Tải bản đầy đủ

Vài kinh nghiệm về việc dạy văn bản nhật dụng trong chương trình ngữ văn lớp 7

 

MỤC LỤC

TT

NỘI DUNG

Trang

1

Trang bìa

2

Mục lục

1

3


Phần thứ nhất: Mở đầu

2

4

Phần thứ 2: Giải quyết vấn đề

4

5

I. Cơ sở lý luận

4

6

II. Thực trạng vấn đề

4

7

III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

6

8

IV. Tính mới của giải pháp

22

9

V. Hiệu quả SKKN

22

10

III. Phần kết luận và kiến nghị

24

1


 

Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Có thể nói trong trường kì lịch sử loài người, môn Văn là một môn học
có lịch sử lâu đời nhất trong các môn học. Trong bất kì giai đoạn nào, môn học
này cũng hướng tới các nhiệm vụ chủ yếu sau đây :
Thứ nhất, giúp người học biết đọc, biết viết (biết chữ)
Thứ hai giúp người đọc thấy được cái hay, cái đẹp và biết cảm nhận,
thưởng thức cái hay, cái đẹp của văn chương, nghệ thuật.
Thứ ba, thông qua hai nhiệm vụ trên mà mở mang tri thức, giáo dục tư
tưởng, tình cảm và rèn luyện nhân cách cho người học sinh.
Ngày nay, khi đất nước bước sang một giai đoạn mới, mục tiêu của giáo
dục nhà trường phổ thông đã xác định rõ trong luật giáo dục:
“ Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thanh nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (Luật Giáo dục – Điều 23)
Do yêu cầu gắn với cuộc sống hiện tại nên chương trình Ngữ văn trung
học cơ sở có đưa vào một số văn bản nhật dụng. Đó là những bài viết có tính
chất gần gũi, bức thiết đôí với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng
trong xã hội hiện đại như : thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền
trẻ em, ma tuý và các tác hại của các tệ nạn xã hội…Nhằm đưa học sinh trở lại
với những vấn đề vừa quen thuộc gần gũi hằng ngày vừa có ý nghĩa lâu dài
trọng đại mà tất cả các dân tộc cùng quan tâm đến, giúp các em “hòa nhập với
xã hội”, thấy được vai trò và nhiệm vụ của mình đối với xã hội . Từ đó có tinh
thần thái độ học tập đúng đắn hơn.
Muốn chuyển tải một cách tốt nhất những kiến thức cơ bản đó đến người
học. Người giáo viên phải nắm chắc kiến thức, hiểu biết sâu rộng, vốn sống
phong phú. Ai cũng hiểu nếu không nắm vững tri thức thì không thể dạy tốt
được nên người giáo viên bao giờ cũng chú tâm vào việc đào sâu kiến thức, suy
ngẫm, tìm tòi nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu các đối tượng học sinh.
Xuất phát từ nhận thức đó, tôi cảm thấy rằng đúng là cần trăn trở về việc
giảng dạy các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THCS. Đặc biệt là
2


 

cụm văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn lớp 7. Tôi mạo muội viết đề
tài: “Vài kinh nghiệm về việc dạy văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ
văn lớp 7”. Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giảng dạy và phát huy tính chủ
động, sáng tạo, linh hoạt của học sinh trong việc tiếp nhận thông tin, khám phá
giá trị của các văn bản nhật dụng .
Dẫu có niềm đam mê nhưng vốn kiến thức về chuyên môn còn hạn hẹp
nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong được sự góp ý của cấp trên và
đồng nghiệp.
II. Mục đích (mục tiêu) nghiên cứu:
Có thể nói: Chương trình Ngữ văn THCS được xây dựng theo tinh thần
tích hợp. Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí Kiểu văn bản( Tập làm văn)
và tương ứng với kiểu văn bản là Thể loại tác phẩm(văn học). Điều này có nghĩa
là việc lựa chọn các văn bản căn cứ trước hết vào tính chất tiêu biểu của kiểu
văn bản và thể loại tác phẩm. Song bên cạnh đó còn có một nội dung mà chương
trình Ngữ văn quan tâm là sự cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại
với những vấn đề vừa quen thuộc gần gũi hàng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài,
trọng đại mà tất cả các dân tộc cùng quan tâm hướng tới … Đó chính là hệ thống
các văn bản nhật dụng.
Nhưng để truyền đạt những kiến thức cơ bản và đạt được mục đích đã xác
định thì mỗi người hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình một con đường với
những cách thức và các thao tác sư phạm của riêng mình. Con đường riêng ấy
được hình thành từ những suy nghĩ của cá nhân về nội dung bài dạy cũng như
đối tượng học sinh.
Cho nên trong gần 20 năm giảng dạy ở trường THCS Buôn Trấp, bản thân
tôi đã xác định mục đích nghiên cứu của mình là làm sao để học sinh khối 7 mà
mình đã, đang và sẽ giảng dạy thông qua các bài học cụ thể của nhóm văn bản
nhật dụng mà hiểu biết một cách sâu sắc những vấn đề về quyền trẻ em, nhà
trường, phụ nữ (người mẹ) và vấn đề văn hóa giáo dục. Ngoài ra còn nhằm góp
phần tạo thêm sự hứng thú và nâng cao hiệu quả của giờ lên lớp của mỗi giáo
viên.
Mục đích chính của đề tài là nhằm đưa ra hướng giải quyết một số thắc
mắc về kiến thức và phương pháp dạy học, để từ đó bản thân có thêm kinh
nghiệm dạy tốt phần văn bản nhật dụng, đồng thời cũng đáp ứng được nhu cầu
đổi mới chương trình Ngữ văn lớp 7 ở trường THCS hiện nay.
3


 

Cũng có thể đề tài này chỉ là một tài liệu dùng để tham khảo để phục vụ
cho việc giảng dạy văn bản nhật dụng ở khối 7 THCS

Phần thứ 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
4


 

1.1 “Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hoặc chỉ
kiểu văn bản. Nói đến văn bản nhật dụng là nói đến tính chất của nội dung văn
bản. Đó là những bài viết có tính chất gần gũi, bức thiết đôí với cuộc sống trước
mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như : thiên nhiên, môi
trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý và các tác hại của các tệ nạn
xã hội… Bởi vậy, văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể tài cũng như các
kiểu văn bản” ( Ngữ văn 6- tập hai)
1.2 Bởi vậy mà những văn bản đều được lựa chọn theo những đề tài với
những vấn đề có tính thời sự rất cao và cập nhật với đời sống hiện đại. Chính vì
vậy mà các văn bản nhật dụng có tính lâu dài cùng với sự phát triển của lịch sử
nhân loài.
Chẳng hạn như vấn đề bảo vệ di sản văn hoá, chống chiến tranh hạt nhân,
môi trường, dân số, vấn đề giáo dục trẻ em, chống hút thuốc lá....Tất cả đó đều
là những vấn đề nóng bỏng của hôm nay nhưng không thể ngày một ngày hai
mà giải quyết được.
Giá trị văn chương không phải là yêu cầu cao nhất nhưng đó vẫn là một
yêu cầu quan trọng. Các văn bản nhật dụng nó vẫn thuộc về một kiểu văn bản
nhất định: kể chuyện, miêu tả, thuyết minh, nghị luận hay điều hành.... có nghĩa
là văn bản nhật dụng có thể sử dụng mọi thể loại mọi kiểu văn bản.
Hơn nữa đối với các em học sinh THCS các em mới lần đầu tiên làm quen
với loại văn bản nhật dụng nên có phần còn bỡ ngỡ. Chưa nói đến một số ít giáo
viên ở một số trường vẫn chưa thực sự quan tâm thích đáng đến phần văn bản
này. Do đó mà việc vận dụng và đổi mới phương pháp trong tiết dạy văn bản nói
chung và văn bản nhật dụng nói riêng có một vai trò vô cùng quan trọng. Với
các em khi học văn bản nhật dụng không chỉ là để mở rộng hiểu biết toàn diện
mà còn nhằm tạo cho các em thực hiện nguyên tắc là để các em hoà nhập với
cuộc sống xã hội và rút ngắn khoảng cách giữa nhà trường và xã hội.
II. Thực trạng vấn đề:
1/ Thực trạng của vấn đề: Thực tế khi đứng trên lớp trực tiếp giảng dạy
cùng với sự đóng góp ý kiến trao đổi với các đồng nghiệp bản thân tôi nhận thấy
khi khai thác giảng dạy văn bản nhật dụng giáo viên thường mắc phải một số
hạn chế như sau:
Giáo viên coi những văn bản này là một thể loại cụ thể giống như truyện,
kí…. Trong khi đó bản thân nó lại không phải. Vì thế giáo viên chỉ chú ý dựa
5


 

vào các điểm của thể loại như: cốt truyện, nhân vật, tình huống, sự việc ghi chép
để phân tích nội dung.
Giáo viên thường chú ý khai thác và bình giảng trên nhiều phương diện
của sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể mà chưa chú trọng
đến vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh.
Ví dụ khi dạy văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê, GV chỉ chú
ý truyền tải nội dung, cốt truyện mà chưa giúp học sinh liên hệ với chính bản
thân mình nếu xãy ra vấn đề đó đối vói gia đình, bạn bè và những người xung
quanh mình.
Hơn nữa giáo viên quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản
với đời sống mà giáo viên chưa chú ý nhiều tới liên hệ thực tế dẫn đến khai thác
kiển thức chưa đầy đủ.
Một mặt vốn kiến thức của giáo viên còn hạn chế, thiếu sự mở rộng. Giáo
viên chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học cũng như các biên pháp
tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú cho học sinh. Trong tiết học thường khô
khan, thiếu sinh động và chưa kích thích hứng thú và sự say mê yêu thích của
các em khi học văn.
Phương tiện dạy học cũng đóng một vai trò quan trọng quyết định chất
lượng giờ dạy:ở đây giáo viên chỉ có thể dùng bảng phụ, phiếu học tập đó là do
cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu. Trong khi đó có một số văn bản nếu học
sinh được xem các tranh ảnh minh hoạ, đoạn băng ghi hình, sơ đồ tư duy thì sẽ
làm cho tiết học sinh động hơn nhiều. Chẳng hạn khi dạy bài Ca Huế trên sông
Hương thì hầu như giáo viên không chú ý đến vấn đề này.
Giáo viên còn có một tâm lí là phân vân không biết có nên sử dụng
phương pháp giảng bình khi dạy những văn bản này hay không và nếu có thì sử
dụng ở mức độ nào?
Giờ học tẻ nhạt không thực sự thu hút sự hứng thú của học sinh. Bản thân
các em chưa biết liên hệ thực tế, chưa biết giải quyết vấn đề nêu ra trong văn
bản nhật dụng.
2/Nguyên nhân của thực trạng:
+ Số lượng văn bản nhật dụng chiếm số lượng không nhiều (khoảng 10%
trong chương trình sgk THCS) nhưng trước đó lí luận dạy học chưa từng đặt vấn

6


 

đề về phương pháp dạy học văn bản nhật dụng. Bởi vậy nên giáo viên ít có kinh
nghiệm, giờ giảng dạy còn lung túng về phương pháp.
+ Việc sử dụng máy chiếu của giáo viên chưa thực sự nhuần nhuyễn, chưa
được đều đặn nên việc mở rộng kiến thức cho các em bằng hình ảnh, đoạn phim,
bài dân ca Bắc Bộ… còn rất hạn chế.
+ Giáo viên chưa xác định đúng mục tiêu đặc thù của bài học văn bản
nhật dụng.
+ Giáo viên ít sưu tầm các tài liệu liên quan đến văn bản nhật dụng để bổ
sung cho bài học thêm phong phú.
+ Một nguyên nhân có thể nói là khó có thể giải quyết ngay được là việc
học của học sinh. Đa phần học sinh của trường chúng tôi là con nông dân, sự
quan tâm của cha mẹ đến việc học của con cái chưa thực sự tốt nhiều gia đình đi
làm ăn xa không có điều kiện quan tâm đến các em. Nhiều em không chăm học,
về nhà không học bài, không chuẩn bị bài trước khi đến lớp dẫn đến không hiểu
bài. Điều đó đã làm cho giáo viên càng gặp khó khăn hơn.
+ Đồng thời hệ thống văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa ngữ văn lớp
7 lại tồn tại dưới nhiều kiểu văn bản khác nhau. Đó có thể là truyện ngắn (Cuộc
chia tay của những con búp bê), một bài bút kí(Ca Huế trên sông Hương)Cũng
có thể là một bài báo biểu cảm(Cổng trường mở ra), Bức thư(Mẹ tôi). Năm học
2014-2015 bản thân tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7 từ thực
trạng nêu trên nên kết quả của việc học văn bản nhật dụng của năm 2014- 2015
được thể hiện qua bài kiểm tra 15 phút như sau (cụ thể tôi dạy 3 lớp 7a4, 7a7,
7a8).
Lớp

Điểm 8-> 10

5-> 7

1->4

7a4, 7a7, 7a8
(TS: 98)

13 em

35 em

50 em

Lưu ý: Điểm khá, Giỏi phần lớn đều nằm ở lớp 7a8.
III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1 / Một số vấn đề cơ bản cần chú ý khi dạy các văn bản nhật dụng:
1.1) Dạy loại văn bản này là “ Tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên
tắc giúp học sinh hòa nhập với xã hội”. Nên các đề tài được chọn dĩ nhiên phải

7


 

có tính chất thời sự, song đó cũng phải là những đề tài có liên quan đến “Những
vấn đề xã hội có ý nghĩa lâu dài”.
Do đó dạy văn bản nhật dụng, trước hết phải từ cái trước mắt, có tính cập
nhật và thời sự, chỉ ra ý nghĩa lâu dài muôn thuở; từ cái của một nơi, chỉ ra điều
của mọi nơi; từ một phương diện, chỉ ra mối liên quan của nhiều phương diện.
Do chức năng, đề tài, tính chất của văn bản, GV có quyền và cần cho HS liên hệ
tới một phạm vi rộng rãi mà không bị quá gò bó trong khuôn khổ văn chương.
Hoàn toàn có thể cho HS liên hệ trực tiếp vấn đề đang học với tình hình địa
phương và khi cần, có thể sử dụng một giờ dành cho chương trình địa phương
để tiến hành các hoạt động điều tra, thống kê, khảo sát.
1.2) Ở phần chú thích, bên cạnh việc giải nghĩa, còn có những thông tin
khác về lịch sở, xã hội, chính trị, … Cần lưu ý HS đọc kĩ cả những chú thích đó
mới hiểu được một cách đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa của văn bản.
1.3) Không nên quan niệm đây là những sáng tác tiêu biểu cho các tác
phẩm văn học của một thời kì hay một tác giả nào đấy để đặt ra hay đòi hỏi qua
cao yêu cầu về nghệ thuật của văn bản. Mặc dù các văn bản nhật dụng trong
chương trình Ngữ văn THCS có cách viết trong sáng, chuẩn mực, nhưng có lẽ
nhà biên soạn chủ yếu vẫn là chú ý đến nội dung chính đặt ra trong tác phẩm ấy.
Vì vậy khi dạy học các văn bản nhật dụng , GV nên tập trung khai thác các vấn
đề nội dung tư tưởng đặt ra ở mỗi văn bản; từ đó mà liên hệ , giáo dục tư tưởng,
tình cảm và ý thức cho HS trước các vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm.
2) Những lưu ý về nội dung khi dạy các văn bản nhật dụng trong sách
giáo khoa Ngữ văn 7:
2.1) Trong chương trình Ngữ văn 7 gồm 4 văn bản nhật dụng sâu đây:
- Cổng trường mở ra Của Lí Lan.
- Mẹ tôi của Et-môn-đô-đơ A-mi-xi trong Những tấm lòng cao cả.
- Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài.
- Ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh.
Hai văn bản Cổng trường mở ra Của Lí Lan và Mẹ tôi của Et-môn-đôđơ A-mi-xi nhằm khai thác nội dung người mẹ và nhà trường. Văn bản Cuộc
chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài thuộc đề tài quyền trẻ em. Văn
bản cuối là một bài báo giới thiệu một sản phẩm văn hóa nổi tiếng của một địa
8


 

danh nổi tiếng với một con sông nổi tiếng: Ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh
Minh.
2.2. Nắm chắc đặc điểm và ý nghĩa của các nội dung đặt ra trong mỗi văn
bản nhật dụng để hướng dẫn học sinh tự liên hệ, rút ra được bài học cho
chính bản thân mình. Chẳng hạn:
2.2.1 Cổng trường mở ra là một bài kí được trích từ báo là một bài kí
được trích từ báo Yêu trẻ – thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Lí Lan. Bài văn
ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong đêm chuẩn bị cho con trước ngày khai
trường vào lớp một. Không có sự việc, không có cốt truyện, chủ yếu là tâm trạng
hồi hộp, phấp phỏng đón chờ ngày khai trường. Người mẹ không ngủ, phần vì lo
chuẩn bị cho con, nhưng phần vì cả tuổi thơ áo trắng đến trường của chính mình
sống dậy. “Cứ nhắm mắt lại là mẹ dường như nghe tiếng đọc trầm bổng : “Hằng
năm cứ vào cuối thu… Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi, dẫn đi trên con đường
làng dài và hẹp”
Khi dạy bài này, GV chủ yếu hướng dẫn HS tìm hiểu và phân tích tâm
trạng của người mẹ là chính. Qua tâm trạng này mà thấy được tình cản và tấm
lòng của bà mẹ trước ngày con vào lớp một. Từ đó mà HS liên hệ với chính bản
thân mình.
2.2.2 Mẹ tôi là một bài văn mang tính truyện nhưng lại dưới dạng một
bức thư của nhà văn Ét-môn-đô-đơ A-mi-xi( Nhà văn I-ta-li-a). có chuyện xãy
ra nhưng phần chính vẫn là tâm trạng và những suy nghĩ của người bố qua bức
thư gửi cho con – người đã phạm lỗi. Qua bức thư, người đọc thấm thía công lao
và tình cảm của người mẹ có ý nghĩa như thế nào đối với mỗi người con. Do tập
trung đề cao người mẹ và nhấn mạnh ý nghĩa giáo dục, có những chỗ tác giả
diễn đạt khá cực đoan, ví dụ; “ Bố rất yêu con, con ạ, con là niềm hi vọng tha
thiết nhất của đời bố, nhưng thà rằng bố không có con, còn hơn là thấy con bội
bạc với mẹ”, trong quá trình phân tích nếu để nguyên như thế hoặc không khéo
léo học sinh cảm thấy nặng nề và có thể hiểu nhầm tấm lòng của người cha rằng
yêu vợ hơn con nên nười giáo viên phải phân tích, bình luận và chỉ rõ cho các
em thấy tình cảm và sự nghiêm khắc của người cha trong việc giáo dục con.
GV hướng dẫn HS tìm hiểu và phân tích văn bản, từ đó mà rút ra nội dung
và ý nghĩa của bài học, tự liên hệ và kiểm điểm về những thái độ và tình cảm
của chính bản thân đối với bố mẹ mình.

9


 

2.2.3 Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài tuy là một
truyên ngắn, nhưng khi vào sách Ngữ văn, văn bản này vẫn chủ yếu được khai
thác theo tinh thần của một văn bản nhật dụng. Đây là văn bản thể hiện vấn đề
quyền trẻ em, một trong những nội dung chính của mảng văn bản nhật dụng
trong chương trình Ngữ văn 7. Trẻ em có rất nhiều quyền. Điều đó đã được ghi
trong công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc 1989. Tuy vậy đề tài
về quyền trẻ em thì không phải nhiều. Các tác giả thường khai thác ở một số vấn
đề như: Nỗi khổ về cuộc sống vật chất và nỗi đau về tinh thần. Một trong những
nỗi đau về tinh thần đó là nỗi đau sống thiếu cha, thiếu mẹ. Cha mẹ không may
mất đi là một nỗi đau đã đành. Cha mẹ vẫn sống mà con cái vẫn bị chia lìa xa
cách mới là điều đáng nói. Nỗi đau này do chính con người tạo nên cho bản thân
và con cái mình. Truyện Cuộc chia tay của những con búp bê viết về vấn đề này
nhưng qua câu chuyện người đọc còn thấy được những tình cảm anh em trong
sáng, thân thiết, sự gắn bó máu thịt và tấm lòng nhân hậu, vị tha của những em
bé chẳng may rơi vào cảch hạnh phúc gia đình tan vỡ. Truyện ngắn này đã được
giải nhì trong cuộc thi thơ văn viết về quyền trẻ em do viện khoa học giáo dục
và tổ chức cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển tổ chức năm 1992. Khi đọc văn bản này,
bản thân tôi cũng hơi băn khoăn là liệu vấn đề khá tế nhị và phức tạp của người
lớn (chuyện li hôn) mà cho HS lớp 7 biết như thế có quá sớm không? Sau khi
trao đổi với đồng nghiệp tôi mới nhận thấy việc dạy văn bản này cho lứa tuổi
này không có gì đáng lo lắng vì:
- Thứ nhất, vấn đề hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, bố mẹ li hôn, con cái chịu
nhiều đau đớn, thua thiệt,… là một sự thật không nên né tránh trong xã hội. Các
phương tiện thông tin đại chúng ( sách, báo, phát thanh, truyền hình,…)cũng
thường xuyên khai thác vấn đề này. Vì thế đây không còn là câu “chuyện kín”
cần phải giữ gìn, “che đậy” với các em.
- Thứ hai, nội dung chính của truyện Cuộc chia tay của những con búp
bê không tập trung khai thác và miêu tả trực tiếp cảnh đổ vỡ giữa cha mẹ (như
xô xát, mắng chửi, đập phá,…) mà chủ yếu tập trung khắc hoạ những tình cảm
và tấm lòng vị tha, nhân hậu, trong sáng và cao đẹp của hai em bé. Chính điều
này có ý nghĩa giáo dục không chỉ với các em mà cho cả những người đã là cha,
là mẹ. Cũng chính điều này cùng với cách kể chuyện chân thật đã tạo cho truyện
một sức truyền cảm khá mạnh, khiến cả người dạy lẫn người học rất xúc động.
Do đó khi dạy, GV cần tập trung khai thác nội dung này là chính.

10


 

2.2.4 Ca Huế trên sông Hương của Hà Anh Minh nhằm giới thiệu những
sản phẩm văn hố truyền thống của dân tộc. Bài văn viết về một sản phẩm văn hố
nổi tiếng của một địa danh nổi tiếng với một con sông nổi tiếng: Ca Huế trên
sông Hương. Đây không phải là một truyện ngắn, một sáng tác có tính hư cấu mà
chỉ là một bút kí, ghi chép một nét sinh hoạt văn hóa: Ca Huế trên sông Hương.
Qua cảnh sinh hoạt này mà giới thiệu những vẻ đẹp của cảnh và người xứ Huế;
giới thiệu những hiểu biết của tác giả về nuồn gốc, về sự phong phú của cac làn
điệu dân ca Huế.
Bài văn vừa tả cảnh ca Huế trong một đêm trăng trên dòng sông Hương
thơ mộng, vừa giới thiệu những làn điệu dân ca Huế, vì thế không thể chia bố
cục một cách rõ ràng. Tuy vậy GV có thể tập trung khai thác mấy nội dung cơ
bản sau:
- Vẻ đẹp phong phú, đa dạng của các làn điệu dân ca Huế ( thể hiện qua
tên gọi các làn điệu, qua nhạc cụ và cách chơi)
- Vẻ đẹp của cảnh ca Huế trong đêm trăng thơ mộng trên dòng sông
Hương.
- Nguồn gốc của một số làn điệu ca Huế.
Có thể do nội dung và tính chất của bài viết mà tác giả nhắc tới rất nhiều
tên các làn điệu ca Huế, nhạc cụ và các “ngón đàn” của ca công. Khi học, GV
không nên bắt các em phải nhớ, phải hiểu hết các chú thích. Nên chốt lại vấn đề
bằng việc khái quát: Ca Huế đa dạng và phong phú đến nỗi chúng ta khó mà nhớ
hết được tên các làn điệu, tên các nhạc cụ và các ngón đàn của ca công.
Bài học này nằm gần với phần chương trình Ngữ văn địa phương(tuần 29)
và hoạt động Ngữ văn (tuần 31) vì thế GV cần liên hệ nội dung bài học này với
các nội dung sẽ học trong các tuần đó. Ví dụ:
- Từ bài văn đề nghị các em liên hệ với các làn điệu dân ca nói riêng và
các sản phẩm văn hóa tinh thần nói chung của quê hương mình.
- Thử sưu tầm và giới thiệu một băng, đĩa nhạc có ca Huế, hoặc các bài
hát hiện đại phỏng theo những điệu ca Huế.
- Thử tập hát một vài làn điệu ca Huế hoặc giới thiệu một làn điệu dân ca
của quê hương mình.

11


 

- Viết bài tập tìm hiểu về các vùng dân ca nổi tiếng của dân tộc như: dân
ca quan họ Bắc Ninh, dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Nam bộ, dân ca Liên
khu Năm,…
3 / Những lưu ý về phương pháp (phương pháp chủ động) khi dạy văn
bản nhật dụng:
Tinh thần chung của PPDH mới là: Tôn trọng HS, tránh áp đặt, linh hoạt,
chủ động và sáng tạo. HS tự mình tiếp xúc vơíù các văn bản, tự mình suy nghĩ
khám phá cái hay, cái độc đáo của tác phẩm dưới sự hướng dẫn của thầy. Do đó
GV cần lưu ý:
3.1/ Xác định mục tiêu dạy học
Đối với tác phẩm văn chương, hoạt động đọc- hiểu là việc đọc nghiền
ngẫm, phân tích, cảm thụ những vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ, để từ đó hiểu
được những khái quát về đời sống tác giả. Nghĩa là người đọc tự mình khám phá
và rung động về ý nghĩa đời sống và giá trị thẫm mĩ của tác phẩm. Đó chính là
mục tiêu kiến thức của bài học văn bản nghệ thuật. Còn đối với văn bản nhật
dụng thì mục tiêu kiến thức của bài học sẽ nhấn vào nội dung tư tưởng của văn
bản, tức là nắm bắt vấn đề xã hội gần gũi, bức thiết, mang tính thời sự hơn là đi
sâu vào khám phá giá trị hình thức của văn bản.Như vậy việc xác định mục tiêu
kiến thức của bài học văn bản nhật dụng phải bắt đầu từ sự rõ ràng trong việc
phân loại văn bản.
3.2/ GV cần biết cách đặt những câu hỏi mở, khuyến khích HS suy nghĩ,
nghe HS trả lời một cách tin cậy và thân ái. Cần huy động mọi HS ở các trình độ
khác nhau tham gia vào việc trả lời câu hỏi và đóng góp ý kiến. Ví dụ: Khi dạy
văn bản Cổng trường mở ra, GV đặt câu hỏi “ Kết thúc bài văn bà mẹ nói: “
Bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra”. Em đã trải qua
thời lớp Một, bây giờ em hiểu thế giới kì diệu đó là những gì?
Đây là câu hỏi mở, nhằm làm nổi bật lên vai trò và vị trí của nhà trường
đối với cuộc đời mỗi con người. HS có thể trả lời theo cách riêng của mình. GV
chỉ nên định hướng, gợi mở một vài điểm thật cần thiết như : Nhà trường đã
mang lại cho em những gì về tri thức, về tình cảm, tư tưởng, đạo lí, về tình bạn,
tình thầy trò,…?
3.2/ Sử dụng không gian nhà trường, lớp học, dụng cụ học tập như bảng
phụ một cách sáng tạo để tổ chức cho HS thảo luận cũng như tiến hành các hoạt
12


 

động khác theo nhóm. Ví dụ: Khi dạy văn bản “Mẹ tôi”, GV đặt câu hỏi: Theo
em, tại sao người bố không nói trực tiếp với En-ri-cô mà lại viết thư?
Câu hỏi này đòi hỏi HS phải suy luận nhiều. Có thể có nhiều cách trả lời
khác nhau nên các em cần bàn bạc và thống nhất ý kiến trong nhóm. Mỗi nhóm
lại có thể có mỗi cách suy luận khác nhau, miễn là hợp lí. Tổng hợp ý của các
nhóm sẽ là: Tình cảm sâu sắc thường tế nhị và kín đáo nhiều khi không nói trực
tiếp được. Hơn nữa viết thư là chỉ nói riêng cho người mắc lỗi biết, vừa giữ
được sự kín đáo, tế nhị, vừa không làm người mắc lỗi mất đi lòng tự trọng. Đây
chính là bài học sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc sống gia đình cũng như trong
nhà trường và xã hội.
3.3/ Việc lớp học trở nên ồn ào hơn mỗi khi thảo luận cần được hiểu là
dấu hiệu của hoạt động học tập tích cực chứ không có nghĩa là kỉ luật lớp học
lỏng lẻo. Tránh kiểu “ im lặng nhà thờ”.
3.4/ Lên kế hoạch và chuẩn bị bài giảng sao cho có thể kết hợp các kiến
thức của bài học với các ví dụ tương ứng, sử dụng những kiến thức liên quan
đến tình hình địa phương nơi trường đang đóng cũng như liên hệ với thực tế
cuộc sống hiện nay một cách linh hoạt có tác dụng giúp HS tự rút ra bài học cho
bản thân.
3.5/ Lấy SGK làm chuẩn, cung cấp kiến thức không nên qua nặng nề, ôm
đồm làm phức tạp hóa các vấn đề vốn đơn giản. Biết mười để dạy một là một tư
tưởng đúng, nhất là dạy đúng cái “một” đó. Không nên biết mười rồi giới thiệu
luôn cả mười, có gì thì các thầy cô đều muốn nói hết cho HS. Đây là một trong
những nguyên nhân tạo nên tình trạng “quá tải” không chỉ đối với HS mà cả đối
với GV. Hãy để cho HS tự tìm tòi, phát hiện với lượng kiến thức vừa sức của các
em.
3.6/ Chú ý tính phân hóa trong HS. Đưa ra các bài tập phải đa dạng, có bài
tập mở rộng đối với HS khá và cũng có bài tập đặc biệt dành cho HS yếu kém.
Ví dụ: Khi dạy bài Cuộc chia tay của những con búp bê, GV đặt câu hỏi : Lời
nói và hành động của Thuỷ khi thấy anh chia hai con búp bê “Vệ Sĩ” và “Em
Nhỏ” ra hai bên có gì mâu thuẩn? Theo em có cách nào để giải quyết mâu
thuẩn ấy không? Kết thúc truyện Thuỷ đã lựa chọn cách giải quyết như thế nào?
Chi tiết này gợi lên trong em những suy nghĩ và tình cảm như thế nào?
Câu hỏi này buộc HS đi sâu vào phân tích một sự việc (hành động) của
nhân vật chính, từ đó thấy được nội dung sâu sắc của truyện. Đây là câu hỏi khó,
13


 

GV có thể gợi ý và yêu cầu những HS khá giỏi trong lớp trình bày. Trước khi chỉ
cho các em thấy được vấn đề:
- Mâu thuẫn ở chỗ: một mặt Thuỷ rất giận dữ, không muốn chia rẽ hai
con búp bê, nhưng mặt khác em lại rất thương Thành, sợ đêm đêm
không có con vệ sĩ canh giấc ngủ cho anh, nên em rất bối rối sau khi đã
“tru tréo lên giận dữ’.
- Đưa ra tình huống này, nhằm gợi lên ở các em một suy nghĩ: Muốn giải
quyết mâu thuẫn này, chỉ có cách gia đình Thuỷ và Thành phải đoàn tụ,
hai anh em không phải chia tay.
- Cuối truyện, Thuỷ lựa chọn cách để lại con Em Nhỏ gợi lên trong lòng
người đọc lòng thương cảm đối với Thuỷ, thương cảm một em gái giàu
lòng vị tha, thương anh, thương cả những con búp bê, thà mình chịu
chia lìa chứ không để búp bê phải chia tay, mình đành chịu thiệt thòi để
anh luôn có con vệ sĩ gác cho ngủ đêm đêm. Chi tiết này cũng khiến
người đọc thấy sự chia tay của hai con Em Nhỏ và Vệ Sĩ là rất vô lí, là
không nên có.
3.7/ Cần tôn trọng những nhận xét, đánh giá của HS phần nào đồng nghĩa
với việc chúng ta phải chấp nhận rằng ý kiến của chúng ta không phải khi nào
cũng đúng. Người GV khi dạy kiểu bài này chủ yếu là nêu vấn đề, gợi mở vấn
đề để HS tìm tòi. Không áp đặt kết quả có sẵn và vì thế kết quả phân tích, hiểu
và cảm thụ của HS có thể không trùng và không nhất thiết phải đúng với những
gì thầy cô hiểu và cảm nhận về tác phẩm đó. Một ví dụ: Khi giảng văn bản này
ở lớp 7A7, tôi đã nghĩ là chỉ rút ra bài học: Người lớn và xã hội hãy chăm lo và
bảo vệ hạnh phúc của trẻ em. không thể để trẻ em rơi vào tình cảnh bất hạnh.
Trong khi chính các em rút ra rất nhiều bài học tự nhiên, cảm động, không kém
phần sâu sắc:
- Anh em phải thương yêu nhau.
- Cha mẹ không nên li hôn.
- Không được chia rẽ tình cảm anh em, phải để cho anh em ruột thịt được
sống bên nhau dù bất cứ lí do gì.
- Người lớn phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của trẻ con trước khi quyết
định li hôn.
- Không được bắt trẻ em nghỉ học.
14


 

Từ một câu chuyện cảm động đã gợi lên trong các em rất nhiều các suy
nghĩ đáng được trân trọng. Chẳng lẽ chúng ta buộc các em chỉ được rút ra bài
học mà cô đã ghi trên bảng.
III. BÀI SOẠN MẪU:

TIẾT 113- Văn bản: CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG

A/ Mục tiêu cần đạt: Giúp hs
1. Kiến thức: Hiểu về ý nghĩa văn hoá, xã hội của ca Huế. Từ đó có thái độ và
hành động tích cực góp phần bảo tồn, phát triển di sản văn hoá dân tộc đặc sắc
và độc đáo này.
- Khái niệm thể loại bút kí. Giá trị văn hoá, nghệ thuật của ca Huế. Vẻ đẹp của
con người xứ Huế.
2. Kĩ năng: Đọc- hiểu văn bản nhật dụng viết về di sản văn hoá dân tộc, phân
tích văn bản nhật dụng theo thể loại thuyết minh.
Tích hợp: Kiến thức tập làm văn để viết bài thuyết minh.
3. Thái độ: Yêu quý, trân trọng tự hào về nét đẹp của xứ Huế, gợi lòng yêu quê
hương đất nước. Yêu quý, trân trọng, tự hào về nét đẹp của xứ Huế.
- Có ý thức gìn giữ di sản văn hoá dân tộc
B/ Chuẩn bị:
GV: SGK+ SGV+ Bài soạn, tranh ảnh+ máy chiếu( Ti vi kết nối máy tính)
HS: Đọc, soạn bài theo hệ thống câu hỏi
C/ Tiến trình lên lớp:
1. Ổn định lớp: Nề nếp+ sĩ số
2. Bài cũ: ?Qua truyện ngắn “Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội
Châu” em hiểu gì về hai nhân vật này?
- Va-ren: kẻ phản bội, tên chính khách làm trò chính trị, kẻ ruồng bỏ giai cấp, tên
lừa dối trắng trợn, trơ tráo và vô liêm sĩ.
- Phan Bội Châu: bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xã thân được tôn sùng, con
người đáng tôn kính, ngưỡng mộ.
3. Bài mới:

* HOẠT ĐỘNG I: GV giới thiệu bài
15


 

Ỏ lớp 6, các em đã được học một số văn bản nhật dụng với nhiều đề tài
khác nhau. Nếu Động Phong Nha là một danh lam thắng cảnh, Cầu Long Biên là
một di tích lịch sử thì ca Huế trên sông Hương lại giúp chúng ta hình dung một
cách cụ thể một sinh hoạt văn hoá rất đặc trưng, nổi bật ở xứ Huế mộng mơ.
Hôm nay chúng ta sẽ hiểu thêm vẻ đẹp của Huế qua một đên ca Huế trên sông
Hương.
* HOẠT ĐỘNG II: Nội dung bài học
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY- TRÒ

NỘI DUNG

* Hướng dẫn tìm hiểu chung

I. Tìm hiểu chung

GV: Gọi HS đọc chú thích * SGK

1. Tác giả- tác phẩm

? Văn bản do ai sáng tác.
2. Đọc- từ khó:(SGK)
GV: Hướng dẫn hs đọc(Chậm rãi, rõ ràng, mạch lạc,
lưu ý những câu đặc biệt)
GV đọc mẫu một đoạn, gọi hs đọc tiếp sau đó sữa
chữa, uốn nắn những chổ đọc sai, chưa chuẩn.
HS đọc
? Em biết gì về cố đô Huế? Hãy nêu một vài đặc điểm
tiêu biểu của xứ Huế mà em biết?

(Về vị trí địa lí: Huế thuộc miền trung Việt Nam, phía
nam giáo Đà Nẵng, phía bắc giáp Quảng Trị.
Về đặc điểm lịch sử: Huế (Phú Xuân)từng là kinh đô
của nhà Nguyễn hơn trăm năm(1802- 1945)
16


 

- Về danh lam thắng cảnh: Thiên nhiên có sông
Hương, núi Ngự, có nhiều di tích lịch sử: thành nội,
lăng tẩm của các triều vua nhà Nguyễn, đền đài, chùa
chiền, trong đó có chùa Thiên Mụ nổi tiếng.
Về sản phẩm vật chất và sản phẩm văn hoá- tinh thần:
Nhiều món ăn, nhiều thứ bánh kẹo mang màu sắc Huế
như mè xửng, kẹo cau... ó nón bài thơ, có nhiều điệu
hò, làn điệu dân ca nổi tiếng.
Nhắc đến Huế người ta thường nhắc đến sông Hương
núi Ngự, đến chùa Thiên mụ, đến phú Văn Lâu và các
điệu hò, ca Huế thể hiệ rõ nét tâm hồn của con người
xứ Huế.)
? Dựa vào mục chú thích * nêu những hiểu biết về ca
Huế? (Là một hình thức sinh hoạt văn hoá truyền
thống của cố đô Huế. Người nghe và người hát cùng
ngồi thuyền đi trên sông Hương một trong những di
sản văn hoá đáng tự hào của người dân xứ Huế.)

II/ Đọc- hiểu văn bản:

? Bài văn thuộc kiểu văn bản nào?

1/ Đọc-Tìm hiểu chung
+ Thể loại: Bút kí

? Em hiểu bút kí là gì?

+ Nhóm văn bản: Nhật dụng( Ca

? Nội dung của văn bản nhật dụng là những vấn đề
thời sự, gần gũi đang diễn ra trong cuộc sống hôm
nay. Vậy đâu là là nội dung của văn bản nhật dụng
này?
(Phản ánh một nét đẹp của văn hoá truyền thống cố
đô Huế, đó là ca Huế trên sông Hương)
17

Huế là một trong những di sản
văn hoá đáng tự hào của người
dân xứ Huế. Cần được giữ gìn và
phát huy).


 

GV: Đây không phải là một truyện ngắn một sáng tác
có tính hư cấu mà chỉ là một bút kí ghi chép lại một
sinh hoạt văn hoá: Dân ca Huế trên sông Hương.
Qua cảnh sinh hoạt này mà giới thiệu những vẻ đẹp
+ Phương thức biểu đạt: miêu tả,
của ca cảnh Huế, giới thiệu những hiểu biết của tác
biểu cảm.
giả về nguồn gốc, sự phong phú của các làn điệu dân
ca Huế.
? Văn bản có thể chia làm mấy phần? Nêu nội dung +Bố cục: 2 phần
P1: Từ đầu-> lí Hoài Nam:
của từng phần?
Giới thiệu một số điệu dân ca
HS: trả lời
Huế
GV: Đây là văn bản nhật dụng kết hợp nhiều phương
P2: Còn lại: Tả một đêm
thức như: Nghị luận, miêu tả, biểu cảm
trăng nghe đàn trên sông Hương.
P1: Dùng phương thức nghị luận, chứng minh
P2: kết hợp miêu tả với biểu cảm

2/ Tìm hiểu văn bản:

* Hướng dẫn tìm hiểu chi tiết

a. Nghệ thuật ca Huế:

HS theo dõi đoạn đầu
?Hãy thống kê các điệu ca Huế và đặc điểm của nó?

* Các làn điệu ca Huế và đặc
điểm của nó:

HS dựa vào bài trả lời

- Chèo cạn, bài thai, hò đưa
? Quá trình miêu tả, tác giả sử dụng biện pháp nghệ linh....(buồn bã)
thuật gì
- Hò giã gạo, ru em, giã vôi...,
HS: Liệt kê(GV tích hợp)
? Trong bài tác giả có nhắc đến những nhạc cụ nào?

điệp, bài chòi,...(náo nức, nồng
hậu, tình người)
- Hò lơ, hò ô, xay lúa,...(gần gũi
với dân ca Nghệ Tĩnh)

HS trả lời
GV cho hs xem tranh về các nhạc cụ

- Nam ai, nam bình, tương tư
khúc...(buồn man mác, thương
cảm, bi ai, vương vấn)
- Tứ đại cảnh: không vui, không
buồn
* Một số nhạc cụ:
- Đàn tì bà, đàn tranh, đàn nhị,
18


 

Đàn tì bà

đàn bầu

đàn tranh

sáo

Cặp sanh

đàn bầu, sáo, đàn thập lục, cập
sanh, đàn nguyệt

đàn nhị

đàn thập lục

* Các bản đàn

đàn nguyệt

? Trong văn bản có những bản đàn nào được nhắc - Lưu thuỷ, kim tiền, xuân phong,
đến?
long hổ, tứ đại cảnh.
HS trả lời – GV chốt ý
GV yêu cầu hs đọc từ: Không gian yên tĩnh-> hồn b/ Những đặc sắc của ca Huế.
người.
* Nghệ thuật biễu diễn
- Sử dụng động từ miêu tả động
tác liệt kê, diễn tả sự điêu luyện
trong nghệ thuật biễu diễn của
các nhạc công.
- Nghệ thuật ca Huế phong phú,
đa dạng, điêu luyện, tài tình.

? Tìm những từ ngữ miêu tả nghệ thuật sử dụng nhạc
cụ của các nhạc công?
-> Nhân, mổ, vổ, vả, bấm, day, chớp, búng, phi, rãi.
? Phép nghệ thuật nào được sử dụng ở đây?
-> Liệt kê
? Qua đoạn trích em có nhận xét gì về nghệ thuật biểu * Cách thưởng thức ca Huế
19


 

diễn của họ?
* HS quan sát tranh và cho biết bức tranh minh hoạ
cho nội dung nào?
? Chi tiết nào miêu tả cảnh đêm trăng nghe ca Huế
trên sông Hương?
Đêm thành phố-> hồn người

- Không gian:
- Thời gian:

* Thảo luận nhóm bàn

-> Cảnh thơ mộng, yên tĩnh, êm
? Khung cảnh và sân khấu của buổi ca Huế hiện lên đềm
độc đáo như thế nào về thời gian, không gian?
-> Con người háo hức, nồng hậu,
- Thời gian: Đêm khi thành phố lên đèn như sao sa. duyên dáng, lịch sự.
Trăng lên, đến khi gà gáy bên làng Thọ Cương, cùng
=> Trong không gian huyền ảo,
tiếng chuông chùa Thiên Mụ gọi năm canh
thơ mộng cách thưởng thức ca
- Không gian: Trăng lên. Gió mơn man dìu dịu... màn Huế vừa dân dã, vừa sang trọng
sương dày dần lên... thơ mộng.
giữa một thiên nhiên đẹp và lòng
GV: cho hs xem cảnh sân khấu buổi ca Huế.
người trong sáng.

? Cảnh đêm trăng trên sông Hương như thế nào?
? Theo em có nét gì đặc sắc trong cách thưởng thức ca
Huế? Cách nghe ca Huế trong bài có gì độc đáo(khác
với cách nghe qua băng ghi âm hoặc xem băng hình)
GV hướng dẫn rút ra kết luận.
- Đờn ca trên sông, dưới trăng. Quang cảnh sông nước
đẹp, huyền ảo và thơ mộng.
- Nghe và nhìn trực tiếp các ca công: cách ăn mặc,
20


 

cách chơi đàn, các nhạc cụ, các ca thi cất lời.
GVB: Người diễn xướng và người thưởng thức đồng
hiện, gắn bó với nhau, cận kề nhau thân mật như
người nhà. Đến thưởng thức ca Huế là lúc mọi vướng
* Nguồn gốc làn điệu ca Huế:
bận, bộn bề công việc trong ngày đã hết, là lúc tâm
hồn con người thảnh thơi.
GV: gọi hs đọc thầm từ Ca Huế-> quyến rũ
? Vậy ca Huế được hình thành từ đâu?
? Tác giả nhận xét gì về sự hình thành của dân ca Huế
từ dòng nhạc dân gian và nhạc cung đình? Em hiểu gì
về 2 dòng nhạc này?
HS trả lời
GV chốt ý

- Hình thành từ dòng nhạc dân
? Vậy qua đó em thấy tính chât nổi bật nào của ca gian và nhã nhạc cung đình Huế
Huế?(Ca Huế có sự kết hợp 2 tính chất dân gian và
cung đình, trong đó đặc sắc nhất là nhạc cung đình tao
nhã. Ca Huế vừa sôi nổi, tươi vui, vừa trang trọng, uy
nghi.)
Cho hs xem tranh

-> Ca Huế là hình thức sinh hoạt
văn hoá truyền thống, một sản
? Tại sao thể điệu ca Huế vừa sôi nổi tươi vui vừa phẩm văn hoá phi vật thể rất đáng
trân trọng cần được bảo tồn và
trang trọng uy nghi?
21


 

phát triển
? Tóm lại qua văn bản, qua hình ảnh quan sát được,
em có nhận xét gì về ca Huế?
? Tại sao nói ca Huế là một thú vui tao nhã?
Các nhóm thảo luận- 3p. Đại diện báo cáo kết quả
GV chốt: Ca Huế thanh cao, lịch sự, nhã nhặn, sang
trọng và duyên dáng từ nội dung đến nghệ thuật, từ
- Con người xứ Huế thanh lịch,
cách biểu diễn đến phục trang-> ca Huế quả là thứ tao
tao nhã, kín đáo, giàu tình cảm.
nhã.
3. Tổng kết:
? Qua ca Huế em hiểu gì về tâm hồn con người nơi
a. Nghệ thuật
đây?
- Viết theo thể bút kí

* Hướng dẫn tổng kết

Mục tiêu: HS khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật - Sử dụng phép liệt kê kết hợp
bình luận
nổi bật của văn bản
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu
cảm, đậm chất thơ.

? Nhận xét về nghệ thuật nổi bật?

? Sau khi học văn bản này em hiểu thêm những vẻ đẹp
b. Ý nghĩa văn bản
nào của Huế?

- Lòng yêu mến, tự hào của tác
giả đối với di sản văn hoá độc
GV chốt ý
đáo của Huế cũng là một di sản
?Tác giả viết: Ca Huế trên sông Hương với sự hiểu văn hoá của dân tộc
biết sâu sắc, cùng với tình cảm nồng hậu, điều đó gợi
* Ghi nhớ: SGK
tình cảm nào trong em?
HS trả lời

-> Yêu quý tự hào về vẻ đẹp của đất nước, dân tộc ta;
mong được đến Huế và được thưởng thức ca Huế trên
sông Hương
? Sau khi học xong vb em biết thêm điều gì về vùng
đất này
HS trả lời- GV mở rộng: Nhã nhạc cung đình đã được
UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể
* GV liên hệ giáo dục môi trường
GD HS nhận thức giá trị tinh thần của bản sắc văn
22


 

hoá dân tộc từ đó biết giữ gìn và phát huy nét đẹp văn
hoá đó
IV. Luyện tập
* Hướng dẫn luyện tập
Hướng dẫn hs làm bài
Mục tiêu: HS biết vận dụng thực hành
? Bên cạnh cái nôi dân ca Huế miền Trung em còn
biết những vùng dân ca nổi tiếng nào của nước ta?
 Liên hệ: Dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca đồng
bằng Bắc Bộ, dân ca các dân tộc miền núi phía
Bắc.
? Địa phương nơi em sinh sống có những làn điệu dân
ca nào? Hãy kể tên các làn điệu ấy?
? Em hãy hát một bài dân ca mà em thíchBài tập
SGK/ 104
HS đọc và nêu yêu cầu
HS thảo luận nhóm
4.Cũng cố: Cũng cố nội dung toàn bài
? Dòng nào nói đúng nhất nội dung mà văn bản Ca Huế trên sông Hương muons
đề cập?
A. Vẻ đẹp của cảnh quan Huế trong đêm trăng thơ mộng
B. Nguồn gốc của ca Huế
C. Sự phong phú đa dạng của các làn điệu ca Huế
D. Cả 3 nội dung trên
5. Dặn dò
- Học thuộc ghi nhớ- nắm nội dung bài
- Học thuộc một đoạn văn mà em thích
- Soạn bài: Liệt kê

IV. Tính mới của giải pháp:

23


 

Dạy học văn bản nhật dụng theo phương pháp tích cực thì phải đa dạng
hoá các biện pháp dạy học, cách thức tổ chức, phương tiện dạy học theo hướng
hiện đại hoá. Cần có sự tích hợp với phần đọc- hiểu văn bản nhật dụng: Thu
thập, xử lý các nguồn tư liệu, minh hoạ và mở rộng kiến thức(ở tầm vừa với
trình độ của các em) theo nội dung văn bản nhật dụng trên các kênh thông tin,
coi trọng đàm thoại cá nhân và nhóm về văn bản nhật dụng bằng hệ thống câu
hỏi. Trong đó sử dụng nhiều hơn hình thức học theo nhóm và các câu hỏi liên hệ
ý nghĩa văn bản với hoạt động thực tiễn của cá nhân và cộng đồng xã hội hiện
nay: Sáng tạo trò chơi dạy học đơn giản, nhanh gọn minh hoạ chủ đề văn bản
nhật dụng, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học hiện đại để đẩy nhanh nhịp
điệu dạy học và gia tăng thông tin trong bài học văn bản nhật dụng trên lớp, tạo
không khí dân chủ, hào hứng trong giờ học văn bản nhật dụng.
V. Hiệu quả SKKN:
Từ những giải pháp trên tôi áp dụng vào tiết dạy văn bản nhật dụng ở lớp
7ª4, 7ª7, 7ª8 năm học 2014-2015(kiểm tra 15 phút đợt 2), các lớp 7ª1, 7ª2 năm
học 2018-2019 cũng tại trường THCS Buôn trấp đạt được kết quả như sau:
Lớp
20142015
20182019

Lớp 7ª4, 7ª7, 7ª8

Điểm 8-> 10

Điểm 5-> 7

Điểm 1-> 4

28

60

10

27

42

01

(TS: 98 học sinh)
7ª1, 7ª2
(TS: 70 học sinh)

Như vậy những giải pháp mà tôi đưa ra có thể áp dụng được cho học sinh
tất cả các trường THCS nhất là trường THCS Buôn trấp. Đồng thời khi mà tôi
đưa ra giải pháp đó các em có sự hứng thú hơn trong học tập, bởi nó không chỉ
cung cấp lượng kiến thức bổ ích cho các em mà nó còn tạo ra tâm lí thoái mái để
các em tiếp nhận tri thức mà không có sự gò ép.
Nói tóm lại dạy học văn bản nhật dụng theo phương pháp tích cực thì phải
đa dạng hoá các biện pháp dạy học, cách thức tổ chức, phương tiện dạy học theo
hướng hiện đại hoá. Cần có sự tích hợp với phần đọc- hiểu văn bản nhật dụng:
Thu thập, xử lý các nguồn tư liệu, minh hoạ và mở rộng kiến thức(ở tầm vừa với
trình độ của các em) theo nội dung văn bản nhật dụng trên các kênh thông tin,
coi trọng đàm thoại cá nhân và nhóm về văn bản nhật dụng bằng hệ thống câu
hỏi. Trong đó sử dụng nhiều hơn hình thức học theo nhóm và các câu hỏi liên hệ
24


 

ý nghĩa văn bản với hoạt động thực tiễn của cá nhân và cộng đồng xã hội hiện
nay: Sáng tạo trò chơi dạy học đơn giản, nhanh gọn minh hoạ chủ đề văn bản
nhật dụng, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học hiện đại để đẩy nhanh nhịp
điệu dạy học và gia tăng thông tin trong bài học văn bản nhật dụng trên lớp, tạo
không khí dân chủ, hào hứng trong giờ học văn bản nhật dụng.

Phần thứ 3: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Việc giảng dạy Ngữ văn nói chung và văn bản nhật dụng nói riêng với
thực tiễn đời sống là một yêu cầu vừa hiển nhiên, vừa bức thiết. Bởi không thể
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×