Tải bản đầy đủ

Khảo sát một số năng lực học tập của học sinh trong chủ đề vật chất và năng lượng, môn khoa học lớp 4 theo chương trình VNEN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC



Công trình tham gia Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa
học
Trường Đại học Sư phạm năm 2015

Tên công trình:


KHẢO SÁT MỘT SỐ NĂNG LỰC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRONG CHỦ ĐỀ “VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG”
MÔN KHOA HỌC LỚP 4 THEO CHƯƠNG TRÌNH VNEN

Thuộc nhóm ngành:

Giáo dục (GD)

Lớp:


12STH2

Khoa:

Giáo dục Tiểu học

Người hướng dẫn: ThS. Nguyễn Phan Lâm Quyên

Đà Nẵng, năm 2015


M ỤC L ỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................................1
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
1.1. Ở nước ngoài
1.2. Ở Việt Nam
2. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
3. Mục tiêu4
4. Phương pháp nghiên cứu5
4.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết5
4.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn
4.3. Phương pháp quan sát sư phạm
4.4. Phương pháp thống kê, tính toán
4.5. Phương pháp điều tra Anket
4.6. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm5
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu6
5.1. Đối tượng nghiên cứu
5.2. Phạm vi nghiên cứu
NỘI DUNG...............................................................................................................................7


..................................................................................................................................................
78
1.
Kết
luận
..................................................................................................................................................
78
2.
Kiến
nghị
..................................................................................................................................................
78
3.
Hương
nghiên
cứu
tiếp
theo
của
đề tài
..................................................................................................................................................
79


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2-1 Bảng qui đổi từ thang đánh giá năng lực học tập sang thang điểm...............55


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

HSTH

Học sinh tiểu học

HS

Học sinh

GV

Giáo viên

NL

Năng lực

SL

Số lượng


MỞ ĐẦU
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Trong những năm gần đây, nền giáo dục thế giới đang chuyển dần từ giáo dục
theo hướng tiếp cận nội dung sang giáo dục theo hướng tiếp cận NL. Giáo dục Việt
Nam nói chung và giáo dục HSTH nói riêng cũng không nằm ngoài quĩ đạo đó. Vấn
đề về NL cũng như NL học tập của HS là một vấn đề quan trọng, đã được nhiều nhà
giáo dục nghiên cứu, cụ thể:

2. Ở n ước ngoài
Trong buổi hội thảo “Đánh giá học tập của HS theo hướng tiếp cận NL” tại
trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo sư Micheline Joanne Durand - Giám đốc Trung
tâm Nghiên cứu về Đánh giá, Đại học Montreal, Canada - đã giới thiệu các xu hướng
sư phạm trong mối liên hệ với kiểm tra đánh giá. Đặc biệt, giáo sư đã đề cập đến vấn
đề đánh giá theo hướng tiếp cận NL. Những nghiên cứu của giáo sư chỉ là những lý
thuyết chung về NL và đánh giá giáo dục theo hướng tiếp cận NL; chưa đi sâu vào
từng môn học và cấp học [19].
Hiện nay, các nhà giáo dục học trên thế giới đang quan tâm đến vấn đề đánh giá
người học theo hướng tiếp cận NL, nổi bật trong đó có các nghiên cứu quan trọng như:
-Nhóm tác giả Yorkovich, Waddell và Gerwig tập trung phân tích thực trạng hệ
thống đánh giá dựa trên NL. Từ đó, họ đưa ra đề nghị nhằm góp phần thực hiện đánh
giá NL hiệu quả hơn [24].
- Quan điểm “Authentic Assessment” của Mueller, J. Theo quan điểm này,
người học cần được yêu cầu bộc lộ khả năng 5 vận dụng một cách có ý nghĩa những
kiến thức và kỹ năng thiết yếu vào việc thực hiện các nhiệm vụ thực sự diễn ra trong
thực tế (Mueller, J., 2005) [9].
Cả hai nghiên cứu đều có những đóng góp rất tích cực vào xu hướng đánh giá
người học theo hướng tiếp cận NL, tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chưa chú trọng
nghiên cứu về NL và những N

8


L học tập của HS cấp tiểu học mà chỉ là những lý thuyết khái quát về đánh giá
NL người học.
Tại Hội nghị chuyên đề về những NL cơ bản của Hội đồng châu Âu, sau khi
phân tích nhiều định nghĩa về NL, F.E. Weinert kết luận: “Xuyên suốt các môn học
"NL được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết
yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể". Gần đây,
9


Weinert cũng xác nhận trong một tài liệu về chủ đề này ở Đức rằng: có hơn 650 NL
chính (“established that recent publications on the subject in Germany cite more than
650 general key qualifications or key competencies”). Có thể thấy rằng, F.E. Weinert
đã đi sâu nghiên cứu rất kĩ về NL nói chung và NL học tập nói riêng nhưng những
nghiên cứu của ông chưa đề cập đến vấn đề NL học tập cho HSTH. [13]
Theo chương trình Giáo dục Trung học của Bộ Giáo dục Québec, Canada Bộ
giáo dục vùng Québec- Canada đã ban hành chương trình “Đào tạo GV chuyên
nghiệp. Định hướng. NL sư phạm”. Tài liệu này đã phân tích rõ mối liên quan giữa các
khái niệm NL (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge). Chương trình
này đã tổng hợp các định nghĩa chính về NL, trong đó, nêu rõ NL “là tổ hợp những
phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức
độ chính xác nào đó”. Tuy nhiên, vì phạm vi của chương trình ở cấp trung học và đối
tượng hướng đến là GV nên những NL học tập của HSTH không được đề cập đến.[23]
Như vậy, từ các tài liệu giáo dục học chúng tôi nhận thấy các tác giả nước ngoài
đã tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề chung về NL: khẳng định quan niệm,
vai trò, ý nghĩa, cách phân loại NL… Tuy nhiên, nghiên cứu sâu vào vấn đề NL học
tập và phân loại các NL học tập trong từng môn học ở cấp tiểu học thì hầu như chưa
được đề cập đến. Song, những vấn đề mà các nhà nghiên cứu đề cập về NL và phân
loại các NL chính là những gợi ý, định hướng giúp chúng tôi giải quyết những vấn đề
mà đề tài đặt ra.

3. Ở Vi ệt Nam
Trong nước, các nhà giáo dục cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề
phát triển NL học tập cho HS. Một số nghiên cứu về vấn đề phát triển NL học tập cho
HS điển hình như sau:
- Trong luận văn “Một số biện pháp bồi dưỡng NL kiến tạo toán học cho HS
tiểu học”, tác giả Đặng Xuân Dũng đã xác định một số thành tố cơ bản của NL kiến
tạo và lựa chọn một số biện pháp nhằm bồi dưỡng những NL đó cho HSTH, góp phần
nâng cao chất lượng dạy- học toán ở tiểu học.

10


- Trong luận văn “Bồi dưỡng NL phát hiện và giải quyết vấn đề cho HS trung
học phổ thông trong dạy toán hình”, tác giả Từ Đức Thảo đã nghiên cứu một số lí luận
về NL phát hiện và giải quyết vấn đề. Từ đó, tác giả xây dựng một số các biện pháp sư
phạm nhằm bồi dưỡng NL phát hiện và giải quyết vấn đề cho HS, giúp nâng cao chất
lượng dạy học hình học.
- Trong tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo
định hướng phát triển NL học sinh”, chương trình phát triển trung học; đề xuất một số
hình thức đánh giá NL ngữ văn của HS. Những nghiên cứu này đã trình bày một số
quan niệm về NL; đánh giá NL học tập; một số hình thức đánh giá NL học tập của HS.
Một số tác giả cũng khẳng định khi giáo dục Việt Nam đang chuyển mình theo hướng
tích cực, tập trung phát triển NL của người học, thì hình thức đánh giá dựa trên NL của
người học đã trở thành một yêu cầu tất yếu. Tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá đối
với hoạt động giáo dục từ lâu đã được công nhận. Mặc dù áp dụng hình thức kiểm tra
đánh giá mới vào quá trình dạy học vốn không bao giờ là việc dễ dàng nhưng không
thể phủ định những lợi ích và hiệu quả to lớn mà hình thức đánh giá theo NL này
mang lại.
Từ quá trình nghiên cứu lí thuyết, chúng tôi nhận thấy đên thời điểm hiện tại,
vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tiến hành khảo sát các NL học tập của HS trong
chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương trình VNEN để tìm
hiểu về mức độ phát triển NL học tập của HS. Chính vì thế, chúng tôi đã chọn nghiên
cứu về mức độ phát triển một số NL học tập cơ bản của HS qua đề tài: “Khảo sát một
số năng lực học tập của học sinh trong chủ đề “Vật chất và năng lượng”, môn Khoa
học lớp 4 theo chương trình VNEN”.

4. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển nên tất yếu sẽ đòi hỏi
những thay đổi về cơ chế thị trường, về hệ thống giá trị, về nhu cầu cuộc sống và đặc
biệt là về tâm sinh lí lứa tuổi. Xã hội yêu cầu mỗi cá nhân trau dồi kiến thức lẫn những
NL cần thiết để phù hợp với yêu cầu của người lao động mới. Chính điều đó đã tạo
động lực đòi hỏi sự thay đổi của nền giáo dục Việt Nam. Chủ trương đổi mới giáo dục
Việt Nam là “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục”; đổi mới chương trình, nội dung,

11


phương pháp dạy và học; đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng hiện đại,
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đặc biệt, chú trọng đến vấn đề phát triển NL
của HS, giúp HS phát triển toàn diện nhờ hoạt động tự giáo dục của mình.
Mô hình trường học mới VNEN (chương trình VNEN) nằm trong dự án đổi
mới nền Giáo dục Việt Nam, là bước đầu trong việc thay đổi hệ thống giáo dục Việt
Nam. Chương trình VNEN chủ yếu tác động vào việc thay đổi cách thức tổ chức lớp
học, thay đổi quá trình giáo dục hiện đại (dạy học tương tác, tích cực mà nhiệm vụ chủ
yếu của người dạy là thiết kế, tổ chức và thúc đẩy hoạt động học tập) nhằm hình thành,
hoàn thiện và phát triển của mỗi HS.
Năm học lớp 4 là năm học đầu tiên HS được học môn Khoa học, môn học được
phát triển lên từ môn Tự nhiên - Xã hội ở các lớp dưới. Môn Khoa học lớp 4 là môn
học làm cơ sở nền tảng, giúp HS có những kiến thức, NL học tập cần thiết để học tập
các môn học về khoa học tự nhiên ở các lớp trên. Đặc biệt, theo chương trình VNEN,
chương trình môn Khoa học được xây dựng dựa trên cơ sở định hướng phát triển
chuẩn NL của môn học này. Các NL được hình thành chủ yếu qua hoạt động học của
HS. Bản chất của việc dạy học theo chương trình VNEN là tổ chức cho HS trải
nghiệm, tự tìm tòi, khám phá, phát hiện để hình thành kiến thức, kĩ năng mới; từ đó
góp phần hình thành và phát triển NL học tập cho các em.
Chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương trình
VNEN trải dài qua cả học kì I và học kì II. Qua chủ đề “Vật chất và năng lượng”, HS
được tìm hiểu một số vấn đề về đặc điểm, tính chất, vai trò của nước, không khí, âm
thanh, ánh sáng, nhiệt độ…Những vấn đề này tuy gần gũi nhưng nội dung lại mang
tính trừu tượng, đòi hỏi HS phải sở hữu những NL học tập cần thiết để có thể lĩnh hội
và nắm bắt được các kiến thức. Qua đó, HS có thể giải đáp những thắc mắc của mình;
thỏa mãn nhu cầu nhận thức ngày càng tăng của bản thân; vận dụng những điều đã học
vào cuộc sống hằng ngày; hình thành những NL học tập suốt đời. Nhận thấy được tính
cấp thiết của vấn đề, chúng tôi đã chọn đề tài “Khảo sát một số năng lực học tập của
học sinh trong chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương
trình VNEN” làm đề tài nghiên cứu.

5. Mục tiêu
12


Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát một số NL học tập của HS trong chủ
đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương trình VNEN. Trên cơ
sở đó, phân tích làm rõ nguyên nhân, thực trạng và đề xuất một số ý kiến đóng góp
nâng cao hiệu quả phát triển một số NL học tập của HS trong chủ đề “Vật chất và năng
lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương trình VNEN.

6. Phương pháp nghiên cứu
7. Ph ươ ng pháp nghiên c ứ u lí thuy ết
Chúng tôi tham khảo một số tài liệu sách, báo, các bài khóa luận, các bài nghiên
cứu khoa học có các vấn đề có liên quan tới các NL học tập của HS.

8. Ph ươ ng pháp đi ề u tra ph ỏ ng v ấ n
Phương pháp trò chuyện (phỏng vấn) là hình thức tốt nhất để chúng tôi có thể
gần gũi với HS, đồng thời thăm dò, trò chuyện với các GV đảm nhận nhiệm vụ dạy
học môn Khoa học của lớp. Qua đó, chúng tôi có thể tìm hiểu tình hình và NL học tập
của HS để từ đó có cơ sở để xây dựng các tiêu chí, thang đo, phiếu khảo sát, quan sát
các biểu hiện của các NL một cách chính xác và khách quan nhất.

9. Ph ươ ng pháp quan sát s ư ph ạ m
Đây là phương pháp quan trọng giúp chúng tôi quan sát biểu hiện của các NL
học tập của HS qua các giờ học, các hoạt động học tập trong chủ đề “Vật chất và năng
lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương trình VNEN để tìm hiểu về mức độ phát triển
của các NL học tập mà chúng tôi muốn khảo sát.

10. Ph ươ ng pháp th ố ng kê, tính toán
Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, tính toán, xử lí những số liệu có
được từ các phiếu kiếm tra NL và phiếu trưng cầu ý kiến bằng phương pháp thống kê
toán học, qua đó nhận xét về mức độ phát triển của các NL học tập của HS trong quá
trình học chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương trình
VNEN.

11. Ph ươ ng pháp đi ề u tra Anket
Xây dựng hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn theo những nội dung nhất định
thành các phiếu khảo sát về các học tập trong NL chủ đề “Vật chất và năng lượng”

13


môn Khoa học lớp 4 theo chương trình VNEN để phục vụ cho quá trình khảo sát.

12. Ph ươ ng pháp t ổ ng k ế t kinh nghi ệ m
Phương pháp này giúp tổng hợp, đúc kết, rút kinh nghiệm của GV dạy môn
Khoa học ở khối lớp 4 để chúng tôi có thể tìm hiểu thêm những vấn đề thực tiễn,
những tình huống có thể xảy ra có liên quan tới các NL học tập.

13. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
14. Đ ố i t ượ ng nghiên c ứ u
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số NL học tập của HS trong chủ đề “Vật
chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4 theo chương trình VNEN.

15. Ph ạ m vi nghiên c ứ u
- Nội dung nghiên cứu: Chủ đề “Vật chất và năng lượng” môn Khoa học lớp 4
theo chương trình VNEN.
- Không gian nghiên cứu: GV, HS trường tiểu học Hòa Phú, Huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng
- Thời gian nghiên cứu: 10/2014 – 4/2015

14


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Một số vấn đề về năng lực và năng lực học tập của học sinh tiểu
học
1.1.1. Năng lực
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì NL có thể được hiểu theo
hai nét nghĩa:
(1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt
động nào đó.
(2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn
thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao.
Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, NL là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông
qua việc tốt một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học. Hiểu theo nét nghĩa thứ
hai, NL là một thuộc tính sẵn có ở dạng tiềm năng của người học, giúp họ giải quyết
những tình huống có thực trong cuộc sống.
Như vậy, từ hai nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu NL được xem như là những
phẩm chất tiềm tàng, khả năng của mỗi cá nhân để giải quyết đòi hỏi của công việc,
của cuộc sống. Khía cạnh hiện thực của NL là yếu tố mà nhà trường phổ thông có thể
tổ chức hình thành và đánh giá HS.
Theo quan niệm của chương trình giáo dục phổ thông của Québec (Canada) thì
“NL là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình
cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của
hoạt động trong bối cảnh nhất định” [6]. Với cách hiểu này thì việc HS chỉ có kiến
thức, kĩ năng và thái độ không được xem như là có NL mà cả ba yếu tố này phải được
người học vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành NL.
Có thể tham khảo thêm một số cách hiểu về khái niệm “NL” như sau:


Theo tác giả Trần Trọng Thủy (chủ biên) (1999): “NL là tổng hợp những thuộc
tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất
định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [14]
F.E Weinert (2001) cho rằng: “NL là những kĩ năng kĩ xảo học được hoặc sẵn
có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động
cơ xã hội… và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm
và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [6].
Theo OECD (tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002): “NL là khả năng cá
nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối
cảnh cụ thể.” [21]
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005): “NL là một thuộc tính tâm lí
phức tạp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự
sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức.” [6]
Như vậy, có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái
niệm “NL” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết một
tình huống có thực trong cuộc sống.
Từ các khái niệm trên, chúng tôi cho rằng: NL là tổng hợp những thuộc tính độc
đáo của cá nhân (sẵn có hoặc thông qua rèn luyện) phù hợp với những yêu cầu đặc
trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong
lĩnh vực hoạt động ấy.

1.1.1.2. Mối quan hệ giữa năng lực và kĩ năng
a. Một số quan niệm về kĩ năng
Ph.N.Goonbolin (1973) cho rằng: “Kĩ năng là những phương thức tương đối
hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kì nào đó. Các hoạt động này được
hình thành trên cơ sở các tri thức và kĩ xảo - những cái được con người lĩnh hội trong
quá trình hoạt động” [12].
Theo A.G.Kovaliov trong cuốn “Tâm lí học cá nhân” thì nhấn mạnh: “Kĩ năng


là phương thức thực hiện các hoạt động phù hợp với mục đích và điều kiện hoạt động”
[12].
Nhà tâm lí học người Nga V.Barobasiccov (1963) cho rằng: “Kĩ năng là khả
năng sử dụng các tri thức và kĩ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong
quá trình hoạt động của thực tiễn. Khả năng này là khả năng tự tạo của mỗi con
người.” [12]
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: “Kĩ năng là một mặt kĩ thuật của hành động
con người nắm được cách thức hoạt động, tức là kĩ thuật hành động có kĩ năng”. [14]
Nhà tâm lí học K.K.Platonov và G.G.Golubev đã nghiên cứu rất kĩ về phạm trù
này. Hai ông cho rằng kĩ năng là NL của con người thực hiện công việc có kết quả của
người thực hiện công việc có kết quả với chất lượng cần thiết trong những điều kiện
khác nhau và trong khoảng thời gian tương ứng. Bất kì một kĩ năng nào cũng bao hàm
trong đó: biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, kĩ xảo tập trung và phân phối, di chuyển
chú ý, kĩ xảo tri giác, quan sát, tư duy, sáng tạo, tư duy kiểm tra, điều chỉnh hành động
cũng như kĩ xảo hành động. Hay nói cách khác, kĩ năng được hình thành trên cơ sở các
tri thức và kĩ xảo. [12]
b. Mối quan hệ giữa năng lực và kĩ năng
NL hay kĩ năng đều là những khả năng có sẵn ở mỗi cá nhân được sử dụng để
giải quyết những vấn đề hay tình huống nào đó trong cuộc sống.
Một NL là tổ hợp đo lường các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà mỗi người cần
để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động. Để thực
hiện một công việc, một nhiệm vụ có thể đòi hỏi nhiều NL khác nhau. Vì NL được thể
hiện qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người học cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ
năng, thái độ có được vào giải quyết những tình huống mới và xảy ra trong môi trường
mới.
NL góp phần làm cho quá trình lĩnh hội kĩ năng trong một lĩnh vực nhất định
được nhanh chóng, thuận lợi, dễ dàng. NL bao giờ cũng là NL về một hoạt động nhất
định. Muốn có NL trong một lĩnh vực nào đó thì nhất định phải có kiến thức, kĩ năng


trong lĩnh vực ấy. Có NL trong một lĩnh vực tức là có kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực
đó. Sự tiếp thu những tri thức, kĩ năng trong một lĩnh vực là điều kiện không thể thiếu
để hình thành NL trong lĩnh vực đó. Vì vậy, NL được biểu hiện trong việc tiếp thu tri
thức, kĩ năng.
Kĩ năng là NL hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hay nhiều khía
cạnh nào đó để giải quyết những tình huống, công việc trong cuộc sống. Bản thân con
người sinh ra chưa có kĩ năng về một lĩnh vực cụ thể nào (trừ khả năng bẩm sinh) nhất
là những kĩ năng trong cuộc sống. Đa số kĩ năng con người có được và hữu ích với
cuộc sống của con người là xuất phát từ việc được đào tạo. Nền tảng của sự thành
công trong cuộc sống là do 98% được đào tạo, rèn luyện kĩ năng và chỉ có 2% là kĩ
năng bẩm sinh tham gia vào sự thành công của con người.
Kĩ năng của mỗi cá nhân gần như thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện nghĩa
là được hình thành từ khi một cá nhân sinh ra, trưởng thành và tham gia các hoạt động
thực tế cuộc sống như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm,…Kĩ năng là điều
kiện để hình thành NL song không đồng nhất với NL; có kĩ năng trong một lĩnh vực
thì không thể xem là có NL trong lĩnh vực đó nhưng có NL trong một lĩnh vực tức là
bản thân đã có kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực đó.
 Kết luận: NL và kĩ năng có mối quan hệ đồng nhất nhưng không thống nhất với
nhau.

1.1.2. Năng lực học tập của học sinh
1.1.2.1. Quan niệm về năng lực học tập của học sinh
NL học tập là một trong những cụm từ được sử dụng rất nhiều trong giáo dục
hiện nay. Từ các khái niệm về NL, chúng ta có thể hiểu về NL học tập cụ thể như sau:
NL học tập là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của học sinh phù hợp với
những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động học tập, nhằm đảm bảo việc hoàn thành
có kết quả tốt trong lĩnh vực học tập và vận dụng để giải quyết những tình huống có
liên quan trong cuộc sống.

1.1.2.2. Vai trò của năng lực học tập đối với học sinh


Bậc học tiểu học được xem là bậc học nền tảng, cung cấp trang bị cho HS
những kiến thức, kĩ năng, NL cơ bản để phù hợp với sự phát triển của nền giáo dục các
nước trên thế giới. Trong đó, NL giữ một vai trò quan trọng trong quá trình học tập và
giáo dục của HS. NL chính là chìa khóa để mở ra kho tàng tri thức của nhân loại.
Các NL được hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân, NL của
mỗi cá nhân HS không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có chủ yếu là thông qua quá
trình học tập và rèn luyện của HS, nhờ đó, NL của mỗi cá nhân HS được hình thành và
phát triển một cách toàn diện. Có được NL học tập như: NL quan sát, NL liên tưởng –
qui lạ về quen, NL hợp tác nhóm, NL diễn đạt qua ngôn ngữ nói, NL ứng dụng thực
hành… thì quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng của HS sẽ trở nên dễ dàng và đạt hiệu
quả cao hơn.
NL của mỗi HS trong quá trình học tập chính là điều kiện thuận lợi, khác biệt
giữa mỗi HS để tự khẳng định vị trí, tự hoàn thiện bản thân để vươn lên trong quá trình
học tập và rèn luyện. Nhờ có NL mà HS có khả năng vận dụng những kiến thức, kĩ
năng đã học để giải quyết các nhiệm vụ học tập hay những vấn đề mà HS gặp trong
cuộc sống. NL là yếu tố quan trọng trong việc đào tạo ra những chủ nhân tương lai góp
phần vào việc hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước.
Mục tiêu cuối cùng của giáo dục là đào tạo ra những con người mới có đầy đủ
những phẩm chất và NL cần thiết để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại
hóa của đất nước. Vì vậy, trong quá trình học tập, các nhà giáo dục cần tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho HS ở mọi lúc, mọi nơi để hoàn thiện và phát triển một cách đầy đủ
và toàn diện nhất các phẩm chất và NL cần thiết; góp phần vào việc nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

1.1.2.3. Phân loại các năng lực học tập
Có nhiều tài liệu đã chỉ ra những cách phân chia các NL học tập của HS như
sau:
 Theo [15], các NL học tập được chia thành:
-

Các NL chung cốt lõi bao gồm:
o NL tư duy (suy luận, phê phán, sáng tạo);


o NL tự học, học cách học;
o NL tự quản lí bản thân và phát triển bản thân;
o NL hợp tác;
o NL giao tiếp;
o NL tìm kiếm, tổ chức, xử lí thông tin;
o NL phát hiện và giải quyết vấn đề, đặc biệt là ứng phó với những vấn đề
thực tiễn...
-

Các NL chuyên biệt môn học/ lĩnh vực học tập:
o Tiếng Việt;
o Tiếng nước ngoài;
o Toán;
o Khoa học tự nhiên, công nghệ;
o Khoa học xã hội và nhân văn;
o Thể chất;
o Nghệ thuật…
 Theo [2], các NL học tập được chia thành:

-

Các NL chung cốt lõi:
o NL hợp tác;
o NL giao tiếp;
o NL tìm kiếm, tổ chức, xử lí thông tin;
o NL sử dụng công nghệ;
o NL phát hiện và giải quyết vấn đề, đặc biệt là NL đối phó với các vấn đề
thực tiễn trong cuộc sống

-

Các NL chuyên biệt của môn học.
 Theo [7], các NL học tập được chia thành:

-

Các NL chung, cốt lõi được sắp xếp theo các nhóm sau:
o NL làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: NL tự học; NL giải quyết vấn
đề; NL sáng tạo; NL quản lý bản thân.
o NL xã hội, bao gồm: giao tiếp; NL hợp tác.
o NL công cụ, bao gồm: NL tính toán; NL sử dụng ngôn ngữ; NL ứng dụng
công nghệ thông tin (ICT).


-

NL riêng chuyên biệt.
 Theo [8] các NL học tập được chia thành:

-

NL chung - là NL cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình
thường trong xã hội. NL này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên
quan đến nhiều môn học.

-

NL chuyên biệt - là NL riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn
học nào đó.

-

Theo đó đã thống kê chương trình của 11 nước (gồm Anh, Pháp, Đức, Nhật,
Singaporre, New Zealand, Tây Ban Nha, Canada, Scotland, Nam Phi, Úc)theo
hướng tiếp cận NL, phát hiện được 35 NL khác nhau nhưng có một số NL chung
được khá nhiều nước đề xuất/lựa chọn. Cụ thể là 8 NL sau đây:
o Tư duy phê phán, tư duy logic.
o Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ.
o Tính toán, ứng dụng số.
o Đọc - viết (literacy).
o Làm việc nhóm - quan hệ với người khác.
o Công nghệ thông tin - truyền thông (ICT).
o Sáng tạo, tự chủ.
o Giải quyết vấn đề.

-

Có nhiều NL chỉ riêng cho một nước, chẳng hạn:
o Những hiểu biết liên văn hóa (Úc).
o Trực giác - intuitive (Nhật).
o Tham gia và đóng góp (New Zealand).
o Nhận thức toàn cầu (global awareness - Singapore).
o Hiểu biết về văn hoá, nghệ thuật (Tây Ban Nha).
o Học độc lập (Đức).
o NL xã hội (Úc, Sigapore).
 Theo [15] các NL học tập được chia thành: NL nhận thức và NL phi
nhận thức.

Nhóm các NL nhận thức, bao gồm: NL ngôn ngữ; NL nhận biết yêu cầu của vấn
đề; NL phân tích, tổng hợp; NL liên tưởng, quy lạ về quen; NL tính toán và suy luận
logic/tư duy trừu tượng; NL giải quyết vấn đề; NL sáng tạo; NL ghi nhớ.


Nhóm các NL phi nhận thức, bao gồm: NL thích ứng; NL quan sát; NL cảm
xúc; NL hợp tác nhóm; NL lãnh đạo.
 Theo [7], các NL học tập được chia thành: NL chung và NL chuyên
biệt. NL chung của HS lại có thể phân thành 2 nhóm:
-

Nhóm các NL nhận thức: đó là các NL thuần tâm thần gắn liền với các quá trình tư duy
(quá trình nhận thức) như NL ngôn ngữ; NL tính toán và suy luận logíc/tư duy trìu
tượng; NL giải quyết vấn đề; NL tri giác không gian; NL sáng tạo; NL cảm xúc; NL
tương tác; NL ghi nhớ, NL tự học; NL ngoại ngữ; NL công nghệ... và NL nghĩ về cách
suy nghĩ – siêu nhận thức).

-

Nhóm các NL phi nhận thức: đó là các NL không thuần tâm thần, mà có sự pha trộn
các nét/phẩm chất nhân cách như NL vựợt khó; NL thích ứng; NL thay đổi suy nghĩ
/tạo niềm tin tích cực; NL ứng phó stress,... NL quan sát; NL tập trung chú ý; NL quản
lý/lãnh đạo/phát triển bản thân).
Từ việc nghiên cứu các tài liệu trên, chúng tôi có sự phân chia NL học tập của
HS như sau: NL học tập của HSTH bao gồm NL học tập chung và NL học tập chuyên
biệt. Trong đó:
- NL học tập chung: Là NL cơ bản, cần thiết, được phát triển thông qua hầu hết
môn học. NL học tập chung bao gồm NL nhận thức và NL phi nhận thức. Cụ thể như
sau:
o NL nhận thức
 NL diễn đạt qua ngôn ngữ viết
 NL trí nhớ
 NL tư duy, sáng tạo
 NL phân tích, tổng hợp
 NL liên tưởng, qui lạ về quen
 NL giải quyết vấn đề
 NL đọc, xử lí thông tin
 NL dự đoán
 NL bình luận, đánh giá
 NL tính toán và suy luận lô gic
 NL ngoại ngữ
 NL công nghệ


 NL tri giác
 NL cảm xúc
o NL phi nhận thức
 NL ứng dụng
 NL thực hành
 NL diễn đạt qua ngôn ngữ nói
 NL hợp tác nhóm
 NL quan sát
 NL tự điều khiển bản thân
 NL xã hội
 NL lãnh đạo
 NL vượt khó
 NL ứng phó stress
 NL tập trung chú ý
 NL quản lý
 NL phát triển bản thân
-

NL chuyên biệt là NL riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn

học nào đó.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 6 NL
học tập chung của HSTH: NL quan sát, NL liên tưởng – qui lạ về quen, NL hoạt động
nhóm, NL trí nhớ, NL ứng dụng thực hành, NL diễn đạt qua ngôn ngữ nói.

1.2. Mô hình trường học mơi VNEN


1.2.1. Tổ chức lớp học
HỘI ĐỒNG TỰ QUẢN HỌC SINH

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TỰ QUẢN

PHÓ CT HĐTQ

BAN
HỌC TẬP

PHÓ CT HĐTQ

BAN
BAN QUYỀN LỢI HỌCBAN
SINHĐỐIBAN
NGOẠI
SỨC KHỎE
BAN
VỆVĂN
SINHNGHỆ TDTT
THƯ VIỆN

Hình 1.2. Sơ đồ hội đồng tự quản do HS tự tổ chức và thực hiện

Trong lớp học VNEN, bàn ghế không xếp theo kiểu truyền thống mà được bố
trí lại để HS ngồi theo nhóm, phù hợp với sự tương tác giữa các bạn trong nhóm và
giáo viên. Khác với trước đây, ban cán sự lớp do giáo viên chỉ định, trong mô hình
trường học mới, ban cán sự lớp được đổi mới thành Hội đồng tự quản. Hội đồng tự
quản được thành lập là vì HS, do HS, do các em tự ứng cử, đề cử, bầu chọn.

1.2.2. Phương pháp dạy học
Cách tổ chức dạy và học theo mô hình trường học mới giúp HS chủ động tìm ra
tri thức chứ không còn thụ động như cách tổ chức dạy – học truyền thống. Trong mô
hình VNEN, GV hướng dẫn HS làm việc với tài liệu hướng dẫn học qua hình thức
hoạt động nhóm có sự hỗ trợ của đồ dùng học tập. HS chủ động làm việc với tài liệu,
tương tác với các bạn cùng nhóm, cũng như GV và cộng đồng để chiếm lĩnh tri thức.
Chính vì thế, HS được hình thành NL làm việc nhóm, NL phân tích phê phán, khả
năng tự định hình nhu cầu và các NL khác của bản thân.


1.2.3. Đánh giá quá trình học tập của học sinh
Trong quá trình HS làm việc nhóm, GV quan sát, theo dõi sát sao, kịp thời động
viên khuyến khích và hỗ trợ HS. Sau mỗi tiết học đều có sự đánh giá của GV bằng
những nhận xét khích lệ tới HS. GV đánh giá thường xuyên, liên tục trong suốt quá
trình học tập. Kết quả đánh giá HS dựa trên cơ sở học sinh tự đánh giá, đánh giá của
bạn và đánh giá của phụ huynh và GV. Trong quá trình làm việc theo nhóm, HS có cơ
hội tranh luận và đánh giá lẫn nhau. Thông qua đó, GV kịp thời phản hồi tới HS về quá
trình làm việc và kết quả học tập của các em.
Mô hình trường học mới xây dựng mối liên hệ chặt chẽ, tương tác giữa nhà
trường, gia đình và cộng đồng. Cộng đồng và gia đình luôn có vai trò quan trọng trong
giáo dục và hình thành nhân cách của trẻ. Sự kết nối giữa chương trình học với gia
đình và cộng đồng sẽ hiệu quả hơn nếu khuyến khích gia đình và cộng đồng cùng tham
gia.

1.2.4. So sánh với mô hình đào tạo truyền thống
Những
nét đổi
mới
Tổ chức
lớp học

Mô hình trường học VNEN

Mô hình trường học truyền
thống

- Hình thức học tập chủ yếu là theo
nhóm 4 -5 HS.
- Ban cán sự lớp được đổi mới
thành Hội đồng tự quản. Hội đồng
tự quản được thành lập là vì HS, do
HS, do các em tự ứng cử, đề cử,
bầu chọn.

- Hình thức học tập chủ yếu là
theo lớp.
- Ban cán sự lớp do GV chỉ
định, gồm có: lớp trưởng, lớp
phó học tập, lớp phó lao động kỉ
luật, lớp phó văn thể mĩ, ủy viên
phụ trách sao nhi đồng, các tổ
trưởng và các thành viên của
lớp.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×