Tải bản đầy đủ

chuyen đề toán, lợi

Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Giáo dục là chìa khoá mở kiến thức của nhân loại, giáo dục là tương lai của
một nước, là hạnh phúc của mọi gia đình. Việc giáo dục toàn diện cho học sinh là
công việc cần được cả xã hội quan tâm, bỡi học sinh là thế hệ chủ nhân kế cận của
xã hội. Bộ môn Toán là một trong những bộ môn cơ bản trong hệ thống giáo dục
toàn diện ở nhà trường. Tuy nhiên, một thực tế là phần lớn học sinh chưa thực sự
tích cực trong việc học bộ môn này.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh
là một yêu cầu cấp bách, một vấn đề được quan tâm và chú trọng hàng đầu.
Chính vì thế, tôi mạnh dạn trao đổi ý kiến của mình về việc “Phát huy tính
tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới” nhằm mang lại hiệu quả cao
trong việc nâng cao chất lượng học Toán cho học sinh
1.2. Phạm vi áp dụng đề tài:
II. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu:
Qua quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Toán, qua tiếp
cận hình thành từng bước vào thực tiễn, bản thân tôi đã nhận thức rõ hơn về
phương pháp dạy học mới và cũng qua đó, tôi nhận thấy, ngoài một phần nhỏ học
sinh đam mê học bộ môn Toán thì phần nhiều học sinh rất sợ học môn này. Qua

tìm hiểu thực tế, nguyên nhân cơ bản nhất là do phần lớn các em chỉ nóng vội chú
ý đến kết quả giải toán, nhiều em giải toán nhưng không biết mình đang vận dụng
kiến thức nào, vì thế việc giải các bài toán thực tế gặp rất nhiều khó khăn. Điều này
làm hạn chế hứng thú học tập của học sinh.
2.2. Nội dung:
I.Lí luận chung:
Định hướng chung của phương pháp dạy học mới, là dạy học trên cơ sở tổ chức
và hướng dẫn các hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Giáo viên
phải tổ chức hướng dẫn cho học sinh hoạt động học tập với sự trợ giúp đúng lúc,
đúng mức để từng học sinh hoặc từng nhóm học sinh tự phát hiện và giải quyết vấn
đề.
Một tiết dạy thành công là một tiết dạy mà học sinh say sưa, hứng thú, hiểu
được, nắm chắc và rèn luyện được các kĩ năng cơ bản. Một phần tạo nên sự thành
công đó là việc xác định rỏ mục đích của tiết dạy.
1.
Xác định mục tiêu:

Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

Tổ: Toán - Lý

1


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
-

2.

-

3.

a)

Học sinh phát hiện, nắm chắc, hiểu sâu các đơn vị kiến thức mới qua sự hướng
dẫn của giáo viên và các kiến thức có liên quan.
Học sinh vận dụng thành thạo kiến thức mới, rèn luyện các kĩ năng, thuật toán
và nguyên tắc giải toán trên cơ sở nội dung kiến thức vừa học và phù hợp với trình
độ tiếp thu của đại đa số học sinh trong lớp.
Rèn cho học sinh học tập tích cực, chủ động, có phương pháp tư duy và thao tác
cần thiết, cần khai thác kiến thức nâng cao cho học sinh khá, giỏi.
Một tiết dạy có được thành công ở mức nào, điều này phụ thuộc rất nhiều ở
khâu chuẩn bị của cả thầy và trò.
Chuẩn bị:
a.Chuẩn bị của thầy:
*Về kiến thức:
Giáo viên cần bám mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học.Trong các kiến
thức cơ bản cần xác định rỏ kiến thức trọng tâm, có thể là một kiến thức, một quy
tắc giải toán hoặc một quy tắc suy luận.
*Về phương tiện:
Chuẩn bị các điều kiện, phương tiện dạy học phù hợp với yêu cầu bài học và phù
hợp với điều kiện hiện có của nhà trường: Mô hình, hình vẻ, các dụng cụ thông
dụng khác.
b.Chuẩn bị của trò:
Học sinh làm hết các bài tập được giao, nắm chắc các kiến thức cơ bản, chuẩn bị
đầy đủ đồ dùng và các yêu cầu của giáo viên.
Quy trình bài soạn:
Bản thân tôi đã áp dụng toàn bộ quy trình này trong quá trình giảng dạy.
Chẳng hạn: Bài: “Trường hợp bằng nhau thứ nhất của tam giác cạnh – cạnhcạnh” tôi đã áp dụng như sau:
Chọn kiến thức cơ bản nhất để áp dụng phương pháp dạy học tích cực. Vạch sơ
đồ liên kết các kiến thức được chọn với các kiến thức của tiết học.
KTCB: Nếu ba cạnh của tam giác này bằng ba cạnh của tam giác kia thì hai tam
giác đó như thế nào?
KTLQ: - Hai tam giác bằng nhau là hai tam giác có các cạnh tương ứng bằng
nhau, các góc tương ứng bằng nhau.
- Vẽ tam giác ABC khi biết độ dài ba cạnh.
b) Xây dựng chiến lược dạy kiến thức được chọn bằng phương pháp tích cực.
Muốn thế cần xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập dẫn dắt học sinh đi đến kiến thức
đó.
Chẳng hạn: Để xây dựng khi nào thì ∆ ABC và ∆ A’B’C’ bằng nhau theo trường
hợp cạnh – cạnh - canh? Ta có thể vẽ ∆ ABC biết cạnh AB = 2cm, BC = 4cm, AC
= 3cm và vẽ ∆ A’B’C’ có các cạnh A’B’ = AB, B’C’ = BC, A’C’ = AC. Hãy so sánh
các góc tương ứng của ∆ ABC và ∆ A’B’C’?

Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

Tổ: Toán - Lý

2


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
TL: Các góc tương ứng của ∆ ABC và ∆ A’B’C’ bằng nhau:

Aˆ = Aˆ' ; Bˆ = Bˆ' ; Cˆ = C ˆ'
A'

A

3

2
3

2

B

4

B'

C

4

C'

? Em có nhận xét gì về hai tam giác này.
? Qua hai tam giác trên em có thể đưa dự đoán như thế nào?
GV: Chốt lại kiến thức mới.
c)Sử dụng thêm các bài tập ở SBT, ở các tài liệu tham khảo nhằm củng cố kiến
thức theo hướng vận dụng toán vào thực tiễn và rèn luyện tư duy năng động, sáng
tạo.
Chẳng hạn: BT
4.
Tiến trình lên lớp:
a. Kiểm tra bài cu:
Kiểm tra bài cũ không chỉ là kiểm tra kiến thức ở bài học trước đó, mà có thể
kiểm tra những kiến thức có liên quan đến bài mới, hoặc kiểm tra việc làm bài tập
về nhà của học sinh.
Chẳng hạn:
Câu hỏi 1? Phát biểu định nghĩa hai tam giac bằng nhau?
Cách xác định hai tam giác bằng nhau?
Câu hỏi 2? Theo định nghĩa muốn kết luận hai tam giác bằng nhau ta cần mấy
yếu tố? Đó là những yếu tố nào?
Cho hình vẽ sau, hãy điền vào chỗ trống để được kết luận đúng?

A

A’
800

600
B

Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

400
C

C’

B’

Tổ: Toán - Lý

3


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”

Aˆ = .....; Bˆ ' = .......; Cˆ ' = .........
Với cách này, học sinh vừa ôn lại kiến thức của bài học hôm trước “ Hai tam
giác bằng nhau” vừa sử dụng kiến thức để dẫn dắt vào bài mới. (Đây là các kiến
thức có liên quan đến bài học)
b. Đặt vấn đề và dẫn đến bài mới:
Có thể từ định hướng bài cũ, Giáo viên nêu tình huống có vấn đề, đặt học sinh
cào tình huống có vấn đề để học sinh tìm tòi và giải quyết vấn đề.
Chẳng hạn: Như ta đã biết hai tam giác bằng nhau phải thỏa mãn có các góc
tương ứng bằng nhau và các cạnh tương ứng bằng nhau?
GV: Tạo tình huống: Không cần xét đến các cặp góc tương ứng có bằng nhau hay
không, thì có thể kết luận: ∆ ABC = ∆ A’B’C’ ?
ĐVĐ: Vậy, để trả lời câu hỏi trên hôm nay thầy và trò chúng ta cùng xét trường
hợp bằng nhau thứ nhất của tam giác cạnh –cạnh –cạnh.
c. Tổ chức hoạt động của học sinh:
- Nhằm hình thành các khái niệm, quy tắc và củng cố khái niệm, quy tắc đó, tức
là giáo viên tổ chức hoạt động (luyện kiến thức cũ) để từ đó, học sinh phát hiện và
giải quyết vấn đề. Củng cố lại vấn đề được giải quyết đó chính là kiến thức mới.
Sau mỗi đơn vị kiến thức, có thể cho học sinh bài tập củng cố ngay để khắc sâu
kiến thức.
Chẳng hạn: Gv: Yêu cầu học sinh nhắc lại cách vẽ tam giác ABC khi biết độ
dài ba cạnh của nó sau đó gv hướng dẫn lại cách vẽ và gọi một học sinh khác lên
bảng vẽ một ∆ A’B’C’ có các cạnh A’B’ = AB, B’C’ = BC, A’C’ = AC.
Hs: Lên bảng tiến hành đo các góc của hai tam giác trên rồi so sánh.
Gv: chốt lại kiến thức và giới thiệu trường hợp bằng nhau cạnh – cạnh- cạnh của
hai tam giác.
- Để phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong việc lĩnh hội tri thức bài
học, vận dụng được kiến thức đó vào áp dung giải toán ta nên cho học sinh hoạt
động nhóm, mỗi nhóm khoảng từ 4- 6 em, thời gian khoảng 5-6 phút, các nhóm
trưởng báo cáo kết quả thực hiện, các nhóm tự nhận xét và chấm điểm lẫn nhau
giáo viên chốt lại kiến thức và nhận xét.
Chẳng hạn: Gv yêu cầu làm ?2
Tìm số đo của góc B trên hình 67 (Sgk tr113)
∆ ABC = ∆ A’B’C’;

D

0
A 120

B
C

Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

Tổ: Toán - Lý

4


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
d. Củng cố bài học:
Vận dụng kiến thức mới vào việc giải bài tập, có thể cho học sinh làm các bài
tập mang tính tổng quát để các em khắc sâu hơn kiến thức lí thuyết vừa được học,
có thể lấy thêm bài tập trong SBT hoặc STK cho học sinh khá giỏi, đối với đối
tượng này, giáo viên nên giao cho các em nhiệm vụ ở mức độ cao hơn, để tạo cho
các em thói quen cố gắng ngày càng nhiều, nhằm khuyến khích ý thức phấn đấu,
ganh đua để từ đó các em ngày càng tiến bộ.
Chẳng hạn: Bài tập 1 (Bài 17/SGK-Trang 114)
Trên hình 69, có các tam giác nào bằng nhau ? Vì sao?
M
N

P

Q

f. Hướng dẫn học ở nhà:
Ghi nhớ kiến thức mới, vận dụng kiến thức mới đó để làm bài tập.
5. Tiến trình lên lớp:
1. Ổn định lớp (1’).
2. Kiểm tra bài cũ (4’).
Đề bài
Đáp án
Biểu điểm
Hs1: Phát biểu định nghĩa 2 tam Hai tam giác bằng nhau là hai
5
giác bằng nhau, ghi bằng kí hiệu.
tam giác có các cạnh tương ứng
bằng nhau, các góc tương ứng
Nêu các cạnh bằng nhau, các góc bằng nhau.
5
bằng nhau
∆ABC = ∆A'B'C'
AB=A'B'; AC=A'C'; BC=B'C'
= ; = ; =
A A' B B' C C'

3. Bài mới:
- Yêu cầu học sinh đọc bài toán.
- Nghiên cứu SGK
- 1 học sinh đứng tại chỗ nêu cách
vẽ.
Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

1. Vẽ tam giác biết ba cạnh (10')

Tổ: Toán - Lý

5


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
- Cả lớp vẽ hình vào vở.
- 1 học sinh lên bảng làm
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm ?1
- Cả lớp làm bài
- 1 học sinh lên bảng làm.
? Đo và so sánh các góc:
∠ A và ∠A’, ∠B và ∠B’, ∠C và ∠C’. Em
có nhận xét gì về 2 tam giác này.
- Cả lớp làm việc theo nhóm, 2 học
sinh lên bảng trình bày.
? Qua 2 bài toán trên em có thể đưa
ra dự đoán như thế nào.
- Học sinh phát biểu ý kiến.
- Giáo viên chốt.
- 2 học sinh nhắc lại tc.
- Giáo viên đưa lên màn hình:
Nếu ∆ABC và ∆A'B'C' có: AB =
A'B', BC = B'C', AC = A'C'thì kết
luận gì về 2 tam giác này.
- Học sinh suy nghĩ trả lời.
- GV giới thiệu trường hợp bằng
nhau cạnh-cạnh-cạnh của hai tam
giác.
- GV yêu cầu làm việc theo nhóm ?2
- Các nhóm thảo luận

A
2cm

3cm

B

C

4cm

- Vẽ 1 trong 3 cạnh đã cho, chẳng hạn vẽ
BC = 4cm.
- Trên cùng một nửa mặt phẳng vẽ 2 cung
tròn tâm B và C.
- Hai cung cắt nhau tại A
- Vẽ đoạn thẳng AB và AC ta được ∆ABC
2. Trường hợp bằng nhau cạnh-cạnhcạnh(10')
?1
A
2cm

B

3cm

C

4cm

→∆ABC = ∆A'B'C' vì có 3 cạnh bằng nhau
và 3 góc bằng nhau
* Tính chất: (SGK)
- Nếu ∆ABC và ∆A'B'C' có:AB = A'B', BC
= B'C', AC = A'C'thì ∆ABC=∆A'B'C'
?2
∆ACD và ∆BCD có:
AC = BC (gt)
AD = BD (gt)
CD là cạnh chung
⇒∆ACD = ∆BCD (c.c.c)

(theo định nghĩa 2 tam giác
CAD = CBD

bằng nhau)


CAD = CBD

Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi



=1200
BOC

Tổ: Toán - Lý

6


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
4. Củng cố:
- BT 15: học sinh lên bảng trình bày
- BT 16: giáo viên đưa bài 16 lên máy chiếu, 1 học sinh đọc bài và lên bảng làm, cả
lớp làm bài vào vở: ∠A=600, ∠B=600, ∠C=600..
5. Ứng dụng thực tế:
- Khi độ dài ba cạnh của một tam giác đã xác định
thì hình dạng và kích thước của tam giác đó cũng hoàn toàn xác định.
- Tính chất đó của hình tam giác được ứng dụng nhiều trong thực tế:Trong các
công trình xây dựng, các thanh sắt thường được ghép, tạo với nhau thành các
tam giác, chẳng hạn như các hình sau đây:

6. Dặn dò:
- Học bài và làm bài tập 17,18,19SGK/114
5.
a.

Nhiệm vụ của thầy và trò:
Nhiệm vụ của thầy:
Dẫn dắt học sinh đi vào kiến thức mới. Dùng hệ thống câu hỏi, phương pháp
gợi mở để uốn nắn sai lầm (nếu có) của học sinh, củng cố ngay kiến thức bằng
những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi giữa chừng.
Hệ thống câu hỏi và bài tập phải được lựa chọn để học sinh đi từ cái đã biết
sang cái chưa biết.
Tổ chức cho học sinh làm cá nhân và trao đổi nhóm. Tạo điều kiện cho tất cả
các đối tượng học sinh tích cực tham gia trả lời câu hỏi và giải các bài tập.

Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

Tổ: Toán - Lý

7


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
Chốt lại cho học sinh phương pháp học, khẳng định kết quả làm việc của học
sinh. Đưa kiến thức mới vào hệ thống kiến thức vốn có của học sinh.
b.
Nhiệm vụ của trò:
-Tự giác, chủ động, tích cực học tập, tự trả lời câu hỏi và giải bài tập, cần đặt
câu hỏi trao đổi khi gặp khó khăn nhằm bộc lộ quá trình tư duy.
II. Các bước dạy kiến thức mới:
B1. Hình thành kiến thức mới: Vạch rỏ quy trình tư duy để học sinh tìm đến kiến
thức mới.
B2. Phát biểu kiến thức mới: Qua hình thành, học sinh nêu kiến thức mới qua
cách hiểu, sau đó giáo viên chính xác hoá nội dung kiến thức mới.
B3: Củng cố khắc sâu kiến thức mới: Giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhận
dạng thuộc tính bản chất của kiến thức.
III. Áp dụng: Dạy bài “ Trường hợp bằng nhau thứ nhất của tam giác cạnh –cạnh
– cạnh.( c.c.c)”
III. PHẦN KẾT LUẬN
- Từ những vấn đề trên ta thấy giáo viên cần truyền đạt cho học sinh học
xong một tiết dạy kiến thức mới, phải biết được ứng dụng của kiến thức mới vào thực
tế và làm bài tập.
- Đồng thời phải nâng cao chất lượng các câu hỏi trong tiết học và đề kiểm
tra, giảm số câu hỏi, tái hiện sự kiện, tăng tỉ lệ các câu hỏi yêu cầu tư duy tích cực
sáng tạo, chú trọng nhận xét sửa chữa các câu trả lời của học sinh.
- Trong hoạt động nhóm nên chia từ 4 đến 6 người. Hoạt động trong tập
thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao
động xã hội. Hiệu quả học tập sẽ tăng lên, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề
gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân đẻ hoàn thành
công việc. Trong hoạt động theo nhóm, tích cực năng lực của mỗi cá nhân được bộc
lộ, được uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý
thức cộng đồng.
- Cần biết những kến thức và kỹ năng cần thiết đã có sẳn ở học sinh tới mức
độ nào. Điều này có thể hiện thực nhờ quá trình theo dõi từ trước hoặc bằng
phương pháp kiểm tra.
- Bên cạnh đó phải đến những đặc điểm về tâm lý lứa tuổi khi áp dụng
các phương pháp dạy học mang tính tích cực.
- Học sinh phải nắm và thuộc lý thuyết theo 2 mặt là” nhớ ý nghĩa và nhớ
máy móc”. Nếu chỉ nhớ máy móc thì kiến thức sẽ hình thành và khi đột nhiên quên
Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

Tổ: Toán - Lý

8


Chuyên đề: “Phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết dạy kiến thức mới”
di toàn bộ hay một chi tiết kiến thức thì không có cách gì khôi phục lại được.
Nhưng nếu chỉ nhớ ý nghĩa thì kiến thức không thường trực trong óc, khi cần thiết lại
phải mất thời gian tái tạo lại nó dẫn đến vận dụng chậm, không thành.
Trên đây là những ý kiến đóng góp của tôi về một tiết dạy kiến thức mới theo
phương pháp phù hợp với sgk hiện hành, xin mạnh dạn trao đổi, mong các đồng chí
góp ý để từ đó thống nhất quan điểm chung về vấn đề giảng dạy kiểu bài kiến thức mới
nói chung kiểu bài toán học nói riêng.
Xin cảm ơn sự lắng nghe của các đồng chí!
Thanh trạch, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Giáo viên:

Nguyễn Văn Lợi

Giáo viên: Nguyễn Văn Lợi

Tổ: Toán - Lý

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×