Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã thanh hương huyện thanh chương tỉnh nghệ an

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU................................................................iii
Khu vực kinh tế nông nghiệp........................................................................26
Khu vực kinh tế công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp.....................................29
Khu vực kinh tế, thương mại, dịch vụ..........................................................29

i


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
UBND
TNMT
LUT
KHKT
TTCN
BVTV
CN-XD
ĐV


Giải thích
Ủy ban nhân dân
Tài nguyên môi trường
Loại hình sử dụng đất
Khoa học kỹ thuật
Tiểu thủ công nghiệp
Bảo vệ thực vật
Công nghiệp - xây dựng
Đơn vị

ii


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU................................................................iii
Khu vực kinh tế nông nghiệp........................................................................26
Khu vực kinh tế công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp.....................................29
Khu vực kinh tế, thương mại, dịch vụ..........................................................29
Bảng 2.17 Tổng hợp so sánh hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp.........58

Biểu
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU................................................................iii
Khu vực kinh tế nông nghiệp........................................................................26
Khu vực kinh tế công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp.....................................29
Khu vực kinh tế, thương mại, dịch vụ..........................................................29

iii


Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lí do chọn đề tài
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực, thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội.
Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu
ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp chung và đất
trồng cây hàng năm nói riêng mặc dầu hạn chế về diện tích nhưng lại có nguy cơ
suy thoái ngày càng cao dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của
con người trong quá trình sử dụng. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích
đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả
năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có hiệu quả để sử dụng
hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề
mang tính toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với
một nước có nền nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Xã Thanh Hương là một xã vùng cao nằm ở phía Tây của huyện Thanh
Chương, cách thị trấn Dùng 10 km về phía Đông. Là một xã thuần nông điều
kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Việc thu hẹp đất do nhu cầu chuyển đổi
mục đích: đất ở, đất chuyên dùng đã có tác động rất đáng kể đối với nông hộ. Vì
vậy, làm thế nào để có thể sử dụng hiệu quả diện tích đất nông nghiệp hiện có
trên địa bàn là vấn đề đang được các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu để
xây dựng cơ sở cho việc đề ra các phương án chuyển dịch cơ cấu cây trồng một
cách hợp lý nhất, nhằm đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất có thể.

4


Xuất phát từ thực tế trên, Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã Thanh Hương, huyện Thanh
Chương, tỉnh Nghệ An”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó đề xuất
những giải pháp kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa
bàn xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
3. Yêu cầu
- Đánh giá đúng, khách quan, khoa học và phù hợp với tình hình thực tiễn
ở địa phương.
- Phải thu thập số liệu một cách chính xác và tin cậy
- Các giải pháp đề xuất phải khoa học và có tính khả thi.
- Định hướng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
4. Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ quỹ đất nông nghiệp của xã Thanh Hương, huyện Thanh Chương,
tỉnh Nghệ An.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, tình hình
quản lý sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất qua đó phát hiện những thuận lợi và
khó khăn trong quá trình sử dụng đất trên địa bàn xã Thanh Hương huyện Thanh
Chương tỉnh Nghệ An.
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Tính tổng được xem là tiêu chuẩn hàng đầu trong đánh giá, giá trị khoa
học của các công trình nghiên cứu về các địa tổng thể. Trong nghiên cứu địa lý,
đây là quan điểm quan trọng và được hiểu như sau:
Tổng hợp là nghiên cứu đồng bộ, toàn diện các hợp phần của thể tổng hợp
địa lý trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng để tạo ra sự phân dị lãnh
thổ.

5


Tổng hợp là sự kết hợp có quy luật có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng
bộ và toàn diện các hợp phần của các địa tổng thể đồng thời phát hiện và xác
định những đặc điểm và đặc thù của địa tổng thể.
Với quan điểm tổng hợp, luận văn phân tích đồng bộ các yếu tố tự nhiên
và KT-XH trong mối quan hệ lẫn nhau, tác động đồng thời đến sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở địa phương. Việc vận dụng kinh nghiệm thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước và các vùng vào thực tiễn
địa phương cần có sự nghiên cứu,phân tích và lựa chọn phù hợp.
6.1.2. Quan điểm lịch sử
Quá trình phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nông thôn nói riêng
đều có sự chuyển biến theo từng thời kỳ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của
thời kỳ đó.Việc nhìn nhận chiều hướng phát triển kinh tế, sự thay đổi của nó qua
từng giai đoạn của lịch sử địa phương trong quá khứ và hiện tại cho phép chúng
ta vạch ra viễn cảnh dự báo cho sự phát triển kinh tế trong tương lai.Chẳng hạn
như khi nghiên cứu về “Hiệu quả sự dụng đất nông nghiệp tại xã Thanh Hương
huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An” từ đó chúng ta có thể đưa ra những mục
tiêu và phương hướng phát triển tiếp theo.
6.1.3. Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững hiện nay đang là một quan điểm bao trùm
trong phát triển kinh tế xã hội.Vận dụng quan điểm này để đề xuất các giải pháp
chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được hiệu
quả cao, bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường, nâng cao chât lượng cuộc
sống nhân dân.
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp thu thập số liệu
Đây là phương pháp dùng để thu thập số liệu, thông tin qua các báo cáo,
thống kê của các phòng, ban ngành để phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài.
6.2.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

6


Đây là phương pháp phân tích và xử lý các số liệu thô đã thu thập được để
thiết lập các bảng biểu để so sánh được sự biến động và tìm nguyên nhân của nó.
Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp cần thực hiện.
6.2.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Điểm điều tra được tôi lựa chọn là xã Thanh Hương huyện Thanh Chương
tỉnh Nghệ An. Đây là phương pháp tiến hành bằng cách sử dụng bảng câu hỏi để
điều tra ngẫu nhiên một số hộ nông dân nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan
cũng như chính xác của số liệu thu được. và được thu thập qua các nguồn tài liệu
phòng Nông nghiệp xã, phòng Tài nguyên và Môi trường.
6.2.4 Phương pháp phân tích đánh giá


Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất theo các chỉ

tiêu:
* Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm).
* Chi phí trung gian (C): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ
sử dụng trong quá trình sản xuất.
* Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung
gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
VA = GO - C
* Thu nhập hỗn hợp (NVA) là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí
trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất (T), khấu hao tài sản cố định (A), tiền công
lao động thuê ngoài
NVA = VA - T - A - TCLĐ thuê ngoài
Các chỉ tiêu được tính trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp.
Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội của các loại hình sử dụng đất:
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân (số
công lao động/ha).
+ Giá trị ngày công lao động (GTNC): là tỷ số giữa thu nhập hôn hợp
7


(NVA) và công lao động (CLĐ).
GTNC = NVA/CLĐ
 Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường của các loại hình sử dụng đất:
+ Tình hình sử dụng phân vô cơ (điều tra so sánh tiêu chuẩn mà các
chuyên gia khuyến cáo) và nhận xét của người dân về các loại hình sử dụng đất
hiện tại.

B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN HIỆU QUẢ SỬ
8


DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ THANH HƯƠNG, HUYỆN
THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm đất nông nghiệp
Theo Docutraiep (1879) thì đất được định nghĩa như sau: “Đất là vật thể
thiên nhiên, cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của
năm yếu tố hình thành đất gồm: đá, sinh vật, khí quyển, địa hình và thời gian.
Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chất humic
5%, không khí 20% và nước 35%”.
Đất nông nghiệp là tất cả những diện tích được sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, diện tích nghiên
cứu thí nghiệm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể cả diện tích đất lâm nghiệp
và các công trình xây dựng cơ bản phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp.
1.1.2. Phân loại đất nông nghiệp
Theo Thông tư 28/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
đất nông nghiệp được phân loại như sau:
*) Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm
*) Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất
khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm
phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã
giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn
rừng). Theo loại rừng, đất lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng
phòng hộ, đất rừng đặc dụng.
*) Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích
nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi
trồng nước ngọt.
*) Đất làm muối: Là đất các ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất
muối.
9


*) Đất nông nghiệp khác: gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các
loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không
trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại
động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống,
con giống và đất trồng hoa, cây cảnh;
Trong đó đất sản xuất nông nghiệp bao gồm:
 Đất trồng cây hàng năm: là đất sử dụng vào mục đích trồng các loại cây
có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01)
năm; kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên theo chu kỳ.
Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác.
- Đất trồng lúa (LUA): là ruộng và nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên
hoặc trồng lúa kết hợp với các mục đích sử dụng đất khác được pháp luật cho
phép nhưng trồng lúa là chính.
Trường hợp đất trồng lúa nước có kết hợp nuôi trồng thủy sản thì ngoài
việc thống kê theo mục đích trồng lúa nước còn phải thống kê theo mục đích
phụ là nuôi trồng thủy sản.
Đất trồng lúa bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn
lại, đất trồng lúa nương.
+ Đất chuyên trồng lúa nước (LUC): là ruộng trồng lúa nước (gồm cả
ruộng bậc thang), hàng năm cấy trồng từ hai vụ lúa trở lên, kể cả trường hợp có
luân canh, xen canh với cây hàng năm khác hoặc có khó khăn đột xuất mà chỉ
trồng cấy được một vụ hoặc không sử dụng trong thời gian không quá một năm.
+ Đất trồng lúa nước khác (LUK): là ruộng trồng lúa nước (gồm cả ruộng
bậc thang), hàng năm chỉ trồng được một vụ lúa, kể cả trường hợp trong năm có
thuận lợi mà trồng thêm một vụ lúa hoặc trồng thêm cây hàng năm khác hoặc do
khó khăn đột xuất mà không sử dụng trong thời gian không quá một năm

10


+ Đất trồng lúa nương (LUN): là đất chuyên trồng lúa trên sườn đồi, núi
dốc từ một vụ trở lên, kể cả trường hợp trồng lúa không thường xuyên theo chu
kỳ và trường hợp có luân canh, xen canh với cây hàng năm khác.
- Đất trồng cây hàng năm khác (HNK): là đất trồng các cây hàng năm (trừ
đất trồng lúa), gồm chủ yếu để trồng rau, màu, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả,
dâu tằm, đất trồng cỏ hoặc cỏ tự nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc.
Đất trồng cây hàng năm khác bao gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác
và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác...
+ Đất bằng trồng cây hàng năm khác (BHK): là đất bằng phẳng ở đồng
bằng, thung lũng, cao nguyên để trồng cây hàng năm khác.
+ Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác(NHK): là đất nương, rẫy ở
trung du, miền núi để trồng cây hàng năm khác.
 Đất trồng cây lâu năm (CLN): là đất sử dụng vào mục đích trồng các
loại cây được gieo trồng một lần, sinh trưởng và cho thu hoạch trong nhiều năm.
Các loại cây lâu năm bao gồm:
- Cây công nghiệp lâu năm: Gồm các cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch
không phải là gỗ, được dùng để làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp hoặc
phải qua chế biến mới sử dụng được như chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, ca
cao, dừa, v.v..;
- Cây ăn quả lâu năm: Gồm các cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch là
quả để ăn tươi hoặc kết hợp chế biến (kể cả chuối);
- Vườn tạp là vườn trồng xen lẫn nhiều loại cây lâu năm hoặc cây lâu năm
xen lẫn cây hàng năm mà không được công nhận là đất ở;
- Các loại cây lâu năm khác không phải đất trồng cây công nghiệp lâu
năm và cây ăn quả lâu năm, chủ yếu là cây lấy gỗ, lấy bóng mát, tạo cảnh quan
trong các đô thị, khu dân cư nông thôn.
1.1.3. Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
1.1.3.1. Cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định sự tồn
tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Những
11


hàng hoá có chứa chất dinh dưỡng nuôi sống con người này chỉ có thể có được
thông qua hoạt động sống của cây trồng và vật nuôi, hay nói cách khác là thông
qua quá trình sản xuất nông nghiệp
1.1.3.2. Nông nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng góp phần
thúc đẩy sản xuất công nghiệp và khu vực thành thị phát triển
Nông nghiệp cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là
công nghiệp chế biến.
Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu
vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp, các ngành kinh tế
quốc dân khác và đô thị.
Nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng hoá công nghiệp và
các ngành kinh tế khác.
1.1.3.3. Nông nghiệp là nguồn thu ngân sách quan trọng của Nhà nước
Nông nghiệp là ngành kinh tế sản xuất có quy mô lớn nhất của nước ta.
Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng và thu nhập quốc dân trong khoảng 25% tổng thu
ngân sách trong nước. Việc huy động một phần thu nhập từ nông nghiệp được
thực hiện dưới nhiều hình thức: thuế nông nghiệp, các loại thuế kinh doanh
khác… Hiện nay xu hướng chung tỷ trọng GDP của nông nghiệp sẽ giảm dần
trong quá trình tăng trưởng kinh tế.
1.1.3.4. Nông nghiệp là hoạt động sinh kế chủ yếu của đại bộ phận dân
nghèo nông thôn
Nước ta với hơn 80% dân cư tập trung ở nông thôn họ sống chủ yếu dựa
vào sản xuất nông nghiệp, với hình thức sản xuất tự cấp tự túc đã đáp ứng được
nhu cầu cấp thiết hàng ngày của người dân.
1.1.4. Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
a. Khái quát về sử dụng đất bền vững

12


Sử dụng đất đai bền vững là nhu cầu cấp bách của nhà nước ta cũng như
nhiều nước trên thế giới. Những hiện tượng sa mạc hoá, lũ lụt, diện tích đất
trống đồi núi trọc ngày càng gia tăng là nguyên nhân của việc sử dụng đất kém
bền vững làm cho môi trường tự nhiên ngày càng bị suy thoái.
Khái niệm bền vững được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước
nêu ra hướng vào 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị
trường chấp nhận.
- Bền vững về môi trường: loại sử dụng đất phải bảo vệ được đất đai,
ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ được môi trường tự nhiên.
- Bền vững về xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội.

b. Những quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Theo FAO, nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý hiệu quả tài nguyên
cho nông nghiệp (đất đai, lao động...) để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con
người đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên môi trường và bảo vệ
tài nguyên thiên nhiên. Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có hiệu quả
kinh tế, đáp ứng cho nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và
cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau.
Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải đáp ứng cho nhu cầu ngày càng
cao về ăn mặc thích hợp cho hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội gắn với việc
tăng phúc lợi trên đầu người. Đáp ứng nhu cầu là một phần quan trọng, vì sản
lượng nông nghiệp cần thiết phải được tăng trưởng trong những thập kỷ tới.
Phúc lợi cho mọi người vì phúc lợi của đa số dân trên thế giới đều còn rất thấp.
Các quan điểm trên có nhiều cách biểu thị khác nhau, song về nội dung
thường bao gồm 3 thành phần cơ bản:
- Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống
nông nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường.

13


- Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối
quan hệ con người hiện tại và cho cả đời sau.
- Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý.
Phát triển nông nghiệp bền vững chiếm vị trí quan trọng, nhiều khi có tính
quyết định trong sự phát triển chung của xã hội. Điều cơ bản nhất của phát triển
nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng
đắn về môi trường để giữ gìn tài nguyên đất đai cho thế hệ sau và điều quan
trọng nhất là phải biết sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, giữ vững, cải thiện chất
lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng trưởng
chất lượng cuộc sống, bình đẳng các thế hệ và hạn chế rủi ro.
1.1.4.2. Về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bền vững
a. Khái niệm
Khái niệm về hiệu quả được sử dụng trong đời sống xã hội, nói đến hiệu
quả người ta sẽ hiểu là công việc đạt kết quả tốt. Như vậy hiệu quả là kết quả
mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người mong đợi và hướng tới. Nó có nội
dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong sản xuất hiệu quả có nghĩa
là hiệu suất, năng suất. Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận, trong
lao động hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian
hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc là bằng số lượng sản phẩm
được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Trong xã hội, hiệu quả xã hội là có
tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào đó.
b. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động
kinh tế. Theo ngành thống kê định nghĩa thì hiệu quả kinh tế là một phạm trù
kinh tế, biểu hiện của sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ
khai thác các nguồn lực và sự chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất.
Nâng cao hiệu quả kinh tế là một tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, yêu cầu
của công tác quản lý kinh tế buộc phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh
tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.

14


Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phát triển theo hai chiều: chiều rộng và
chiều sâu, phát triển theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất,
tăng đầu tư chi phí vật chất, lao động, kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành
nghề, xây dựng thêm nhiều nhà máy, xí nghiệp… Phát triển theo chiều sâu là
đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến
hành hiện đại hóa, tăng cường chuyên môn hóa và hợp tác hóa, nâng cao trình
độ sử dụng các nguồn lực, chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Phát triển
theo chiều sâu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn
cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế
thị trường có sự lựa chọn kinh tế kinh tế của các tổ chức kinh tế trong kinh tế
trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Theo C.Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao
động theo các ngành sản xuất khác nhau.
Như vậy, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa
lượng kết quả đạt được với lượng chi phí bỏ trong các hoạt động sản xuất. Kết
quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là
phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần
so sánh tuyệt đối với tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả
kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị
đều tính đến khi xem xét sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt
được một trong 2 yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó hiệu quả sản
xuất mới đạt được hiệu quả kinh tế.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của hiệu quả kinh tế
sử dụng đất là: Trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của
cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động
thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội. Xuất
15


phát từ vấn đề này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra
được loại hình sử dụng đất hiệu quả kinh tế cao.
c Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả về mặt xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ
yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một dơn vị diện tích đất
nông nghiệp.
Từ những quan niệm trên cho thấy giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một
phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với các lợi
ích xã hội mà nó mang lại. Trong giai đoạn hiên nay, việc đánh giá hiệu quả
xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà
khoa học quan tâm.
d. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là xem xét sự phản ứng của môi trường đối với hoạt
động sản xuất. Từ các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đều
ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Đó có thể là ảnh hưởng tích cực đồng
thời có thể là ảnh hưởng tiêu cực. Thông thường, hiệu quả kinh tế thường mâu
thuẫn với hiệu quả môi trường. Chính vì vậy khi xem xét cần phải đảm bảo tính
cân bằng với phát triển kinh tế, nếu không thường sẽ bị thiên lệch và có những
kết luận không tích cực.
Xét về khía cạnh hiệu quả môi trường, đó là việc đảm bảo chất lượng đất
không bị thoái hóa, bạc màu và nhiễm các chất hóa học trong canh tác. Bên cạnh
đó còn có các yếu tố như độ che phủ, hệ số sử dụng đất, mối quan hệ giửa các hệ
thống phụ trợ trong sản xuất nông nghiệp như chế độ thủy văn, bảo quản chế
biến, tiêu thụ hàng hóa.
1.1.5. Cơ sở và nguyên tắc để lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp

16


1.1.5.1. Cơ sở lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp
- Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp.
- Nhu cầu của địa phương về thay đổi loại hình sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp.
- Các khả năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các tiến bộ kỹ
thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó.
1.1.5.2. Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp
- Các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống. Thể
hiện rõ ở nội dung và phương pháp tính phải phù hợp với hệ thống chỉ tiêu kinh
tế của nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng. Các chỉ
tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc
(Nguyễn Đình Hợi, 1993; Bùi Văn Ten, 2000).
- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu chính,
các chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu
chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội
dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn (Bùi Văn Ten, 2000; Nguyễn
Xuân Thành, 2001).
- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông
nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối
ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu.
- Các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác
dụng kích thích sản xuất phát triển.
* Hiệu quả kinh tế:
- Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong một kỳ nhất định (thường là một năm).
17


+ Chi phí trung gian (C) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ
sử dụng trong quá trình sản xuất.
+ Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa GO và chi phí trung gian (C), là
giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
VA = GO - C
+ Thu nhập hỗn hợp (NVA) là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí
trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất (T), khấu hao tài sản cố định (A), tiền công
lao động thuê ngoài
NVA = VA - T - A - TCLĐ thuê ngoài
+ Thu nhập thuần (TNT) là giá trị thu được sau khi đã trừ đi chi phí trung
gian và tiền công lao động (kể cả lao động tự làm)
TNT = GO - (C +T+A+ TCLĐ)
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị tuyệt đối) bằng
tiền theo thời giá hiện hành, định tính (giá trị tương đối) được tính bằng mức độ
cao, thấp. Các chỉ tiêu đạt được mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn (Bùi
Văn Ten, 2000).
* Hiệu quả xã hội
Theo hội khoa học đất Việt Nam (2000), hiệu quả xã hội được phân tích
bởi các chỉ tiêu sau:
- Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân.
- Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng.
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân.
- Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất khẩu.
* Hiệu quả môi trường
Chỉ tiêu hiệu quả môi trường, bao gồm các chỉ tiêu:
- Độ che phủ =

Diện tích trồng cây lâu năm + diện tích đất lâm nghiệp có rừng
Diện tích đất tự nhiên

18


Tổng diện tích gieo trồng hàng năm
Tổng diện tích trồng cây hàng năm
- Đánh giá hệ thống sản xuất cây trồng.
- Hệ số sử dụng đất

=

- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi loại hình sử dụng đất.
- Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên.
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông
nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân
tích trong thời gian dài. Vì vậy, đề tài của tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá ảnh
hưởng của sử dụng phân bón cho các loại cây trồng hiện tại.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.1.3.1 Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An
và huyện Thanh Chương.
a. Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An
Theo kết quả kiểm kê đất đai, tỉnh Nghệ An có tổng diện tích đất tự nhiên
1.648.728,0 ha. Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 195.944,0 ha ( chiếm 11,88
ha), diện tích đất phi nông nghiệp là 759.618,0 ha(chiếm 46,07 %),diện tích đất
chưa sử dụng là 693.166,0 ha (chiếm 42,05%) so với tổng diện tích đất tự nhiên.
Trong diện tích đất nông nghiệp,diện tích đất trồng cấy hằng năm là
142.333 ha,chiếm 72,63 %,riêng đất lúa chiếm 22,4% gieo trồng được 02, vụ diện
tích đất trồng cây lâu năm là 12.401 ha chiếm 6,32 %.Trong tổng diện tích đất tự
nhiên,diện tích đất chưa sử dụng đang chiếm tỷ lệ rất lớn.Trong những năm qua
tỉnh đã có nhiều chính sách để mở rộng diện tích phục vụ các mục đích sử dụng
khác nhau. Tuy vậy kết quả đạt được chưa cao.Trong điều kiện hiện nay diện tích
đất nông nghiệp của tỉnh ngày càng bị thu hẹp do thực hiện các dự án đầu tư như
đầu tư xây dựng nhà máy cấp nước sinh hoạt tại xã Kim Liên huyện Nam
Đàn;xây dựng trạm xử lý rác thải tại xã Hưng Hòa thành phố Vinh....
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội
về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà
quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc
độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa

19


phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở tỉnh Nghệ An
có nhiều biến động.
Theo Nguyễn Từ và Phí Văn Kỷ (2006), đất nông nghiệp là nhân tố vô
cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.Mặc dù nền sản xuất nông nghiệp
của các tỉnh phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống
con người thì vô cùng quan trọng (Đặc biệt là những tỉnh kinh tế còn gặp nhiều
khó khăn). Hầu hết các tỉnh coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng của sự
phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực,
thực phẩm là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải
tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh
thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các
biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng. Kết quả là hàng loạt
diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn tỉnh qua các hình thức bị mất chất
dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc
của tầng đất... Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên cả nước bị
thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra.
b.Tình hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh
Chương.
Huyện Thanh chương là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam tỉnh Nghệ An
có diện tích đất tự nhiên là 112.886,78 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là
90.655,14 ha chiếm 80,31% tổng diện tích đất tự nhiên với đầy đủ các thành
phần các loại đất và diện tích đồi núi chiếm phần lớn trong tổng diện tích đất tự
nhiên của toàn huyện,các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
khá đa dạng tuy nhiên do điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó
khăn,dẫn đến thu nhập vẫn còn thấp.
Đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Chương đang có chiều
hướng tăng lên. Tuy nhiên so với một số huyện , huyện Thanh Chương có tỷ lệ
đất dùng vào nông nghiệp còn thấp. Do đó cần có nhiều biện pháp thiết thực để
khai thác diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích khác nhau nhằm nâng cao
diện tích đất sản xuất nông nghiệp và tránh mất đất sản xuất nông nghiệp.
20


Chất lượng nhu cầu quỹ đất cho phát triển để đưa vào quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của các địa phương chưa cao. Những con số chưa được tính
toán khoa học, chưa sát với phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường
bất động sản. Thực tế này đã dẫn đến hậu quả là vừa thiếu, vừa thừa quỹ đất.
Hơn nữa trách nhiệm của các cấp trong việc quản lý, tổ chức thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được xác định rõ.
Tác giả Đặng Kim Sơn (2011) cho rằng: Các nhà hoạt động chính sách
đang lo lắng chính đáng về viễn cảnh chuyển đổi đất lúa bừa bãi và không được
giám sát đầy đủ các mục đích sử dụng. Ở ngoại ô thành phố có áp lực ngày càng
lớn đối với việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp và đô
thị. Đất lúa chuyển đổi để xây dựng một khu công nghiệp sẽ mất đi mãi mãi đối
với nông nghiệp.
Báo cáo về Quy hoạch sử dụng đất năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường cho rằng: Sự kém hiệu quả còn thể hiện ở sự phối hợp chưa tốt giữa các
bộ, ngành, các địa phương trong công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, nhất là quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, giữa quy
hoạch sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp với quy hoạch sử dụng đất cho nuôi
trồng thủy sản. Phần lớn các địa phương, nhất là các thành phố còn lúng túng
trong việc gắn kết giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây
dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Nhiều quy hoạch ngành được
xây dựng sau khi quy hoạch sử dụng đất được xét duyệt nên không được câp
nhật đầy đủ dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Vấn đề thoái hoá đất huyện Thanh Chương đang là một thách thức to
lớn. Nguyên nhân thoái hoá đất bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và hậu quả của chiến tranh. Hậu quả thoái hoá đất rất nghiêm trọng dẫn
tới sự suy thoái tài nguyên động thực vật, suy giảm và mất khả năng sản xuất
của đất.
Vì vậy, nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là
vấn đề mang tính cấp bách hiện nay nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.
21


Chương 2
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
XÃ THANH HƯƠNG, HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
22


2.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Thanh Hương là một xã trung du miền núi, nằm về phía Tây của
huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, cách trung tâm huyện 10 km về phía
Đông và trung tâm thành phố Vinh 55 km về phía Đông Nam.
Phía Tây có đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua. Ranh giới hành chính được xác
định như sau:
- Phía Bắc giáp xã Thanh Tiên và Thanh Liên;
- Phía Tây giáp xã Thanh Mỹ và Ngọc Lâm;
- Phía Đông và Nam giáp xã Thanh Thịnh.

2.1.1.2 Địa hình, địa mạo

23


Là một xã trung du miền núi nên địa hình bao quanh là đồi núi khá phức tạp, ở
giữa là những cánh đồng nhỏ,có đồi núi dạng bát úp, đồng ruộng có dạng bậc
thang xen giữa các đồi núi.
2.1.1.3. Điều kiện khí hậu, thời tiết
Xã Thanh Hương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa hè thì
nóng bức, nhiệt độ từ 33 -37°C, có khi lên đến 39°C. Về mùa đông nhiệt độ lại
khá thấp, trung bình từ 14 - 20°C, có lúc xuống tới 10°C. Nói chung khí hậu khá
phức tạp, nắng nóng thì gay gắt, mưa bão thì rất dữ dội. Vì nằm về phía Tây nam
tỉnh Nghệ An nên chịu ảnh hưởng của 2 mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 3 chủ yếu gió Đông Bắc, mùa mưa tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm, gió
thịnh hành là gió Tây Nam. Mùa khô không khí khô hanh, độ ẩm bình quân là
50 - 60%, mùa mưa khí hậu ẩm ướt, độ ẩm từ 80 - 90% không khí thấp ảnh
hưởng trực tiếp đến độ bền của công trình.
Yếu tố khí hậu xã Thanh Hương nói chung thuận lợi để phát triển cây
trồng vật nuôi, song biên độ nhiệt giữa các mùa trong năm lớn, mưa tập trung,
mùa nắng nóng khô hanh, đó là nguyên nhân gây ra hạn hán, lũ lụt, xói mòn, bồi
lấp, hủy hoại đất.
2.1.1.4 Thủy văn
Sông Trai: Đây là sông chảy qua trên địa bàn xã. Chiều dài của sông là 20
km, chảy theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Diện tích lưu vực sông là
17.730 km2, mật độ lưới sông là 0,60 km/km2. Lưu lượng trung bình hàng năm
của sông đạt 688 m3/s. Mực nước bình quân lớn nhất là 5,03 m, lưu lượng lớn
nhất bình quân là 2.260 m3/s (đo tại trạm cho cầu). Đây là tuyến đường thuỷ
quan trọng và duy nhất nối nước bạn Lào với Nghệ An và thông ra biển Đông.
Ngoài ra, trên địa bàn xã một mạng lưới hồ, đập, các con hói nhỏ và kênh
rạch khác.
2.1.1.5 Tài nguyên đất

24


Đất đai trên địa bàn xã gồm có hai loại chính: đất phù sa phân bố ở vùng
đồng bằng của xã và đất Feralit ở vùng đồi núi thấp.
Đất phù sa (562,42 ha) là tầng đất phù sa được bồi đắp hàng năm, loại đất
có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nhẹ đến trung bình, thích hợp cho việc
trồng lúa và một số cây trồng hàng năm khác, phân bố dọc sông Lam và vùng
đồng bằng của xã.
Đất Feralit (119,40 ha) chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng, phát triển trên đá
thạch sét và đá biến chất, tầng đất trung bình. Vùng đất này thuận lợi cho việc
phát triển cho trồng cây lâm nghiệp như: keo, tràm...
2.1.1.6 Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê của huyện năm 2010 của xã diện tích đất lâm
nghiệp của xã là 1191,40 ha. Trong đó rừng sản xuất chiếm 867,90 ha và 323,50
ha là đất rừng phòng hộ.
Tiềm năng về lâm nghiệp của xã Thanh Hương là khá lớn và đa dạng, đất
lâm nghiệp của xã chủ yếu đồi núi thấp, độ dốc nhỏ, thổ nhưỡng tốt.
2.1.1.7 Tài nguyên về khoáng sản
Xã Thanh Hương có nguồn cát sạn ven bờ sông trai, được người dân khai
thác làm nguyên liệu trong xây dựng.
2.1.1.8 Cảnh quan môi trường
Là xã trung du miền núi có mật độ dân số không cao, các ngành kinh tế
phi nông nghiệp chưa phát triển vì vậy những tác động không tích cực tới môi
trường không đáng kể.
Tuy nhiên việc khai thác khoáng sản không có quy hoạch cụ thể và không
đáp ứng các yếu tố kỹ thuật về vảo vệ môi trường đã gây ô nhiễm nguồn nước
và gây sạt lở đất.
2.1.2 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế
Nhìn chung, tình hình kinh tế của xã phát triển ổn định, văn hóa - xã hội
có nhiều khởi sắc, quốc phòng, an ninh được đảm bảo, quan tâm chỉ đạo và tập

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×