Tải bản đầy đủ

LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG

MỤC LỤC



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hương sơn là vùng quê yên bình và hiền hòa thuộc huyện Mỹ Đức, thành phố Hà
Nội. địa danh quen thuộc với người dân Việt nam và nước ngoài, Hương Sơn là
vùng di tích lịch sử - văn hóa - thắng cảnh nổi tiếng lâu đời nhất được tôn danh là:
“ Nam thiên đệ nhất động” một di tích lịch sử quốc gia với Hương Tích, Thiên
Chù, …
Hương Sơn có lịch sử phát triển lâu đời và giàu truyền thống văn hóa và cách
mạng. nơi đây chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quốc gia dân tộc, là cái nôi của nền
Việt cổ với di chỉ văn hóa hà Bình. Các giá trị của vùng đất truyền thống vùng đất
Hương Sơn nối tiếp và bồi đắp trong thời kỳ đấu tranh cách mạng dưới sự lảnh đạo
của Đảng. để có vùng quê trù phú, yên bình như ngày nay là quá trình đấu tranh
với thiên tai, dịch họa kiên cường bền bỉ của thế hệ nhân dân Hương Sơn. Trong
dòng chảy lịch sử ấy đã bồi tụ, hun đúc bản sắc văn hóa bản địa với giá trị truyền
thống quý báu
Chùa Hương là một tập hợp gồm có nhiều đền, chùa, hang động gắn liền với núi
rừng và trở tành một quần thể thắng cảnh rộng lớn, với một kiến trúc hài hòa với

thiên nhiên nhân tạo, tạo hóa đã khéo tay bày nơi đây núi non sông nước hiền hòa
và con người đã thổi hồn mình vào những điều kỳ diệu đó, nó trở nên xinh động,
nhiều màu sắc và chính nó đã tạo nên một nét văn hóa
Lễ hội chùa Hương là đối tượng quan trọng của nền văn hóa dân tộc, có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong đời sống vất chất cũng như tinh thần của con người ta, đồng
thời phản ánh rõ nét sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt trong thời buổi nền kinh
tế thị trường hiện nay
Lễ hội chùa Hương còn khẳng định nơi đây không chỉ là lễ hội văn hóa lớn mà còn
là một nơi tham quan về đất nước, con người, nơi địa danh thắng cảnh sơn thủy
hữu tình.
Với tất cả những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu lễ hội chùa
Hương xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội ” làm bài tiểu luận kết thúc học
phần, học phần Quản lý lễ hội và sự kiện.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Để tìm hiểu đề tài tôi đã tìm đọc một số quyển sách và tài liệu mạng:
Nguyễn Tuấn Anh, (2012), “Di tích lịch sử và danh thắng chùa Hương”, NXB Văn
hóa dân tộc;
3


Nguyễn Đức Bảng, (2009), “ Lịch sử chùa Hương Tích”, NXB Văn hóa dân tộc;
Lễ hội chùa Hương – Wikipedia tiếng việt;
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%85_h%E1%BB%99i_ch
%C3%B9a_H%C6%B0%C6%A1ng
Tài liệu 123.
https://123doc.org//document/4246278-nhung-dac-trung-cua-le-hoi-chuahuong-o-xa-huong-son-huyen-mi-duc-thanh-pho-ha-noi.htm
https://text.123doc.org/document/4246278-nhung-dac-trung-cua-le-hoichua-huong-o-xa-huong-son-huyen-mi-duc-thanh-pho-ha-noi.htm
Những tài liệu nói trên đã cung cấp cho tôi thông tin về đề tài.
Nguyễn Đứ Bảng, (2009), “ Lịch sử chùa Hương Tích”, NXB Văn hóa dân tộc;
3. Mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu.
Tôi tìm hiểu về lễ hội chùa Hương nguồn gốc, thời gian, tính chất, phần lễ, phần
hội, thực trạng, giá trị văn hóa và ý nghĩa của lễ hội chùa Hương
Tôi cũng tìm hiểu rõ, khái quát về lễ hội chùa Hương. Tôi cũng nghiên cứu phản
ánh, đánh giá về thực trạng lễ hội chùa Hương hiện nay
Trên cơ sở nhận xét đánh giá những ưu điểm, nhược điểm tôi đã đưa ra những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát huy giá trị về lễ hội chùa
Hương.
4. Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu về nguồn gốc, thời gian, tính chất, phần lễ, phần hội,
thực trạng, giá trị văn hóa và ý nghĩa của lễ hội chùa Hương tại xã Hương Sơn,
huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Thời gian: từ thời Vua Lê Thánh Tông đến nay.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Để tiến hành thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trên cơ sở phương pháp luận, tôi
đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến trong nghiên cứu khoa học cụ
thể như:

4


Phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý, logic: trên cơ sở những thông tin tôi thu
thập được, tôi tiến hành phân tích thực trạng về lễ hội chùa Hương tại xã Hương
Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
7. Bố cục đề tài.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục đề tài có 3 chương:
Chương 1. Một số cơ sở lý luận về lễ hội Việt Nam và tổng quan về xã Hương Sơn,
huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Chương 2. Thực trạng lễ hội chùa hương xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Chương 3. Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và
phát huy giá trị lễ hội chùa Hương.

5


Chương 1. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỄ HỘI VIỆT NAM VÀ TỔNG
QUAN VỀ XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
1.1. Một số cơ sở lý luận về lễ hội việt nam
1.1.1. Một số khái niệm
Khái niệm về lễ:
“Lễ” theo tiếng việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm
một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó.
“Lễ” là những nghi thức được tiến hành theo những quy tắc nhất định mang tính
biểu trưng nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự kiện, nhân vật nào đó với mục
đích cảm tạ, tôn vinh về sự kiện nhân vật đó với mong muốn nhận được sự trợ giúp
từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng.
Khái niệm về hội:
Là cuộc vui bằng vô số hoạt động giải trí công cộng, hội diễn ra tại một địa điểm
nhất định liên quan đến cộng đồng và mở hội nhân dịp lễ kỉ niệm một sự kiện xã
hội hay tự nhiên nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự hội.
Khái niệm về lễ hội:
Theo tác giả Cao Đức Hải trong cuốn Quản lý lễ hội và sự kiện:
Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng xoay
xung quanh một trục ý nghĩa nào đó nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị
nhất định.
Theo tác giả Lê Trung Vũ từ việc phân tích hội làng đã đưa ra khái niệm lễ hội:
Là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng làng, xuất
phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển cho cả làng, sự bình yên cho
từng cá nhân, niềm hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ,
sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà từ bao đời đã gửi niềm mơ
ước chung vào 4 chữ nhân khang vật thịnh hay quốc thái dân an.
1.1.2. Đặc điểm các loại lễ hội truyền thống Việt Nam
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người
dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử
Lễ hội là hoạt động văn hóa của cộng đồng đã có từ lâu đời, thể hiện bản sắc văn
hóa của từng dân tộc. Lễ hội truyền thống được tổ chức vào thời gian cố định
thường là hàng năm và tại địa điểm cố định thường là nơi thờ phụng đấng suy tôn
nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh và nhu cầu giải trí của cộng đồng.
6


Lễ hội hội truyền thống là lễ hội của cư dân nông nghiệp, lúa nước, thể hiện khát
vọng về cuộc sống no đủ và hạnh phúc. Đặc điểm này được phản ánh qua thời
gian, không gian , người tổ chức lễ hội,người tham gia lễ hội, mục đích tổ chức lễ
hội và cơ cấu lễ hội.
Phần lớn lễ hội được tổ chức vào mùa nông nhàn như một hoạt động không thể
thiếu trong chu kỳ nông lịch. Mục đích mà cộng đồng làng muốn chuyển tải ở lễ
hội là khát vọng cầu mong cho mùa màng bội thu hoặc thể hiện lòng cảm tạ đấng
linh thiêng vừa ban cho một vụ mùa. là nghi thức hướng tới các đấng suy tôn anh
hùng huyền thoại, anh hùng lịch sử, người có công với dân làng xã như hồi tưởng
lại công lao của thần linh. ôn lại những điều tâm niệm chung của dân làng địa
phương cả nước. thể hiện nguyện vọng, ước mơ của dân làng về cuộc sống thái
bình thịnh vượng. cơ cấu lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội. Trong đó, lễ là hệ
thống các hành vi và động tác biểu hiện lòng tôn kính của dân làng đối với các vị
thần linh mà dân làng đang thờ phụng và phản ánh khát vọng của dân làng
Về cấu trúc, lễ hội truyền thống là sự tái hiện cuộc sống cộng đồng dưới hình thức
tế lễ và hội. Lễ và hội là hai nội dung bổ sung cho nhau, có quan hệ mật thiết với
nhau trong trình tự một lễ hội. Phần lễ thể hiện tính trang trọng, tôn nghiêm và tính
thiêng. Phần hội tạo tính hào hứng, thoải mái, đem lại sự phấn khởi cho những
người tham gia hòa vào niềm vui của cộng đồng..
Lễ hội truyền thống thể hiện tính dân chủ và kết nối cộng đồng: Hội là sinh hoạt
dân dã, phóng khoáng diễn ra trên sân bãi để dân làng bình đẳng vui chơi và chủ
động tham gia, bao gồm trò chơi thượng võ: trò chơi thi tài: trò chơi nghề nghiệp:
trò chơi tín ngưỡng và trò chơi giải trí.
Lễ hội truyền thống của người Việt phần lớn được tổ chức tại các địa điểm
thiêng (đình, đền, chùa). là trung tâm của sinh hoạt văn hóa và là không gian thiêng
của cư dân làng xã. Hoạt động lễ hội luôn gắn liền với nhân vật thiêng mà dân
làng tôn thờ và được tổ chức theo năm âm lịch.
1.1.3. Ý nghĩa, vai trò trong đời sống người Việt
Lễ hội cổ truyền có vai trò cơ bản là thỏa mãn nhu cầu tâm linh của cộng đồng và
nhu cầu vui chơi , giải trí và rèn luyện thể lực của người dân.
Lễ hội truyền thống thể hiện truyền thống quý báu của cộng đồng, tôn vinh những
hình tượng thiêng, được định danh là những vị Thần, những người có thật trong
lịch sử dân tộc hay huyền thoại. Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm
chất cao đẹp của con người. Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những
người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với
thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền
7


thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn
cuộc sống hạnh phúc... Lễ hội là sự kiện để tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của
các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc.
Lễ hội truyền thống là dịp con người được trở về nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội
của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người
Thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân
tộc. Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành
cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát
huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết
hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí...
Là dịp con người được giải toả, dãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong
được thần giúp đỡ, chở che đặng vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi
sáng hơn.
1.2. Tổng quan về xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
1.2.1. Khái quát về xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Hương Sơn nằm ở vùng đất trũng, phía nam của huyện Mỹ Đức, thành phố Hà
Nội, xã Hương Sơn gồm 6 thôn: Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vỹ và
Hạ Đoàn. nơi giáp ranh của 4 huyện và 3 tỉnh: huyện Mỹ Đức với huyện Ứng Hòa
(Hà nội), Kim Bảng (Hà Nam), Lạc Thủy (Hòa Bình).
Vùng rừng núi Hương Sơn có địa thế hiểm yếu, chân núi phía tây giáp Hòa Bình,
là đường 21A nối liền Hà Đông - Hòa Bình với Nimh Bình - Thanh Hóa. Xưa là
đường Thượng Đạo một huyết mạch thời Lý, Trần, Lê
Xã Hương Sơn nằm trên bái bồi sông Đáy, phía đông và phía nam là hai dòng sông
Đáy uốn lượn ôm trọn vùng đất này và trở phù sa về làm giàu đất đai của các cánh
đồng, dòng sông đáy kéo dài từ đầu làng Hòa Đoạn rồi uốn lượn ôm trọn lấy lấy
bãi Nương (Tiên Mai), vòng về ấp Tân Sơn vơi các xã Hồng Quang (Ứng Hòa),
Tượng Lĩnh (Kim Bảng).
Diện tích tự nhiên của xã Hương Sơn là 4283ha, hình thành 2 vùng. Vùng núi phía
tây bao mòn và vùng đất bồi tụ phù sa sông Đáy
Xã Hương Sơn là vùng quê sơn thủy hữu tình, trên có núi non trùng điệp, rừng
nguyên sinh, hang động, dưới có hệ thống sông suối thơ mộng, cảnh quan hài hòa
trong môi trường thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng là các di tích lịch sử văn hóa cổ
kính như: Chùa chiền, đình đền, miếu mạo. tất cả hòa quyện với nhau thành danh
thắng nổi tiếng.
8


Vị trí địa lý: Huyện Mỹ Đức nằm ở phía tây nam Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội
52 km theo đường Quốc lộ 21B.
Phía Đông giáp huyện Ứng Hòa
Phía Bắc giáp huyện Chương Mỹ
Phía Tây giáp huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Phía Tây Nam giáp huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Phía Đông Nam giáp huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Dân số: là 169.999 người vào năm 2009
Dân tộc: chủ yếu là Kinh
1.2.2. Nguồn gốc và lịch sử hình thành Chùa Hương
Chùa Hương gắn liền với tín ngưỡng dân gian thờ Bà Chúa Ba. Theo truyền thuyết
thì ở vùng “Linh sơn phúc địa này “ vào thế kỷ đầu tiên đã có công chúa Diệu
Thiện tục gọi là chúa Ba ứng thân của Bồ Tát, Quan Thế Âm đã vào tu hành 9 năm
đắc đạo thành phật đi cứu độ chúng sinh. (Ngày Phật Đản là ngày 19 tháng 2 hằng
năm theo Âm lịch). Đây cũng là giữa mùa xuân, mùa của trăm hoa đua nở, cây cỏ
xanh tươi khí trời mát mẻ.
Người xưa có câu “ Xuân du phương thảo địa “. Mùa xuân đến nơi đất có hoa cỏ
đẹp. Hoặc quan niệm “tháng Giêng là tháng ăn chơi”, nên các tao nhân mặc khách
thường lui tới những nơi có danh thắng đẹp thưởng ngoạn, chính vì thế Chùa
Hương là nơi hội tụ của bao người.
Có thể nói, Chúa Vương Trịnh Sâm là người đưa vị thế động Hương Tích trở thành
một di tích lớn, và cũng là đặt nền móng cho sự phát triển lễ hội Chùa Hương về
sau và cho tới bây giời, cũng từ đó hàng năm khi mùa xuân đến, dần dần du khách
đến với lễ hội ngày một đông vui. Nhưng phải mãi đến năm 1896 niên hiệu Thành
thái năm thứ 8 mới chính thức mở hội lớn. Xưa hội Chùa Hương thường được mở
sau ngày lễ hội khai sơn của làng Yến Vỹ vào ngày mùng 6 tháng Giêng.
Lễ khai sơn vốn là nghi lễ của người việt cổ tạ ơn thần núi, Chúa Sơn Lâm và cầu
mong trong năm mới làm ăn may mắn tránh được tai ương, tà ma thú giữ. Trong
ngày lễ này, sau những nghi thức cúng lễ dân làng cử một vị bô Lão có uy tín trong
làng, gia đình song toàn, nhà không có tang… Thay mặt dân làng cầm dao đi ra
phía sau Đền chặt một số cành cây, giây leo “làm phép”. Kể từ ngày hôm đó người
dân mới chính thức vào rừng.
Kể từ khi Vua Lê Thánh Tông niên hiệu Quang Thuận (1460 – 1469) khai phá ra
vùng đất Hương Sơn đến nay, đã trải qua 13 đời Sư tổ, để có được danh thắng
9


Chùa Hương như ngày nay.
Ngôi chùa được xây dựng với quy mô chính vào khoảng cuối thế kỷ 17, sau đó bị
hủy hoại trong kháng chiến chống pháp năm 1947, sau đó được phục dựng lại năm
1988 do Thượng Toạ Thích Viên Thành dưới sự chỉ dạy của cố Hoà thượng Thích
Thanh Chân.
Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, Chùa Hương ngày càng được quan tâm
rộng rãi cùng với những chính sách của nhà nước tu bổ, sửa chữa và bảo tồn nên
tại đây đã diễn ra lễ hội Chùa Hương. Lễ hội Chùa Hương đã trở thành một lễ hội
lớn thu hút hàng triệu lượt du khách về thăm quan chiêm bái. Ban tổ chức lễ hội
cũng lấy ngày mùng 6 tháng Giêng Âm lịch hàng năm là ngày khai hội Chùa
Hương. Và mỗi độ xuân về du khách thập phương lại nô nức trẩy hội, tạo nên một
lễ hội tâm linh vui bậc nhất cõi trời Nam, có thời gian diễn ra lâu nhất và có lượng
du khách về trẩy hội đông nhất. Giờ đây lễ hội Chùa Hương đã trở thành một nét
văn hoá tâm linh của người dân Việt Nam. Và rồi đất nước lại báo một mùa Xuân
nữa đến, khắp bốn phương du khách lại nô nức trẩy hội mong thắp một nén tâm
hương trước đấng tối linh thiêng thỉnh một lời nguyện cầu.
“ Không đi thì nhớ thì thương
Ra đi mến cảnh Chùa Hương không về ”

10


Chương 2. THỰC TRẠNG LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN
MỸ ĐỨC, HÀ NỘI
2.1. Tổng quan về lễ hội
2.1.1. Nguồn gốc
Theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Phượng Vũ, xưa, vùng núi Hương Sơn chùa Hương còn khá hoang sơ. Đây là nơi cư trú chủ yếu của đồng bào Mường,
sinh sống chủ yếu bằng nghề hái lượm, săn bắt và đánh cá. Đồng bào quan niệm,
sau mỗi một năm, cửa rừng lại đóng lại vì thế, bước vào năm mới, cần phải làm lễ
Mở cửa rừng để bắt đầu cho một mùa hái lượm, săn bắt mới. Khi chưa làm lễ mở
cửa rừng mà tự tiện vào rừng thì rất dễ gặp rủi ro như: bị ma rừng bắt hồn, bị rắn
rết cắn, hổ báo ăn thịt...
Trong ngày lễ mở cửa rừng, bà con người mường tụ tập lại một khu đất trong rừng
để làm lễ. Khi thầy mo làm lễ xong, trai tráng khỏe mạnh thúc chó vào rừng săn
thú; đàn ông, đàn bà lớn tuổi cùng các cô gái tỏa đi hái rau, hái nấm.
Về sau, người Kinh về đây đông đúc hơn, vùng núi Hương Sơn được cải tạo trở
thành vùng núi sơn thủy hữu tình với những hang động tự nhiên và chùa chiền
được xây dựng. Người Kinh vẫn giữ ngày Mở cửa rừng của đồng bào Mường đồng
thời làm lễ Mở cửa chùa - khai hội chùa Hương cho đến ngày nay.
Vào ngày khai hội, từ sáng sớm, trên các nẻo đường, đã nhộn nhịp bước chân
người. Các lão ông áo dài, khăn đóng, tay cầm hương nganh; các lão bà áo dài tứ
thân, quần lĩnh, tay bưng trầu cau oản quả thành kính bước vào đền Trình làm lễ
Mở cửa rừng.
Từ sau lễ Mở cửa rừng, người dân Hương Sơn mới bắt đầu lên núi săn bắn; đi rừng
hái củi, hái rau. Trên các con suối mới vun vút thuyền tam bản đi đánh cá, vào chùa
Trò, Công việc chuẩn bị Hội mới bắt đầu và đối với khách thập phương cũng bắt
đầu ngày hội.
Hội chùa Hương khởi đầu từ ngày mùng sáu tháng giêng còn kết thúc vào ngày
nào lại phụ thuộc vào người đi Hội. Năm mùa màng thất bát, Hội chùa Hương có
ngắn cũng phải dài hàng tháng; năm phong đăng hòa cốc thì độ dài gấp đôi, gấp
rưỡi.
Đã mấy trăm năm nhưng Hội chùa Hương vẫn nô nức người đi trẩy hội. Bởi thế
mà nó được mệnh danh là hội “vui bậc nhất ở cõi trời Nam” như lời danh sĩ nhà
Nguyễn, Phan Huy Chú đã đề tựa khi du ngoạn chốn này.
Đây là danh thắng nổi tiếng ở xứ Đoài xưa (nay thuộc Hà Nội) bởi “tiểu sơn lâm
mà có đại kỳ quan” và động đẹp nhất trời Nam. Hiện, đồng bào Mường không còn
sinh sống ở khu vực này nhưng dấu vết của họ còn khá đậm trong các tục thờ đá,
11


ném đá chơi động, chơi hang và đặc biệt là trong ngày khai hội chùa Hương ngày
nay.
2.1.2. Thời gian
Lễ Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo dài đến hạ tuần tháng 3
âm lịch. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng 2 âm lịch. Ngày
này vốn là ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) của địa phương. Đến nay nghi lễ "mở
cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới là mở cửa chùa.
Về phần lễ có nghiêng về “thiền”. Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị sơn thần
thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Đền Cửa Vòng là “chân long linh từ”
thờ bà chúa Thượng Ngổn, là người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh với cái
tên là “tì nữ tuý Hồng” của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn, chùa
Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng 2.1.3. Tính chất
Chùa Hương là một danh thắng cảnh nổi tiến, không chỉ bởi cảnh đẹp mà là một
nét văn hóa tín ngưỡng đạo phật của người Việt Nam
Lễ hội mang tính tôn giáo nhằm đáp ứng nhu cầu tôn giáo của cộng đồng xã hội,
nhu cầu tâm linh, nhu cầu thưởng ngoạn, thăm quan du lịch và văn hóa của con
người, đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng của nhân dân.
2.1.4.Ý nghĩa trong đời sống người Việt
cá thần.
Trẩy hội chùa Hương là hành động giải tỏa hòa hợp giữa thực và mơ, tiên và tục thực là nền tảng, là ước vọng - trên cái không khí mùa xuân tươi vui mà con người
Việt Nam chất phác, nhân ái thuở xưa cảm nhận hành động và trao truyền.
Lễ hội là nơi phản ánh tâm hồn con người, mang đậm văn hóa của mọi vùng đất,
gắn với phong tục tập quán của làng quê.
Trải qua dòng chảy vô tận của thời gian, con người đã nhận ra rằng cuộc sống ấm
no, hạnh phúc, con người không chỉ có điều kiện đầy đủ về vật chất và còn cả yếu
tố về tinh thần. vì thế nhu cầu tâm linh cần giải tỏa những ức chế này sinh trong xã
hội. do đó lễ hội ra đời và đó là mục đích của con người hướng tới , đó là sự thư
giãn về mặt tinh thần, đến với lễ hội chùa Hương ở xã Hương Sơn mọi người sẽ
cảm thấy lòng mình thanh thản hơn, phấn chấn tự tin bước tiếp con đường rộng
mở.
12


Hiện thực và huyền thoại đan xen kết nối làm tăng thêm giá trị của lễ hội chùa
Hương. Hiện thực là những hoạt động cụ thể làm cho người dân vui thích, huyền
thoại với những lớp sương mù mờ ảo thần làm cho người dân vui thích, Lễ hội chù
Hương là nét đẹp văn hóa của của người dân Việt Nam nói chung và nhân dân
Hương Sơn nói riêng, làm sống lại những trang sử hào hùng của chống giặc ngoại
xâm, bảo vệ đất nước của ông cha ta.
Ngoài ra lễ hội chùa Hương còn giúp ta nhớ lại những nét văn hóa truyền thống tốt
đẹp mà thập phương khắp nơi đều biết đến. Làm cho nền văn hóa dân tộc thêm
phong phú đậm đà bản sắc.
Lễ hội Chùa Hương góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa tín ngưỡng phật giáo,
làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Việt Nam. Đồng thời Lễ hội là
nơi để mọi người về chốn tâm linh sau những năm tháng vất vả trong cuộc sống
mưu sinh
Lễ hội mang ý nghĩ giáo dục cho tất cả con người , hướng con người ta đến cái
chân, thiện, mỹ. giáo dục cho con người ta phải biết và nhớ đến cội nguồn của một
dân tộc cũng như cội nguồn của lễ hội truyền thống, những đạo lý sống của cha
ông ta là luôn sống hiền thiện, làm lành và tránh ác.
Như vậy, lễ hội là toàn thể hệ thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn giáo
ở Việt Nam; có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Những tính
chất tôn giáo có phần bị tình yêu thiên nhiên, tình yêu nam nữ, tình cảm cộng
đồng… tràn đầy chất thẩm mỹ vừa thanh cao, rất trần tục lấn đi.

2.2. Lễ hội
Lễ Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
cách trung tâm Hà Nội khoảng 70km. gồm có 6 thôn: Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá,
Đục Khê, Yến Vỹ và Hạ Đoàn với 4 tuyến điểm: Hương Tích, Tuyết Sơn, Long
Vân, Thanh Sơn. Ngày mồng sáu tháng giêng là khai hội. Lễ hội thường kéo dài
đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng riêng đến 18 tháng
2 âm lịch. Ngày này vốn là ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa rừng) của địa phương. Đến
nay nghi lễ "mở cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới là mở cửa chùa.
Chùa Hương là một tập hợp nhiều động, nhiều chùa trong một tổng thể cấu trúc kết
hợp vừa thiên nhiên, vừa nhân tạo bao gồm núi, đồi, hang, động, suối rừng, chùa
13


tháp…mà đẹp nhất là động Hương Tích, vốn được bình chọn là danh lam thắng
cảnh của Việt Nam.
Trước ngày mở hội một ngày, tất cả các đền, chùa, đình,miếu đều khói hương nghi
ngút, không khí lễ hội bao trùm cả xã Hương Sơn.
Hàng năm cứ mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu
phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp bốn phương lại nô nức về trẩy hội chùa
Hương, hành trình về một miền đất phật. Nơi trác tích Bồ Tát Quan Thế Âm ứng
thiện tu hành, để dâng lên người một nén tâm hương, một lời nguyện cầu, hoặc thả
hồn mình bay bổng hòa quyện với thiên nhiên, ở một vùng miền còn in dấu tích
phật thoại và văn hóa tâm linh.
Người dân xã Hương Sơn và du khách thập phương khi trẩy hội thường gọi với cái
tên dân dã là đi chùa Hương, bởi theo “Truyện Phật Bà chùa Hương” thì nơi đây
là nơi tu trì và trác tích của đức Phật Quan Thế Âm Bồ Tát đã được Việt hoá và
danh xưng là Phật Bà chùa Hương, nghĩa là: Dấu vết thơm tho.
2.2.1 Phần lễ
Lễ thực hiện rất đơn giản, có nghiêng về "thiền". Nhưng ở chùa ngoài lại thờ các vị
sơn thần thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Đền Cửa Võng là "chân long
linh từ" thờ bà chúa Thượng Nàn, là người cai quản cả vùng rừng núi xung quanh
với cái tên là "tì nữ tuý Hồng" của sơn thần tối cao. Chùa Bắc Đài, chùa Tuyết Sơn,
chùa Cả và đình Quân thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.
Chùa Trong có lễ dâng hương, gồm hương, hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay.
Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ
lên bàn thờ. Trong lúc chạy đàn, hai vị tăng ni múa rất dẻo và đẹp mắt. Từ ngày mở
hội cho đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các chùa trên đến gõ mõ tụng
kinh chừng nửa giờ tại các chùa, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt.
Vào ngày lễ hội, làng tổ chức rước thần từ đền ra đình. Cờ, trống đi trước và dàn
nhạc bát âm kéo theo sau, trai gái thanh lịch phụ kiệu, người gia theo sau tiễn thần
Trong lễ hội có lễ rước lễ và lễ rước văn: người làng dinh kiệu đến nhà ông soạn
văn tế rước bản ra đền để chủ tế trịnh trọng đọc điều khiển các bô lão, rước các vị
thần làng.
Như vậy, phần lễ là toàn thể hệ thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn
giáo ở Việt Nam; có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Những
tính chất tôn giáo có phần bị tình yêu thiên nhiên, tinh yêu nam nữ, tình cảm cộng
đồng… tràn đầy chất thẩm mỹ vừa thanh cao, rất trần tục lấn đi.
14


2.2.2. Phần hội
Trẩy hội chùa Hương là cả tâm hồn và thể xác đều được đắm sâu vào trong mây
ngàn cỏ nội.
Du khách đến chùa Hương sẽ có dịp được chứng kiến và may mắn tham dự vào
không khí sinh hoạt văn hóa của lễ hội. Cảm nhận tinh thần thiên nhiên của ngày
hội lịch sử ấy để từ đó hồi âm về quá khứ của tổ tiên ở một làng quê ven chân núi.
Lễ hội chùa Hương là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hóa dân tộc độc đáo như bơi
thuyền, leo núi và các chiếu hát chèo, hát văn …Vào những ngày tổ chức lễ hội,
chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền. Nét độc đáo của hội chùa Hương là
thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật. Chính vì vậy, nói đến
chùa Hương là nghĩ đến con đò - một dạng của văn hóa thuyền của cư dân Việt
ngay từ thuở xa xưa. Và đến nay, ngày hội bơi thuyền ở chùa Hương luôn tạo cảm
hứng mãnh liệt cho người đi hội.
trẩy hội chùa Hương không chỉ dừng lại ở chốn Phật đài hay bầu trời - cảnh bụt,
mà trước hết là do ở sự tiếp xúc - hòa nhập huyền diệu giữa con người trước thiên
nhiên cao rộng. Đó là vẻ đẹp lung linh của sông nước, bao la của đất trời, sâu lắng
của núi rừng, huyền bí của hang động… Và dường như đất - trời, sông núi đẹp hơn
nhờ tài sáng tạo hình tượng - trí tưởng tượng này lòng nhân ái của con người.
Trẩy hội chùa Hương là hành động giải tỏa hòa hợp giữa thực và mơ, tiên và tục thực là nền tảng, mơ là uất vọng - trên cái nền mùa xuân tươi sáng mà con người
Việt Nam chất phác, nhân ái thuở xưa cảm nhận hành động và trao truyền
Nét thanh tịnh của miền đất Phật đã tạo cho con người, cảnh vật hòa lẫn vào không
gian khi vào hội, Đường vào chùa Hương tấp nập vào ra hàng trăm thuyền, cộng
thú vui ngồi thuyền vãng cảnh lạc vào non tiên cõi Phật.
Con người được hòa nhập vào núi vãn cảnh chùa chiền và bắt đầu hành trình mới hành trình leo núi. Leo núi chơi hang, chơi động. Cuộc leo núi tạo ra trong con
người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn lên đến cái đẹp. Và sự kỳ vọng cái đẹp hẳn sẽ
làm cho con người thêm phần sảng khoái tin yêu cuộc đời này hơn. Ðường núi từ
chùa Ngoài vào chùa Trong lúc nào cũng tấp nập.
Rời con thuyền, giã từ sông nước, con người được hòa nhập vào núi vãn cảnh chùa
chiền và bắt đầu hành trình mới – hành trình leo nú. Leo núi chơi hang, chơi động
lý thú vui nước đông đảo mọi người tham gia và hưởng ứng. vì vậy mà leo núi
Hương Sơn dẫu có mệt nhưng có cảnh có người và có không khí của ngày hội nên
ai cũng cảm thấy thích thú với cuộc chơi sông núi của mình.
Cuộc leo núi ấy tạo ra cho con người tâm lý kỳ vọng, muốn vươn lên cái đẹp. sự
kỳ vọng cái đẹp hẳn sẽ làm cho con người thêm phần sảng khoái tin yêu cuộc đời
15


này hơn. Có thể thấy rằng trẩy hội Chùa Hương không chỉ dừng lại ở chốn phật đài
hay bầu trời cảnh bụt, mà trước hết là do sự tiếp xúc – hòa nhập huyền diệu giữa
con người trước thiên nhiên cao rộng. đó là vẻ đẹp lung linh của sông nước, bao la
của đất trời, sâu lắng của núi rừng, huyền bí của hang động… và dường như đất
trời, sông núi đẹp hơn nhờ tài sáng tạo hình tượng - trí tưởng tượng này lòng nhân
ái của con người
Lễ hội Chùa Hương có ý nghĩa tích cực và đang được các cấp chính quyền quan
tâm và phát triển này càng nhiều.
2.3. Giá trị
2.3.1. Giá trị cố kết cộng đồng
Lễ hội chùa Hương thuộc về cộng đồng dân cư xã Hương Sơn “có thể được xem
như là sự phản chiếu sinh động của lễ hội Chùa Hương, bản sắc văn hóa cộng đồng
cũng như là biểu tượng của tinh thần cố kết cộng đồng làng xã được hun đúc qua
thời gian”. Mỗi cộng đồng thuộc xã Hương Sơn hình thành và tồn tại trên cơ sở
gắn kết địa vực và sở hữu tài nguyên, lợi ích kinh tế, gắn kết số mệnh chịu sự chi
phối của một lực lượng siêu nhiên, gắn kết nhu cầu đồng cảm trong các hoạt động
sáng tạo và hưởng thụ văn hóa ... Bất kể một lễ hội nào, dù là lễ hội nông nghiệp,
lễ hội lịch sử, suy tôn các vị thần linh hay anh hùng dân tộc thì bao giờ cũng là lễ
hội của một cộng đồng; biểu dương các giá trị văn hóa và sức mạnh của cộng đồng
trên mọi bình diện, là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng. Như vậy, tính
cộng đồng và cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và là giá trị văn hóa tiêu biểu nhất
của lễ hội chùa Hương.
2.3.2. Giá trị giáo dục
Lễ hội chùa Hương là sự sân khấu hóa đời sống xã hội, mô phỏng, tái hiện sinh
động các nhân vật, sự kiện lịch sử đã diễn ra trong quá khứ dưới hình thức lễ tế,
diễn xướng, trò diễn dân gian. Giá trị giáo dục của lễ hội được thể hiện trong tính
hướng về cội nguồn. “Lễ hội chùa Hương hướng về nguồn cội. Đó là nguồn cội tự
nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra… Hơn thế nữa hướng về nguồn cội đã trở
thành tâm thức của con người Việt Nam”. Điều đó nhắc nhở mọi người trong cộng
đồng những bài học về đạo lý, truyền thống cha ông, về lịch sử làng, lịch sử dân
tộc. Lễ hội là hoạt động văn hóa tinh thần thể hiện tình cảm con người với tổ tiên,
thần thánh để cầu mong mọi lực lượng siêu nhiên che chở, phù hộ. Con người đến
với lễ hội là đến với lòng thành kính tổ tiên và các bậc tiền nhân, nhắc nhở mọi
người nhớ đến bổn phận và trách nhiệm của mình với ông bà, tổ tiên, dòng tộc…
16


Do vậy, lễ hội có giá trị lớn trong việc giáo dục đạo đức, giáo dục truyền thống lịch
sử của làng bản, quê hương, đất nước.
2.3.3. Giá trị văn hóa tâm linh
Trong quá trình lao động sáng tạo, để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của mình, con
người không chỉ biến đổi cải tạo tự nhiên để tạo ra sản phẩm văn hóa, mà còn hòa
mình vào với thế giới hữu hình và vô hình trong tự nhiên. Không ít người bất lực
trước một sự việc nào đó và họ phải nhờ tới sự che chở của một sức mạnh siêu
nhiên, của tổ tiên, dòng tộc, các vị thần linh... cầu mong cuộc sống được bình an,
sức khỏe và thành đạt. Nhờ có lễ hội, cộng đồng dân cư mới có dịp thỏa mãn đời
sống tâm linh, có được những giây phút thiêng liêng, giao cảm, hồ hởi đầy tinh
thần cộng đồng. “Đó là trạng thái thăng hoa từ cuộc sống hiện thực, vượt lên trên
đời sống hiện thực”
Đối với người dân Việt Nam, lễ hội chùa Hương có sức lôi cuốn, hấp dẫn, trở
thành nhu cầu và khát vọng cần được đáp ứng, bởi “thông qua những hình thức
biểu hiện của mình, lễ hội trở thành một hiện tượng văn hóa tổng hợp làm thỏa
mãn nhu cầu văn hóa tâm linh và tâm lý vật chất của con người”. Khi con người
đến với lễ hội, được đắm mình trong lễ hội, tận hưởng những giây phút thiêng
liêng, chính là lúc họ được sống những giờ phút giao cảm hồ hởi đầy tinh thần
cộng đồng. Như vậy, lễ hội với những hình thức cúng tế, dâng lễ vật, cầu nguyện
thần linh... đã hàm chứa giá trị văn hóa tâm linh.
2.3.4. Giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa tinh thần
Khi tham gia vào lễ hội, con người được sáng tạo, hóa thân thành văn hóa, văn hóa
làm biến đổi con người. Đây chính là quá trình trao truyền văn hóa từ thế hệ này
sang thế hệ khác. Nhân dân là người đứng ra tổ chức, sáng tạo, tái hiện sinh hoạt
văn hóa cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hóa tâm linh. Khi tất cả mọi người
chìm vào không khí thiêng liêng, hứng khởi của lễ hội thì khoảng cách giữa con
người dường như không còn, mọi người cùng nhau sáng tạo và hưởng thụ văn hóa.
Trong quá trình giao cảm với thế giới thiêng liêng bí ẩn, ai cũng có đức tin và
mong muốn sự chứng giám của thế giới tâm linh về thái độ thành kính của mình.
Hằng năm, vào mùa lễ hội, mọi người cùng nhau hành hương, chiêm bái về cái
thiêng và như vậy lễ hội lại nảy sinh ra những giá trị văn hóa mới mang tính thời
đại.

17


2.3.5. Giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Lễ hội là một hình thức tái hiện quá khứ thông qua các hoạt động tế lễ, các trò diễn
sinh động hấp dẫn như tế lễ, rước, trang phục, văn tế, trò diễn dân gian, dân ca, dân
vũ… Các hoạt động ấy không những tái hiện cuộc sống mà còn góp phần giữ gìn
và bảo tồn văn hóa dân tộc. Lễ hội với những hình thức, nội dung phản ánh đầy đủ,
sinh động đời sống vật chất và tinh thần của xã hội trong một giai đoạn lịch sử cụ
thể, đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới toàn thể cộng đồng làng xã, vùng miền,
dân tộc, quốc gia. Những sự kiện lịch sử, đời sống xã hội được lưu truyền từ thế hệ
này sang thế hệ khác thông qua dịp lễ hội hàng năm. Và như vậy, lễ hội góp phần
bảo tồn văn hóa dân tộc ngay trong chính tâm thức của cộng đồng.
2.3. Thực trạng
2.3.1. Ưu điểm
Chùa Hương là một danh thắng cảnh nổi tiếng, không chỉ cảnh đẹp mà còn là một
nét đẹp văn hóa tín ngưỡng đạo phật của người Vệt Nam ta. Không giống với bất
cứ ngôi chùa nào , chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa hang động, gắn liền
với núi rừng với một kiến trúc kết hợp hài hòa vừa thiên nhiên vừa nhân tạo.
Giờ đây lễ hội chùa Hương không còn chỉ là giá trị riêng của một vùng miền mà là
một di sản văn hóa của quốc gia và cũng như là giá trị văn hóa của nhân loạivì nó
giá trị sống còn của chuối phát triển của con người từ xa xưa cho tới ngày nay, vì
vậy chúng ta cũng cần phải biết chân trọng gìn giữ những giá trị văn hóa của cha
ông ta để lại cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Lễ hội chùa Hương là nơi bảo tồn, trao truyền văn hóa giữa các thế hệ, góp phần
tạo ra sự đa dạng về văn hóa, là một kho tàng tài sản quý giá của đất nước
Lễ hội còn có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của con người thể hiện rất
rõ sắc thái văn hóa của từng vùng miền. thông qua lễ hội nhu cầu văn hóa và tâm
linh của cộng đồng được thỏa mãn, các truyền thống và phong tục tập quán được
duy trì
Khi lễ hội chùa Hương mở ra, nhân dân nô nức phấn khởi, sự đoàn kết giữa mọi
người trong cộng đồng dân cư cũng tăng thêm. Phụ nữ thi nhau trổ tài nấu nướng,
nữ công gia tránh. Nam giới trổ tài trang trí, căng đèn kết hoa và cắt dán khaaue
hiệu, trang trí cổng chào
Đối với du khách thập phương đầu xuân đến lễ hội, cầu năm mới vạn sự như ý, tốt
đẹp, bình an đến với gia đình và bản thân là một sinh hoạt văn hóa truyền thống lâu
18


đời của người Việt Nam. Đến lễ hội bên cạnh sự tín ngưỡng, du khách còn cảm
nhận được không khí mùa xuần tràn ngập khắp nơi và để thạnh tịnh lòng mình.
Người đến lễ hội hướng tâm cầu nguyện cho bản thân, gia đình được bình an may
mắn trong năm mới, người chưa có gia thất thì cầu tình duyên, người khó khăn
đường con cái thì cầu tự, người làm ăn buôn bán thì cầu tài và cầu lộc. lễ hội chùa
Hương trong những năm gần đây vẫn duy trì những nét đẹp truyền thống vốn có cả
về không gian và thời gian, vừa đảm bảo yếu tố tâm linh, tín ngưỡng cũng như đáp
ứng tất cả những nhu cầu đi lại, ăn, ở thuận tiện, tạo sức hút ngày càng cao và rộng
rãi đối vơi du khách bốn phương.
Lễ hội chùa Hương đã đáp ứng một cách hiện thực, hiệu quả đời sống văn hóa tinh
thần củan nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạt động hội, bải
tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng, miền, dân tộc. qua sinh hoạt lễ
hội nhân dân được hưởng thụ và sáng tạo văn hóa
Công tác quản lý và tổ chức lễ hội chùa Hương trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện
Mỹ Đức, Hà Nội đã từng bước đi vào nền nếp, nội dung lễ hội phong phú, đa dạng.
Nhận thức của các cấp chính quyền và nhân dân về vấn đề xã hội hóa trong công
tác tổ chức lễ hội ngày càng được nâng cao, phát huy được vai trò chủ thể và năng
lực sáng tạo giá trị văn hóa của cộng đồng. Qua đó, các giá trị văn hóa truyền
thống được bảo tồn, thuần phong mỹ tục được phát huy, đạo lý “uống nước nhớ
nguồn”; " Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" được thường xuyên quan tâm giáo dục cho các
thế hệ gắn với tôn vinh những người có công với dân, với nước. Trước khi tổ chức,
các lễ hội đều được xây dựng kế hoạch, ban hành các văn bản hướng dẫn, thành lập
Ban tổ chức và tổ chức thực hiện theo đúng kế hoạch, chương trình lễ hội đã được
ban hành. Việc quản lý tài chính trong lễ hội chặt chẽ, tiền công đức, tiền giọt dầu
được công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích. các vấn đề về an ninh xã hội,
về bảo vệ môi trường được quan tâm, cho thấy sự đồng thuận của chính quyền và
nhân dân trong công tác tổ chức lễ hội. Nguồn kinh phí thu được từ lễ hội đã thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội, phát triển du lịch của địa phương, tái tu bổ di tích và
tổ chức lễ hội.
Việc thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội được coi trọng và đã có nhiều biến
chuyển tích cực. tích cực tuyên truyền hạn chế việc đặt tiền giọt dầu, đặt nhiều bát
hương trong di tích và lễ hội. Ban tổ chức lễ hội xây dựng quy chế hoạt động, nội
quy bảo vệ di tích cũng như hướng dẫn nhân dân, khách tham quan và hành lễ tại
di tích, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ di tích, cảnh quan, môi trường, thực hiện
nếp sống văn minh, văn hóa tín ngưỡng trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và lễ
hội, giữ gìn sự trang nghiêm, linh thiêng nơi thờ tự, đẩy lùi những bất cập, tiêu cực,
hành vi không hợp thuần phong mỹ tục trong việc thắp hương, đốt mã tràn lan, đặt
quá nhiều hòm công đức, thương mại hóa lễ hội, bày bán hàng hóa lộn xộn và tự ý
19


nâng giá…
Nhìn chung, lễ hội chùa Hương diễn ra vui tươi, lành mạnh, an toàn; ý thức của
nhân dân về thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội, về đảm bảo vệ sinh môi
trường đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn hẳn so với những năm trước đây; các
cấp chính quyền đã quan tâm chú trọng đến phương án đảm bảo an toàn lễ hội, vì
vậy đã không để xảy ra các sự cố, các biểu hiện tiêu cực nghiêm trọng... bước đầu
đã tạo được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo nhân dân cũng như các tổ chức xã
hội.
Điều đáng ghi nhận là du lịch lễ hội chùa hương ngày càng có nhiều tiến bộ, công
tác tổ chức, đều hành lễ hội và các hoạt động của lễ hội cũng được thực hiện bài
bản hơn, quy củ hơn, du khách đến với lễ hội rất đông và số lượng lớn tăng theo
từng năm, đa phần là khách nội địa, khách quốc tế chưa nhiều.
2.3.2. Nhược điểm
Lễ hội chùa Hương hiện nay đang được nhà nước ta chú trọng đầu tư phát triển và
đã có nhiều sự thay đổi tích cực và ngày càng có đông khách du lịch tới nơi đây
tham quan, để thỏa mãn nhu cầu tâm linh cầu nguyện. tuy nhiên vẫn còn nhiều bất
cập, cả về thị trường du khách, cơ sở vật chất kỹ thuật, các dịch vụ du lịch, công
tác tổ chức, quản lý, tuyên truyền, quảng bá và đặc biệt là vấn đề bảo tồn di sản
văn hóa. Bên cạnh đó thì môi trường cảnh quan chưa được giữ gìn đúng mức, tình
trạng chặt chém khách hàng chưa được giải quyết dứt điểm, việc kinh doanh ăn
uống động vật hoang dã hay tệ nạn cờ bạc, bói toán, trật tự trị an.. còn có nhiều hạn
chế
Cần gìn giữ đặc trưng của các lễ hội. đa phần các lễ hội là đời sống văn hóa tinh
thần của người dân, là tập quán, là cuộc sống của họ. mỗi cộng đồng trên đất nước
Việt Nam lại có những nét văn hóa khác nhau. Đó là bản sắc, là nét riêng của mỗi
cộng đồng dân tộc. chính vì thế cần giúp họ nhận thức những giá trị tinh thần của
lễ hội mà họ đang có, hướng dẫn cho họ cách thực hành để làm sao vừa văn minh,
vừa văn hóa và thực sự hiệu quả, tiết kiệm là việc của mỗi nhà quản lý văn hóa và
chính quyền địa phương, cạnh những kết quả đạt được thì việc phát huy giá trị lễ
hội chùa Hương trong du lịch chưa tương xứng tiềm năng không gian và thời gian
của quần thể.
Du khách đến với chùa hương từ nhu cầu tâm linh vẫn là chủ yếu, chưa khai thác
hết nhu cầu du lịch của du khách. Việc gắn kết giữa du lịch tâm linh với thắng cảnh
Hương Sơn và du lịch sinh thái, du lịch làng nghề truyền thống… trên địa bàn
huyện vẫn còn chưa được phát huy và khai thác.
20


Tệ rải tiền lẻ khắp nơi: ở lễ hội chùa hương việc sử dụng tiền mới mệnh giá nhỏ
không hợp lý ngày càng phổ biến, ảnh hưởng đến tính tôn nghiêm của di tích, ảnh
hưởng đến tính tâm linh của của lễ hội khi dùng không đúng quy và thiếu hợp lý
đặc biệt ảnh hưởng đến hình ảnh đồng tiền Việt Nam. Hành động rải tiền lẻ của
người tham gia lễ hội làm sai lệch gí trị bản sắc văn hóa trong đời sống tín người
dân gian, lại gây lãng phí xã hội rất lớn
Nạn bán hàng tràn lan: lấn át di tích đang có nguy cơ trở thành trào lưu khiến du
khách đi lễ hội như đi có cảm giác như đi chợ chứ không phải đi lễ hội. hàng hóa
trò chơi bày tràn lan vào cả các điểm của di tích, cảnh chen lấn, bán mua rất lộn
xộn …dẫn đến những vụ việc, tai nạn do chen lấn, xô đẩy, mất an toàn vệ sinh thực
phẩm. bên cạnh đó là những vấn nạn trộm cắp, cờ bạc, mê tín dị đoan, chèo kéo,
chặt chém khách gây bức xúc cho du khách , mặc dù đã được cảnh báo, chấn chỉnh
xong vẫn tái diễn ở khá nhiều lễ hội.
Du khách đến lễ hội chỉ là theo trào lưu: do xã hội ngày càng phát triển, nhiều
người quan tâm đến việc đi các đền chùa, có người đi cầu may, có người đi thưởng
ngoạn . còn một số khách du lịch đến lễ hội theo trào lưu chứ chưa hiểu hết được
giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội mà mình tham gia. Nên đã nảy sinh rất
nhiều vấn đề cần xử lý nhất là môi trường và rác thải
Rác thải: Du khách vào hội vứt rác bừa bãi, trên bờ lẫn dưới sông Yến. Ban quản lý
đã có rất nhiều biển, băng rôn cấm xả rác, đặt các thùng rác. Các thùng rác được
đặt ít, thùng nhỏ nên lượng rác đưa vào quá tải trước lượng rác khổng lồ. Nhưng
chủ yếu các động tác có trách nhiệm của du khách vẫn thờ ơ.
Đò chở khách: Các chuyến đò vì lượng người quá đông thường chở người quá quy
định, tắc đò diễn ra thường xuyên. Một số tình trạng chủ đò lừa lấy tiền trước,
khách ngồi chờ nhưng lại không thấy chủ đò lại.
Nhà vệ sinh: Chủ yếu không được quy hoạch, nên các hộ gia đình tự làm phục vụ
khách có thu phí. Các dạng này cũ kỹ và bẩn thỉu, nhiều khách ngại vì bẩn nên vẫn
tiểu tiện bậy bạ.
Người làm đường: Do lượng người vào đi lễ đông, có những người làm tự tiện phát
cỏ làm đường tắt dẫn vào các lối. Tự tiện đứng thu tiền do mình tạo ra, mà không
có ai ngăn cấm.

21


Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG
3.1. Kiến nghị về công tác quản lý và phát huy giá trị lễ hội chùa hương
Cần gìn giữ đặc trưng của lễ hội. đa số các phần của lễ hội là đời sống văn hóa tinh
thần của người dân, là tập quán, là cuộc sống của họ.
Cần giúp họ nhận thức những giá trị tinh thần của lễ hội mà họ đang có, hướng dẫn
cho họ cách thực hành để làm sao vừa văn minh, vừa văn hóa và thực sự hiệu quả.
Tiết kiệm là việc của mỗi nhà quản lý văn hóa và của chính quyền địa phương để
sử dụng vào những công việc khác đúng mục đích, hợp lý, không gây lãng phí và
đúng với chủ trương của Đảng và nhà nước ta. bên cạnh những kết quả đã đạt được
thì việc phát huy giá trị lễ hội chùa Hương cần có nhiều chế độ đãi ngộ, chính sách
xây dựng và phát triển với mục tiêu luôn phát triển bền vững, ngày càng có nhiều
du khách tới nơi đây thăm quan góp phần kích thích sự tăng trưởng kinh tế của
vùng trong xã hội hiện đại.
Trong công tác quản lý và phát huy giá trị văn hóa truyền thống cần có đội ngũ cán
bộ có trình độ quản lý cao để có thể quản lý tốt các lễ hội diễn ra hằng năm tại nơi
đây. đảm bảo không còn những tệ nạn, những yếu kém trong công tác quản lý.
trong khâu cơ sở hạ tầng giao thông đi lại, cần đảm bảo mọi cơ sở vật chất, dịch vụ
vừa và đủ tránh ảnh hưởng đến cảnh quan của di tích cũng như tính tôn nghiêm và
yếu tố tâm linh của lễ hội.
Cần xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý nhà nước về lễ hội và về
địa phương có di tích nằm tại đại phương đó.
Xây dựng thể chế, chính sách quản lý nhà nước về hội chùa với nhiều nội dung
khác nhau.
Cần có tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức quản lý
hoạt động lễ hội.
Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về ý nghĩa và giá trị của lễ hội nhằm
nâng cao nhận thức của các cơ quan, ban hành và người dân khi tham gia lễ hội. để
tất cả mọi người đều có thể hiểu được ý nghĩa và giá trị của lễ hội.
Đầu tư các nguồn lực quản lý nhà nước về nguồn lực vật chất và về nguồn lực con
người cho quản lý lễ hội.
Tổng kết, đánh giá hoạt động quản lý sau khi lễ hội kết thúc, ban tổ chức lễ hội
đánh giá kết, rút kinh nghiệm cho những lễ hội sau và báo cáo bằng văn bản lên cơ
quan cấp trên.
Thanh tra, kiểm tra hoạt động lễ hội trong việc thực hiện chủ trương chính sách của
đảng và pháp luật của nhà nước. kiểm tra và xử lý nghiêm những sai phạm trong
22


lĩnh vực tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống, ngăn chặn và đẩy lùi kịp thời các
biểu hiện tiêu cực trong lễ hội.
Đầu tư nâng cấp các tuyến đường, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho mùa lễ hội.
Gắn kết giữa du lịch tâm linh với thắng cảnh Hương Sơn và du lịch sinh thái, du
lịch làng nghề truyền thống… trên địa bàn huyện để có thể khai thác tối đa về du
lịch của vùng.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và phát huy giá trị lễ hội chùa
hương
Nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác chỉ
đạo, quản lý và hướng dẫn toàn bộ hoạt động của lễ hội. Xác định vị trí, vai trò chủ
đạo trong công tác tham mưu của Ban tổ chức lễ hội, ban quản lý lễ hội trong việc
quản lý, tổ chức và giải quyết các vấn đề phát sinh tại lễ hội và tại di tích diễn ra lễ
hội, hạn chế mức thấp nhất những tiêu cực có thể xảy ra trong lễ hội.
Cần có sự phối hợp chặt chẽ vào cuộc của các cấp, các ngành tại địa phương trong
trong công tác quản lý và tổ chức lễ hội. Công tác thanh tra, kiểm tra phải tiến hành
thường xuyên, liên tục và xử lý kịp thời và nghiêm minh những hành vi vi phạm
trong hoạt động lễ hội theo quy định của pháp luật, có sức thuyết phục với cơ sở
kiểm tra. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đột xuất. nắm diễn biến, thay đổi
đang diễn ra trong thực tiễn, kịp thời điều chỉnh, uốn nắn để lễ hội phát triển,
nhưng vẫn giữ được hồn cốt của lễ hội.

Việc tuyên truyền giới thiệu về lễ hội, di tích phải được sưu tầm, nghiên cứu một
cách khoa học, thận trọng trước khi tuyên truyền để bảo tồn nét đặc trưng của lễ
hội, tránh sao chép, bắt trước các lễ hội khác mà địa phương không có. Tăng cường
tuyên truyền thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh trong lễ hội đề cao để nâng cao
nhận thức của nhân dân và du khách khi tham gia lễ hội. Tăng cường vận động
nhân dân và du khách tham gia lễ hội, nhất là các hộ kinh doanh dịch vụ tại lễ hội
có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích, ứng xử văn minh trong hoạt động tâm
linh, lễ hội, không ép giá, không chèo kéo khách.
Công tác sơ kết, tổng kết, biểu dương khen thưởng đối với những lễ hội tổ chức tốt
và phê bình kịp thời những lễ hội còn để nhiều tồn tại, hạn chế trong công tác quản
lý và tổ chức lễ hội phải được chú trọng tiến hành thường xuyên sau mỗi kỳ kết
thúc lễ hội. Việc tập huấn cho cán bộ quản lý, cán bộ tổ chức lễ hội phải được thực
hiện thường xuyên, liên tục để nâng cao năng lực quản lý, năng lực tổ chức của đội
23


ngũ cán bộ văn hóa cơ sở. Tăng cường công tác xã hội hóa trong hoạt động quản lý
và tổ chức lễ hội, để các tổ chức và cá nhân tích cực tham gia các nghi lễ, hoạt
động vui chơi giải trí trong phần hội.
Đối với một số lễ hội còn bảo tồn hoặc phát sinh hoạt động tiêu cực mang tính
nhạy cảm, bạo lực cần kịp thời tổ chức hội thảo khoa học và thực tiễn để lấy ý kiến
các nhà khoa học và quản lý nhằm bảo tồn những yếu tố tích cực phù hợp với
thuần phong mỹ tục và cuộc sống đương đại của người Việt, loại bỏ những yếu tố
tiêu cực, nhạy cảm, mang tính bạo lực, thiếu văn hóa.
Công tác tuyên truyền và giáo dục cần được chú trọng và đi trước một bước nhằm
nâng cao nhận thức cho nhân dân về những giá trị văn hóa, lịch sử của lễ hội, trân
trọng, gìn giữ và chủ động phát huy các giá trị đó trong đời sống cộng đồng. Bên
cạnh đó, cần có biện pháp cụ thể đối với các hoạt động mê tín dị đoan và các tệ nạn
xã hội đang sống ký sinh trong lễ hội; xây dựng các quy tắc về tổ chức và tham gia
lễ hội theo đặc điểm của từng vùng, từng địa phương; phát huy vai trò của các tổ
chức, đoàn thể người cao tuổi, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh... trong việc tổ
chức lễ hội; nêu gương người tốt, việc tốt trong việc tham gia tổ chức và quản lý lễ
hội, góp phần làm cho người dân ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với
bảo tồn lễ hội.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước, hoàn thiện các thể chế luật pháp, chính
sách, đưa ra những chế tài phù hợp, để xử lý các vi phạm, nhằm điều chỉnh hành vi
của các tổ chức, cá nhân đối với việc bảo tồn, tôn vinh và phát huy lễ hội. Cần có
sự phân định rõ ràng trách nhiệm của các cấp trong quản lý, bảo tồn lễ hội và di
tích, không để tình trạng các lễ hội phát triển tự phát, lai căng, làm mất đi giá trị
văn hóa của lễ hội.
Khuyến khích các nghệ nhân, những người cao tuổi hiểu biết về các nghi lễ, các trò
chơi dân gian truyền lại cho hậu thế. khẩn trương quy hoạch và tiến hành bảo tồn
các lễ hội, những mỹ tục cổ truyền đang có nguy cơ bị mai một.
Việc đầu tư tài chính cho các lễ hội cần được coi là cấp thiết trong giai đoạn hiện
nay, nhằm tôn vinh lễ hội truyền thống dân tộc và các anh hùng lịch sử. Bên cạnh
việc khai thác, phát huy tinh thần tự nguyện của cộng đồng duy trì và bảo tồn lễ
hội, cần có chính sách quan tâm hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước ở các cấp,
để lễ hội tạo ra nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, có khả năng thu hút khách du lịch,
mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương.
Phát triển mô hình du lịch văn hóa lễ hội và mở các lớp đào tạo nâng cao nghiệp vụ
về quản lý lễ hội. Trang bị cho người làm du lịch quan điểm, đường lối, quy chế và
các văn bản pháp quy về lễ hội, nhấn mạnh việc tổ chức và quản lý lễ hội như một
hiện tượng văn hóa.
24


Các giá trị văn hóa của lễ hội cần được tôn vinh và phát huy dưới góc độ kinh tế du
lịch để thu hút sự quan tâm ngày càng tăng của du khách trong nước và quốc tế, coi
đây là nguồn tài nguyên để phát triển du lịch. Vì thế, lễ hội phải tạo ra được sự hấp
dẫn đặc thù, với các nội dung, hình thức phong phú, đa dạng mang đậm sắc thái
vùng miền. Bên cạnh mỗi lễ hội đơn lẻ cần có kế hoạch tổ chức một số lễ hội lớn,
trọng điểm, có sự đầu tư thích đáng nhằm thu hút, đáp ứng nhu cầu về du lịch tâm
linh, tham quan, nghiên cứu, cùng các dịch vụ khác.
Lễ hội là sản phẩm văn hóa kết tinh lâu đời trong tiến trình lịch sử của cộng đồng
dân cư. Việc tổ chức tốt lễ hội đã góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh
thần của nhân dân. tăng tình đoàn kết cộng đồng, góp phần xây dựng nếp sống văn
hóa ở các địa phương. trong bối cảnh hiện nay, rất cần tiếp tục đẩy mạnh xã hội
hóa các hoạt động bảo tồn và khai thác lễ hội. phát huy vai trò làm chủ của nhân
dân trong đầu tư, tu bổ, tôn tạo di tích và tổ chức lễ hội trên cơ sở những biện pháp
quản lý phù hợp, tiêu chí cụ thể để nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng dân
cư trong việc giữ gìn, phát huy giá trị của lễ hội, góp phần vào công cuộc xây dựng
nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×