Tải bản đầy đủ

Rủi ro và lợi nhuận của các ngân hàng thương mại trường hợp việt nam và các nước châu á thái bình dương

Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt là
đối với NHTM do sự ổn định của ngân hàng phụ thuộc nhiều vào lợi nhuận và sự
bền vững của một nền kinh tế cũng liên quan đến sự ổn định của NHTM. Bản chất
của hoạt động ngân hàng là tiềm ẩn rủi ro. Nếu rủi ro không được kiểm soát tốt, thì
dù bằng con đường này hay con đường khác cũng sẽ làm suy giảm lợi nhuận các
ngân hàng.
Lược khảo nghiên cứu cho thấy tồn tại nhiều khoảng trống nghiên cứu liên
quan đến rủi ro và lợi nhuận NHTM. Có nhiều nghiên cứu phân tích các yếu tố tác
động đến rủi ro ngân hàng, như: (1) Các nghiên cứu Blum (1999), (Calem và Rob,
1999), (Repullo, 2004)) tập trung vào vai trò của an toàn vốn đến rủi ro ngân hàng;
(2) Các nghiên cứu của Anderson và Fraser (2000), Konishi và Yasuda (2004),
Uchida và cộng sự (2008) phân tích tác động yếu tố vốn và yếu tố quản lý đến rủi ro
beta của mô hình CAPM. Nghiên cứu của Haq và Heaney (2012) là một trong
những nghiên cứu khá đầy đủ các yếu tố tác động đến rủi ro của các NHTM châu
Âu, đặc biệt rủi ro được tiếp cận từ dữ liệu bảng cân đối và dữ liệu thị trường, tuy
nhiên nghiên cứu này không đề cập đến cấu trúc thu nhập. Tại châu Á, Williams
(2014) đã phân tích khá toàn diện các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng thông qua
chỉ số Z-score. Như vậy, lược khảo tài liệu chưa tìm thấy nghiên cứu nào kiểm định

tác động của các yếu tố đến các rủi ro ngân hàng, trong đó rủi ro được đo lường từ
dữ liệu thị trường và rủi ro được đo lường từ dữ liệu bảng cân đối kế toán được thực
hiện tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm cũng chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác
động đến lợi nhuận. Trong đó, mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận thu hút nhiều sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu phân tích tác
động của nhóm rủi ro được đo lường theo mô hình CAPM gồm: rủi ro thị trường,
rủi ro lãi suất, rủi ro đặc thù tác động đến lợi nhuận cổ phiếu (Ang, 2009; Baele và
cộng sự, 2015; Boehme, 2009; Merton, 1987). Hoặc tác động rủi ro tín dụng đến
hiệu quả ngân hàng (Berger và DeYoung, 1997). Đặc biệt chưa có nghiên cứu nào
phân tích tác động của rủi ro đến lợi nhuận trong đó các rủi ro được đo lường từ dữ

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail : luanvanaz@gmail.com
Phone: 0972.162.399

1




Quyền chọn theo kiểu châu Âu là hợp đồng quyền chọn được thực hiện vào ngày đáo hạn. Ngược lại, quyền
chọn được thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào trước khi đáo hạn là quyền chọn theo kiểu châu Mỹ.

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail : luanvanaz@gmail.com
Phone: 0972.162.399

20


là những nhà đầu tư luôn đánh giá chính xác giá trị cơ bản của chứng khoán và họ
cũng phản ánh hay ứng xử một cách đúng đắn với tất cả thông tin, nhưng trong thực
tế không phải ai cũng hoàn hảo đến mức trở thành “nhà đầu tư hợp lý”; thứ hai, hoạt
động đầu tư của các nhà đầu tư có tương quan kém với những người khác trong khi
các nhà tâm lý học đã chứng minh được các nhà đầu tư đi chệch với kỳ vọng theo
một xu hướng chung; thứ ba, khi nhà đầu tư có hành vi phi lý, các nhà đầu tư sẽ
dùng nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá để điều chỉnh giá sai về trạng thái thực
của tài sản, thế nhưng thực tế cho thấy việc định giá sai không hoàn toàn được khắc
phục khi bị kích hoạt bởi một số yếu tố. Chính những hạn chế này của giả thuyết thị
trường hiệu quả, cùng với những sai lầm trong định giá cổ phiếu hoặc những biến
động quá mức của lợi nhuận cổ phiếu, điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu, nhiều câu hỏi đặt ra là thị trường luôn thật sự hiệu quả hay không? Hoặc thông
tin có thật sự tuyệt đối hoàn hảo không? Những câu hỏi này đòi hỏi lý thuyết hay
công trình nghiên cứu thực nghiệm bổ sung cho lý thuyết thị trường hiệu quả vì
thực tế giả thuyết thị trường hiệu quả không thể giải thích được sự biến động của
giá cổ phiếu. Chính từ đây, nhiều lý thuyết tài chính hiện đại ra đời như lý thuyết
định giá cổ phiếu trong môi trường thông tin không hoàn hảo (Merton, 1987), và
nhiều lý thuyết hành vi sau này đã ra đời.
Lý thuyết định giá cổ phiếu trong môi trường thông tin không hoàn hảo
của Merton (1987)
Theo lý thuyết mô hình định giá tài sản CAPM, với giả định thị trường hiệu
quả về mặt thông tin thì rủi ro tổng thể của một danh mục đầu tư chỉ phụ thuộc duy
nhất vào beta của danh mục đó. Điều này có nghĩa là rủi ro đặc thù của danh mục
đầu tư không được định giá với biện luận rằng nhà đầu tư có thể đa dạng hóa để loại
bỏ hoàn toàn rủi ro đặc thù. Nhưng giả sử rằng nhà đầu tư không đa dạng hóa được
danh mục đầu tư vì những khuyết tật của thị trường8 thì lý thuyết này không chỉ ra
được rủi ro đặc thù có tác động và tác động như thế nào đến giá cổ phiếu hay
không. Theo Merton (1987), lý thuyết mô hình CAPM chỉ có hiệu quả (phù hợp với
8

Những khuyết tật của thị trường có thể kể đến là chi phí giao dịch (chi phí về thông tin và giao dịch trên thị
trường) do thị trường là không hoàn hảo, sự khác biệt về hệ thống kế toán, cách thức hạch toán báo cáo tài
chính đã cản trở những nhà đầu tư “Unconstrained Investors” nắm giữ danh mục đầu tư hoặc nắm giữ một
lương rất ít thì họ không thể đa dạng hóa được.

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Mail : luanvanaz@gmail.com
Phone: 0972.162.399

21


thuyết thị trường hiệu quả) nếu xét biến động giá cổ phiếu trong dài hạn. Với những
lý luận này, năm 1987, Robert Merton đã xuất bản tác phẩm "A simple Mo

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×