể chế, pháp luật dẫn đến từ lúc thực hiện kế
hoạch thoái vốn tới nay, kết quả thu được còn hạn chế, đặc biệt đối với
việc thoái vốn ngoài ngành của DNNN.
4.1.2. Hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà
nước phải tiếp cận với các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế, đặc biệt là
kinh nghiệm từ các quốc gia công nghiệp phát triển là thành viên của
OECD: Hơn bao giờ hết tinh thần tiếp thu kinh nghiệm và những ưu
điểm của QTDN nói chung, quản trị DNNN nói riêng trên thế giới (đặc
biệt là các nguyên tắc quản trị DNNN của OECD) áp dụng phù hợp với
điều kiện kinh tế của Việt Nam là bước đi vô cùng cần thiết để có thể cải
thiện pháp luật quản trị DNNN, tạo sự chuyển biến rõ nét về năng lực
quản trị và hiệu quả hoạt động của DNNN.
4.1.3. Hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà
nước cần gắn liền với quá trình hoàn thiện, sửa đổi pháp luật về
doanh nghiệp, hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường: Với 02
chương trong Luật Doanh nghiệp 2014 (chương III, chương IV) và
19


những văn bản liên quan so với yêu cầu quản trị hiện đại vẫn chưa đủ cơ
sở pháp lý cho quản trị DNNN của Việt Nam bắt kịp các tiêu chuẩn,
thông lệ quản trị tiên tiến trên thế giới. Ngoài ra, tính đến thời điểm hiện
tại vẫn chưa có các quy định chặt chẽ về quản trị DNNN, đặc biệt chưa
xây dựng được bộ nguyên tắc quản trị DNNN phù hợp điều kiện kinh tế
và đặc thù DNNN trên cơ sở tương thích với các nguyên tắc và yêu
cầu của quản trị hiện đại.
4.2. Các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về quản trị
doanh nghiệp nhà nước:
4.2.1. Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và minh bạch của
pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước: Thống nhất, đồng bộ và
minh bạch của pháp luật quản trị DNNN đồng nghĩa với việc đảm bảo
nền tảng pháp lý vững chắc để DNNN hoạt động trong môi trường kinh
doanh cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp tư nhân khác và tạo
cơ sở cải thiện thực tế QTDN trong DNNN. Tuy nhiên, với thực trạng
pháp luật quản trị DNNN hiện nay và yêu cầu tương thích với các tiêu
chuẩn của OECD, để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và minh bạch
cần thực hiện những giải pháp cụ thể.
4.2.2. Hoàn thiện pháp luật để đảm bảo Nhà nước là một chủ
sở hữu đích thực và trách nhiệm: Để trở thành chủ sở hữu đích thực và
trách nhiệm trong quá trình thực hiện chức năng sở hữu của mình, Nhà
nước cần có các quy định, quy tắc quản trị cụ thể và chi tiết và phù hợp
với các chuẩn mực quản trị của OECD khuyến nghị.
4.2.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm của
DNNN trong mối quan hệ với các bên liên quan
Ở Việt Nam, còn khá nhiều tiêu chuẩn liên quan đến mối quan
hệ với các bên thứ ba chưa đạt tới (đặc biệt các bên là khách hàng, chủ
nợ, đồng sở hữu trong các công ty con của DNNN) cũng như không ít
20


những tồn tại, hạn chế trong các quy định cần kịp thời điều chỉnh.
Những giải pháp cụ thể được đề xuất như sau: Thứ nhất, pháp luật cần
bổ sung các quy định mạch lạc hơn về các điều kiện đảm bảo tôn trọng
quyền lợi của các bên có liên quan đến hoạt động của DNNN; Thứ hai,
tiếp tục hoàn thiện các quy định về hoạt động thông tin, báo cáo với các
bên liên quan. Thứ ba, cần xây dựng và ban hành các hướng dẫn cụ thể
về quy tắc nội bộ áp dụng cho các DNNN đáp ứng được yêu cầu chuẩn
mực quốc gia và phù hợp quốc tế.
4.2.4. Hoàn thiện chế độ công khai hoá thông tin và mức độ
minh bạch trong pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước:
Những tồn tại, hạn chế dẫn đến tình trạng kém minh bạch, công khai
trong công bố thông tin hiện nay của hệ thống DNNN Việt Nam ngoài
trách nhiệm của DNNN cũng như các cơ quan chủ quản, một phần còn
do các quy định pháp luật chưa đủ mạnh, chưa cụ thể và chưa đảm bảo
tính khả thi. Vì vậy, cần có những giải pháp mới cho quá trình hoàn
thiện pháp luật minh bạch, công khai hóa thông tin của hệ thống DNNN.
4.2.5. Hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm tối đa hóa
hiệu quả hoạt động và ngăn ngừa khả năng lạm dụng quyền lực của
Hội đồng thành viên và người quản lý trong quản trị doanh nghiệp
nhà nước: Trong vấn đề này, việc trao thêm quyền tự chủ cho HĐTV
không đi kèm với các chế định giám sát tương ứng thì rất dễ nảy sinh
nguy cơ lạm dụng quyền hạn của HĐTV trong quá trình thực thi trách
nhiệm đối với DNNN. Do đó, luôn luôn cần các giải pháp về mặt pháp
lý cũng như thực thi để có thể ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng quyền hạn
của HĐTV và đảm bảo HĐTV phải “hoạt động một cách liêm chính và
chịu trách nhiệm về hành động của mình” như khuyến nghị của OECD.
4.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
21


4.3.1. Nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp nhà nước về
quản trị doanh nghiệp và pháp luật quản trị doanh nghiệp nhà nước:
Việc có hiểu biết và nhận thức đúng đắn về quản trị DNNN cũng như pháp
luật về quản trị DNNN sẽ giúp các chủ thể quản trị hiểu vai trò của quản trị
doanh nghiệp và tầm quan trọng của việc thi hành tốt pháp luật quản trị
DNNN đối với hiệu quả hoạt động của DNNN. Do đó, cần thiết phải chú
trọng công tác đào tạo, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản trị DNNN cho
tất cả các thành viên HĐTV, thành viên Ban điều hành, Ban kiểm soát,
Kiểm soát viên trong DNNN, các bên liên quan và cả cộng đồng.
4.3.2. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, ý thức pháp
luật cho đội ngũ cán bộ quản lý, giám sát của doanh nghiệp nhà nước
Những vụ án điển hình gần đây như vụ án Tập đoàn dầu khí đầu
tư vào Ngân hàng Đại dương hay vụ án Vinashin trước đó với những
thiệt hại nặng nề đều bắt đầu từ các quyết định hoặc là sai lầm hoặc là
liều lĩnh của đội ngũ cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp. Do đó, để nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật quản trị DNNN thì nâng cao năng lực, trình
độ chuyên môn, ý thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ quản lý, giám sát
của DNNN là việc làm quan trọng.
4.3.3. Thúc đẩy quá trình áp dụng chuẩn mực quốc tế về quản
trị doanh nghiệp nhà nước : Thúc đẩy việc áp dụng các nguyên tắc
quản trị hiện đại là xu hướng chung và phù hợp với tiến trình hội nhập
hiện nay của các DNNN, tạo điều kiện thực thi pháp luật về quản trị
trong nước. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý khi áp dụng các nguyên tắc chung
cho nhiều quốc gia với những điều kiện thực hiện và quy định pháp luật
khác nhau như các nguyên tắc của OECD. Đồng thời, đây thực chất là
những khuyến nghị không mang tính chất bắt buộc cho nên cần xem xét
cụ thể các điều kiện khi áp dụng vào các DNNN theo pháp luật Việt
Nam. Bởi có thể có những khuyến nghị không tương thích và đòi hỏi sự
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×