Tải bản đầy đủ

Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý theo pháp luật việt nam tt

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỒNG THÁI QUANG

CÔNG TY HỢP DANH HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC
CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 938 01 07

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2019


Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Nguyễn Am Hiểu
2. PGS.TS. Trần Ngọc Dũng

Người phản biện 1: PGS.TS Trần Đình Hảo
Người phản biện 2: TS. Bùi Ngọc Cường
Người phản biện 3: TS. Đồng Ngọc Ba

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Trường họp tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào hồi… giờ ngày…
tháng… năm…
Có thể tìm hiểu luận án tại:
1) Thư viện quốc gia
2) Thư viện Trường Đại học Luật Hà Nội


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, các quy định của pháp luật về CTHD nói chung và về
CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL nói riêng vẫn còn
khá sơ sài và có nhiều điểm chưa rõ, chưa đáp ứng được nhu cầu đa
dạng hóa các hình thức kinh doanh để thu hút vốn đầu tư vào thị
trường như: Khái niệm về CTHD còn bất cập; các quy định về
CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL không cụ thể; vấn
đề tổ chức lại, chấm dứt hoạt động của CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL chưa đầy đủ... Những tồn tại trên đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu sâu sắc, cơ bản về CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL và pháp luật về nó nhằm giải quyết những vấn đề lý
luận và thực tiễn đặt ra, phục vụ cho việc hoàn thiện các quy định
pháp luật về thị trường nói chung và pháp luật về chủ thể kinh doanh
nói riêng. Với lý do trên, tác giả chọn vấn đề “Công ty hợp danh
hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý theo pháp luật
Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ luật học của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án: (1) Các quy định
pháp luật về tổ chức và hoạt động của CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL theo pháp luật Việt Nam; (2) Các quy định pháp
luật của một số nước trên thế giới.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, tác giả luận án tập trung làm rõ những vấn đề lý
luận cũng như thực trạng các quy định hiện hành của pháp luật Việt
Nam về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
- Về không gian, luận án tập trung chủ yếu nghiên cứu các quy


2
định của pháp luật trong nước; tuy nhiên, có sự phân tích, bình luận
và so sánh với một số quy định của pháp luật nước ngoài;
- Về thời gian, luận án nghiên cứu quá trình vận động, phát triển
của các quy định pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp DVPL từ khi Pháp lệnh luật sư (2001), LDN (1999) ra đời.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
* Mục đích nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là đưa ra định hướng và các
giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về CTHD hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được mục đích trên, tác giả đề ra và thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTHD hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp DVPL trên cơ sở so sánh và tham khảo kinh
nghiệm của một số nước trên thế giới để tìm ra mô hình điều chỉnh
pháp luật phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật
về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL, chỉ ra những
điểm hợp lý và bất hợp lý, những khó khăn, vướng mắc cũng như
nguyên nhân của chúng;
- Đưa ra định hướng và các giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện
pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
* Phương pháp luận của luận án
Tác giả luận án sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước về
phát triển kinh tế và xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới.


3
* Phương pháp nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu sinh sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ
thể: (1) Phương pháp so sánh luật học; (2) Phương pháp phân tích,
tổng hợp. Ngoài ra, các phương pháp khác như phương pháp lịch sử,
phương pháp thống kê cũng được sử dụng.
5. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp về lý luận:
- Làm rõ đặc điểm, đặc điểm của CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL;
- Khẳng định vai trò và ưu thế của CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL so với các hình thức cung cấp DVPL khác;
- Phân tích các biến thể của CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL;
- Tiếp cận và nghiên cứu pháp luật về CTHD hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp DVPL của một số nước trên thế giới.
Những đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phân tích và chỉ ra những thiếu sót, bất cập của pháp luật Việt
Nam về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
- Đề xuất định hướng cũng như một số giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở
Việt Nam.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận
án gồm Phần tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và ba chương
như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý và pháp luật về công ty hợp
danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý.


4
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật
về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp
lý ở Việt Nam.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
ở Việt Nam.


5
Chương dẫn nhập
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
LUẬN ÁN
Những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công
bố ở trong và ngoài nước liên quan đến các vấn đề cần giải quyết của
đề tài luận án sẽ được tác giả phân tích, bình luận theo những vấn đề
sau đây:
1.1. Các nghiên cứu lý luận về công ty hợp danh và pháp
luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ pháp lý
Những nghiên cứu lý luận về CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL và pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL được nhóm thành các vấn đề sau:
1.1.1. Các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của CTHD;
1.1.2. Các nghiên cứu về hình thức pháp lý của CTHD;
1.1.3. Các nghiên cứu về tư cách pháp nhân của CTHD;
1.1.4. Các nghiên cứu về cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành và
cơ chế đại diện của CTHD;
1.1.5. Các nghiên cứu về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp DVPL.
1.2. Các nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi
hành pháp luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ pháp lý
Các nghiên cứu này được nhóm thành các vấn đề sau:
1.2.1. Các nghiên cứu chung về thực trạng CTHD và pháp luật
về CTHD;


6
1.2.2. Các nghiên cứu về những ưu điểm và nhược điểm của
CTHD từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của loại hình công ty này.
2. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
2.1. Một số vấn đề liên quan đến đề tài luận án đã được
nghiên cứu trong các công trình khoa học đã công bố
Tác giả đưa ra các đánh giá về các vấn đề sau:
Thứ nhất, về khái niệm, đặc điểm của CTHD và CTHD hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
Thứ hai, về tư cách pháp nhân của CTHD và CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
Thứ ba, về hình thức pháp lý của CTHD và CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
Thứ tư, về thực trạng pháp luật về CTHD và CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
Thứ năm, về một số giải pháp đối với việc hoàn thiện pháp luật
về CTHD ở Việt Nam.
2.2. Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án chưa được
nghiên cứu và luận án cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Những vấn đề về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
DVPL chưa được làm rõ và cần phải nghiên cứu, giải quyết là:
Thứ nhất, khái niệm, đặc điểm của CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL;
Thứ hai, vai trò và ưu thế của CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL;
Thứ ba, các biến thể của CTHD trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
Thứ tư, tư cách pháp nhân và hình thức pháp lý của CTHD hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp DVPL;


7
Thứ năm, cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành và cơ chế đại diện
của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
Thứ sáu, thành viên của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp DVPL và vấn đề trách nhiệm pháp lý của các thành viên này đối
với các hậu quả xảy ra trong quá trình cung cấp DVPL của CTHD;
Thứ bảy, thực trạng pháp luật Việt Nam về CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL;
Thứ tám, định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL.
3. LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU, CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
3.1. Lý thuyết nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài luận án, tác giả luận
án sử dụng các lý thuyết chủ yếu sau đây: Lý thuyết về công ty hợp
danh; Lý thuyết về dịch vụ pháp lý; Lý thuyết về pháp nhân
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Luận án có nhiệm vụ giải quyết những câu hỏi nghiên cứu sau:
1) Khái niệm và đặc điểm của CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL? Vì sao các DVPL thường do CTHD thực hiện?
2) Vai trò của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL?
Ưu thế của CTHD so với các loại chủ thể khác khi thực hiện cung
cấp DVPL?
3) Các biến thể của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
DVPL? Kinh nghiệm của các nước trong điều chỉnh pháp luật đối
với CTHD cung cấp DVPL và Việt Nam có thể học hỏi được gì từ
kinh nghiệm của các nước trên thế giới?
4) Thực trạng pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp DVPL như thế nào? Thực tiễn thi hành các quy định đó ra sao?


8
5) Những hạn chế, bất cập của pháp luật về CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở Việt Nam?
6) Định hướng và một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về
CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở Việt Nam?
3.2. Giả thuyết nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên giả thuyết sau:
Khoa học pháp lý chưa làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL và pháp luật về
CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở Việt Nam.
Kết luận chương dẫn nhập
Qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng các công
trình khoa học đã công bố cho thấy: Các công trình nghiên cứu trên
thế giới cũng như ở Việt Nam chủ yếu nghiên cứu về CTHD nói
chung, còn CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL được rất
ít các công trình đề cập tới, dường như CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức.


9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY HỢP DANH
HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ
PHÁP LÝ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH HOẠT
ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ
1.1. Những vấn đề lý luận về công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
1.1.1. Khái quát về dịch vụ pháp lý
1.1.1.1. Khái niệm dịch vụ pháp lý
WTO không định nghĩa DVPL mà chỉ liệt kê các loại DVPL
bao gồm: Các dịch vụ đại diện và tư vấn pháp lý trong các lĩnh vực
pháp luật khác nhau (8611); các dịch vụ đại diện và tư vấn pháp lý về
pháp luật hình sự (86111); các dịch vụ đại diện và tư vấn trong các
thủ tục tư pháp liên quan đến các lĩnh vực pháp luật khác (86119);
các dịch vụ đại diện và tư vấn pháp lý tại các thủ tục tố tụng theo luật
trước các cơ quan bán tư pháp, tài phán hành chính (CPC
8612/86120); các dịch vụ giấy tờ pháp lý và công chứng (CPC
8613/86130); các dịch vụ thông tin và tư vấn pháp lý khác (CPC
8619/86190).
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu vẫn còn có các cách hiểu khác
nhau và chưa thống nhất về khái niệm DVPL. Còn theo tác giả luận
án: Dịch vụ pháp lý là một hình thức kinh doanh có điều kiện, trong
đó bên cung ứng dịch vụ cung cấp các thông tin pháp lý, tư vấn, giải
đáp pháp luật và thực hiện các công việc khác có liên quan đến pháp
luật cho khách hàng với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
1.1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ pháp lý
Dịch vụ pháp lý có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, dịch vụ pháp lý có tính gắn liền với pháp luật.


10
Thứ hai, chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý phải có chuyên môn
về pháp luật.
Thứ ba, chất lượng của DVPL khó xác định, dễ bị sao chép.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của công ty hợp danh hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
1.1.2.1. Khái niệm công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ pháp lý
Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL
được thành lập dựa trên sự liên kết của ít nhất hai luật sư, cùng nhau
tiến hành hoạt động kinh doanh với tư cách là những đồng chủ sở
hữu nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Các thành viên phải chịu trách nhiệm
cá nhân, vô hạn và liên đới đối với tất cả các khoản nợ của công ty.
1.1.2.2. Đặc điểm của công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL có
một số điểm về: (i) Thành viên; (ii) Trách nhiệm tài sản của thành
viên; (iii) Tư cách pháp nhân; (iv) Cơ chế phân chia quyền lực trong
công ty.
1.1.3. Vai trò và ưu thế của công ty hợp danh hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
1.1.3.1. Vai trò của công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ pháp lý
Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL có
vai trò: (1) Là công cụ để các luật sư thực hành nghề nghiệp nhằm
đạt được mục đích của mình; (2) Là hình thức kinh doanh có thể hạn
chế rủi ro cho khách hàng bằng cách gắn rủi ro của khách hàng với
rủi do của các nhà cung cấp dịch vụ (chế độ trách nhiệm vô hạn của
các thành viên công ty).


11
1.1.3.2. Ưu thế của công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ pháp lý so với các chủ thể khác tham gia cung cấp
dịch vụ pháp lý
Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL có
ưu thế tương đối lớn so với các tổ chức hành nghề cung cấp DVPL
khác như: (1) Được khách hàng tin tưởng hơn vì chế độ trách nhiệm
của các thành viên là vô hạn; (2) Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt
và pháp luật ít can thiệp vào vấn đề quản lý nội bộ; (3) Phát huy
được trí tuệ tập thể và các yếu tố như uy tín, kinh nghiệm...
1.1.4. Các biến thể của công ty hợp danh hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Hiện nay pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận một hình thức duy
nhất của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL là CTLHD
thông thường; tuy nhiên, pháp luật của nhiều nước trên thế giới đã
quy định rất nhiều biến thể khác nhau của CTHD hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp DVPL mà hai trong số biến thể quan trọng nhất đó
là CTLHD hữu hạn và CTLHD trách nhiệm hữu hạn.
1.2. Pháp luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ pháp lý
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung chủ yếu của pháp luật
về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ
pháp lý
Pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung DVPL là
hệ thống các quy phạm pháp luật, do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành
lập, hoạt động và chấm dứt công ty.
Pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL
có hai đặc điểm sau: Thứ nhất, pháp luật về CTHD hoạt động trong


12
lĩnh vực cung cấp DVPL được quy định trong LDN, LLS và các
văn bản hướng dẫn thi hành; thứ hai, các quy phạm pháp luật về
CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL chủ yếu liên quan
đến tính chất hoạt động nghề nghiệp của luật sư.
Pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL
bao gồm các nội dung chủ yếu sau: (1) Các quy định về bản chất
pháp lý của công ty; (2) Các quy định về thành lập và đăng ký hoạt
động; (3) Các quy định về thành viên của công ty; (4) Các quy định
pháp luật về cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành và cơ chế đại diện
của công ty; (5) Các quy định về vốn của công ty; (6) Quy định về
quyền và nghĩa vụ của công ty; (7) Các quy định về tổ chức lại và
chấm dứt công ty.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
DVPL có những vai trò như sau: Thứ nhất, tạo khuôn khổ pháp lý
để các nhà đầu tư thực hiện quyền tự do kinh doanh DVPL; Thứ
hai, đảm bảo quyền sở hữu vốn và tài sản trong kinh doanh của các
nhà đầu tư; Thứ ba, là cơ sở đảm bảo cho hoạt động kinh doanh
DVPL được thực hiện một cách hợp pháp; Thứ tư, ghi nhận sự đa
dạng của các hình thức đầu tư trong nền kinh tế thị trường, làm tăng
khả năng lựa chọn các hình thức tổ chức kinh doanh cho nhà đầu tư.
1.2.3. Nguồn của pháp luật điều chỉnh đối với công ty hợp
danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL
được điều chỉnh chủ yếu bởi các nguồn luật sau: Luật quốc tế, luật
quốc gia, thói quen, tập quán quốc tế và án lệ.
1.1.4. Khái quát pháp luật về công ty hợp danh hoạt động


13
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở một số nước trên thế giới
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.1.4.1. Khái quát pháp luật về công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở một số nước trên thế giới
* Pháp luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ pháp lý của Hoa Kỳ
* Pháp luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ pháp lý của Anh
* Pháp luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ pháp lý của Trung Quốc
* Pháp luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ pháp lý của Singapore
1.1.4.2. Một số kinh nghiệm cho Việt Nam khi nghiên cứu pháp
luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ
pháp lý của các nước khác
Kết luận chương 1
Bản chất của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL
là một quan hệ hợp đồng. Các biến thể của CTHD hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp DVPL ở các quốc gia trên thế giới tương đối thịnh
hành; mặc dù vậy, pháp luật Việt Nam vẫn chưa ghi nhận bất kỳ một
biến thể nào.


14
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH
HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP
DỊCH VỤ PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật về công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
2.1.1. Thực trạng quy định về thành lập công ty hợp danh
hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
2.1.1.1. Điều kiện thành lập công ty hợp danh hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Pháp luật hiện hành quy định muốn thành lập CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL phải tuân thủ điều kiện chung được
quy định trong LDN (2014) và điều kiện riêng được quy định trong
LLS (2012).
2.1.1.2. Hình thức của công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Hình thức của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL
ở các nước trên thế giới rất đa dạng nhưng pháp luật Việt Nam chỉ
thừa nhận một hình thức duy nhất là CTLHD thông thường.
2.1.1.3. Vốn của công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ pháp lý
Vốn của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL theo
pháp luật của các nước rất đa dạng có thể là uy tín, kỹ năng, dịch
vụ... nhưng pháp luật Việt Nam lại chưa thừa nhận những hình thức
góp vốn này.
2.1.1.4. Thủ tục thành lập công ty hợp danh hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý


15
Thủ tục thành lập CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
DVPL ở các nước hết sức đơng giản và hầu như không phải đăng ký
kinh doanh nhưng pháp luật Việt Nam lại quá nhấn mạnh đến thủ tục
đăng ký doanh nghiệp.
2.1.2. Thực trạng quy định về thành viên của công ty hợp
danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
2.1.2.1. Tư cách thành viên của công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Thành viên của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
DVPL nếu theo quy định của LDN (2014) thì chỉ có thể là cá nhân
nhưng theo LLS (2012) lại có thể là tổ chức. Ở đây có sự không
thống nhất trong quy định của pháp luật về tư cách thành viên công
ty trong hai văn bản pháp luật khác nhau.
2.1.2.2. Hạn chế quyền của thành viên công ty hợp danh hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
(i) Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một tổ
chức hành nghề luật sư; (ii) Không được quyền nhân danh cá nhân
hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề
kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức,
cá nhân; (iii) Không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn
góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp
thuận của các TVHD còn lại
2.1.2.3. Trách nhiệm của thành viên gia nhập công ty hợp danh
hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Theo pháp luật Việt Nam, thành viên hợp danh mới phải cùng
liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, kể cả nghĩa vụ phát


16
sinh trước khi trở thành TVHD, trừ trường hợp TVHD mới và các
TVHD còn lại có thỏa thuận khác.
2.1.3. Thực trạng quy định về tư cách pháp nhân của công ty
hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Việc quy định CTHD nói chung và CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL có tư cách pháp nhân là mâu thuẫn với quy định
của BLDS (2015). Điều này đã dẫn đến nhiều tranh luận trái chiều và
là một trong những nguyên nhân gây ra sự e ngại cho các nhà đầu tư
khi thành lập loại doanh nghiệp này.
2.1.4. Thực trạng quy định về cơ cấu tổ chức, quản trị điều
hành và cơ chế đại diện của công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp dịch vụ pháp lý
2.1.4.1. Cơ cấu tổ chức của công ty hợp danh hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Pháp luật Việt Nam đã thể hiện sự can thiệp tương đối sâu của
Nhà nước vào việc tổ chức quản lý CTHD nói chung và CTHD hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp DVPL nói riêng. Điều đó không
những làm mất đi các đặc trưng cơ bản vốn có của mô hình kinh
doanh này mà còn làm giảm tính chủ động của các TVHD trong
việc quản trị công ty.
2.1.4.2. Quản trị điều hành công ty hợp danh hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Ở CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL, TVHD
phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công
ty. Nếu không có sự phân công, về nguyên tắc, mọi TVHD đều có
quyền ngang nhau mà không phụ thuộc vào phần vốn góp.
2.1.4.3. Cơ chế đại diện của công ty hợp danh hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý


17
Trong CTHD nói chung và CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL nói riêng, vấn đề đại diện được thực hiện thông qua
bộ máy quản lý của công ty và các TVHD. Tất cả các TVHD bao
gồm cả Chủ tịch HĐTV và Giám đốc đều có thể là người đại diện
cho công ty.
2.1.5. Thực trạng quy định về quyền và nghĩa vụ của công ty
hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL là
một dạng CTHD đặc thù, cho nên nó có các quyền và nghĩa của
một doanh nghiệp được quy định trong LDN (2014) và các quyền
và nghĩa vụ được quy định trong luật chuyên ngành (LLS 2012).
2.1.6. Thực trạng quy định về tổ chức lại và chấm dứt hoạt
động củacông ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ pháp lý
2.1.51. Tổ chức lại công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp dịch vụ pháp lý
Vấn đề tổ chức lại CTHD hoạt động trong lĩnh vực pháp lý vẫn
chưa được quy định một cách nhất quán giữa LDN (2014) và LLS
(2012). CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL, nếu theo
quy định của LDN (2014), chỉ có thể hợp nhất và sáp nhập, trong
khi đó nêu theo quy định của LLS (2012) thì còn có cả hình thức
chuyển đổi sang công ty luật TNHH.
2.1.5.2. Chấm dứt hoạt động của công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Có thể chia sự chấm dứt hoạt động của CTHD hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp DVPL thành hai trường hợp: Giải thể và phá sản.
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về công ty hợp danh hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam


18
2.2.1. Một số kết quả đạt được khi thi hành pháp luật về công ty
hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Đội ngũ chuyên gia pháp lý làm việc tại các CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL đã có sự phát triển tương đối nhanh
về số lượng, chất lượng cũng như tính chuyên nghiệp khi hành nghề.
Số lượng các CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL ngày
càng tăng...
2.2.2. Một số khó khăn, vướng mắc cụ thể khi thực thi pháp
luật về công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ pháp lý
2.2.2.1. Khó khăn, vướng mắc khi thực hiện quy định về đăng ký
và thành lập công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
dịch vụ pháp lý
Pháp luật cần giải quyết các vấn đề như: Xác định nhân thân để
biết chủ thể nào có quyền thành lập CTHD hoạt động cung cấp
DVPL; Làm rõ cách hiểu các cụm từ như truyền thống lịch sử, văn
hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc để tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động của các cơ quan đăng ký doanh nghiệp; Kiểm soát
việc đăng ký và xác định vốn điều lệ; Phát hiện và xử lý các vi phạm
về thành lập và đăng ký doanh nghiệp.
2.2.2.2. Khó khăn, vướng mắc khi thực hiện quy định về tổ chức
và hoạt động của công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ pháp lý
Những bất cập trong các quy định pháp luật về các vấn đề như:
Cơ chế “bình quyền” giữa các thành viên; Thừa kế trong công ty; Và
khi có thành viên bị bị tuyên bố mất tích.


19
2.2.2.3. Khó khăn, vướng mắc khi thực hiện quy định về đội ngũ
cung cấp dịch vụ pháp lý và chất lượng của dịch vụ pháp lý được
cung cấp
Đội ngũ luật sư cung cấp DVPL còn thiếu về số lượng, yếu về
chuyên môn. Chất lượng của DVPL chưa được cao.
Kết luận chương 2
Bên cạnh những mặt tích cực được ghi nhận, pháp luật về
CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở Việt Nam vẫn
còn những mặt tồn tại và hạn chế cần phải khắc phục.


20
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH HOẠT ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh
hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
Việc hoàn thiện pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực
cung cấp DVPL phải tuân theo những định hướng sau:
Thứ nhất, việc hoàn thiện pháp luật về CTHD hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp DVPL phải gắn liền với việc nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của đội
ngũ luật sư.
Thứ hai, việc hoàn thiện pháp luật về CTHD hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp DVPL phải hướng tới việc nâng cao khả năng
cạnh tranh và tính hiệu quả trong hoạt động của các CTLHD.
Thứ ba, việc hoàn thiện pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL phải hài hòa với pháp luật quốc tế và đáp ứng
được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ tư, việc hoàn thiện pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh
vực cung cấp DVPL phải bảo đảm tính thống nhất và minh bạch.
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh
hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
3.2.1. Bảo đảm sự thống nhất trong quy định về thành viên
hợp danh theo Luật Doanh nghiệp (2014) và thành viên hợp danh
theo Luật Luật sư (2012)
LDN (2014) và LLS (2012) cần thống nhất trong việc xác định
tư cách TVHD của CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL


21
theo hướng cho phép TVHD của CTHD theo quy định của LDN
(2014) có thể là một tổ chức.
3.2.2. Cho phép các luật sư được thành lập công ty luật hợp
danh hữu hạn
Thừa nhận CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL có
thể có thêm thành viên góp vốn sẽ góp phần thúc đẩy sự đa dạng
hóa các hình thức kinh doanh của các nhà đầu tư.
3.2.3. Phân định rõ ràng hai loại hình hợp danh là công ty
hợp danh thông thường và công ty hợp danh hữu hạn
Khi thừ nhận CTLHD, LDN (2014) phải tách biệt rạch ròi giữa
CTHD thông thường và CTHD hữu hạn thì mới đưa CTHD về đúng
bản chất của nó và bảo đảm sự thống nhất với LLS (2012).
3.2.4. Bổ sung thêm hình thức công ty luật hợp danh trách
nhiệm hữu hạn
Pháp luật cần thừa nhận hình thức kinh doanh này vì nó phù hợp
với điều kiện của Việt Nam và thông lệ quốc tế
3.2.5. Về tư cách pháp nhân của công ty hợp danh hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Theo tác giả luận án, có thể loại bỏ tư cách pháp nhân của
CTHD, còn nếu LDN vẫn thừa nhận CTHD có tư cách pháp nhân thì
cần bổ sung một số quy định như: (i) Nếu có nhiều Luật cùng điều
chỉnh một vấn đề thì ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành; (ii) Giảm
mức thuế thu nhập doanh nghiệp đối với công ty hoặc mức thuế thu
nhập cá nhân đối với TVHD.
3.2.6. Cần có sự thống nhất về vấn đề giải thể đối với công ty
hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Các quy định của pháp luật về vấn đề này còn mâu thuẫn. Tác
giả luận án cho rằng, LDN (2014) và LLS (2012) nên quy định theo


22
hướng CTHD nói chung và CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp DVPL sẽ bị giải thể khi có ít nhất ba phần tư (3/4) số TVHD
nhất trí.
3.2.7. Quy định một cách cụ thể và đầy đủ về vấn đề tổ chức
lại công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ
pháp lý
Pháp luật cần quy định rõ thủ tục hợp nhất và sáp nhập cũng
như các hậu quả phát sinh từ việc thực hiện hai thủ tục này như thế
nào? Hình thức pháp lý của công ty hợp nhất hoặc sáp nhập là gì?...
3.2.8. Đổi mới việc đăng ký, cấp phép đối với công ty hợp
danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý
Pháp luật nên quy định CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp DVPL phải đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư như
các doanh nghiệp khác.
Kết luận chương 3
Trên cơ sở những định hướng được phân tích, nghiên cứu sinh
đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện những nội dung cụ thể của
pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL ở
Việt Nam.


23
KẾT LUẬN
Công ty hợp danh hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL có
vai trò khá quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế- xã hội ở
Việt Nam, là phương tiện để các nhà đầu tư thực hiện mục đích và
nhu cầu cuộc sống; với tư cách là một thực thể kinh doanh tồn tại
và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề về nó tất yếu
phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Việc nghiên cứu pháp luật về
CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp DVPL là điều hết sức cần
thiết, nhằm tìm ra mô hình điều chỉnh pháp luật phù hợp đối với
chúng, bảo đảm sự phát triển ổn định và ngày càng tốt hơn trong
nền kinh tế. Đây là một bộ phận cấu thành pháp luật về chủ thể kinh
doanh nằm trong cấu trúc pháp luật về nền kinh tế thị trường, là loại
hình kinh doanh mới xuất hiện ở Việt Nam nên trong bộ phận pháp
luật này còn có những khiếm khuyết, những điểm chưa thực sự phù
hợp với bản chất của loại hình doanh nghiệp này, khiến cho nhà đầu
tư có phần e ngại khi lựa chọn để kinh doanh trong khi các mô hình
khác có lợi thế hơn nhiều. Có những quy định còn thể hiện sự sao
chép pháp luật nước ngoài; do đó, khi áp dụng vào điều kiện cụ thể
của Việt Nam thì chưa thực sự bảo đảm được tính khả thi.
Qua việc nghiên cứu đề tài, luận án đã làm sáng tỏ các vấn đề
lý luận như: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của CTHD hoạt động
trong lĩnh vực cung cấp DVPL; khái niệm, vai trò, nội dung và
nguồn của pháp luật về CTHD hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
DVPL… qua đó có thể thấy rằng mô hình kinh doanh này tương đối
phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Song, thực tế cho thấy hình
thức kinh doanh này còn chịu sự điều chỉnh có nhiều bất cập từ khía
cạnh luật thực định nên chưa thể thu hút được các nhà đầu tư như ở
các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Với tính chất là một


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×