Tải bản đầy đủ

đánh giá việc thực hiện bồi thường,hỗ trợ tái định cư tại một số dự án trên địa bàn thành phố vinh,tỉnh nghệ an

MỤC LỤC

1


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
DA 1
DA 2
BT
CP
ĐVT
GCNQSD
GPMB
HĐH
HĐND
HT

NN

QSD

TĐC

Nghĩa tiếng Việt
Dự án 1
Dự án 2
Bồi thường
Chính Phủ
Đơn vị tính
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giải phóng mặt bằng
Hiện đại hoá
Hội đồng nhân dân
Hỗ trợ
Nghị định
Nhà nước
Quyết định
Quyền sử dụng
Tái định cư

2


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Vinh 2014 - 2017
Bảng 2.2. Biến động dân số thành phố Vinh từ năm 2014 - 2017
Bảng 2.3. Biến động lao động thành phố Vinh giai đoạn 2014 - 2017
Bảng 2.4. Hiện trạng sử dụng đất Thành phố Vinh năm 2017
Bảng 2.5. Tiến độ thực hiện công tác bồi thường GPMB của 2 dự án
Bảng 2.6. Kết quả bồi thường về đất tại 2 dự án
Bảng 2.7. Kết quả bồi thường tài sản tại 2 dự án nghiên cứu
Bảng 2.8: Ý kiến của người dân về mức giá đền bù
Bảng 2.9. Đánh giá kết quả hỗ trợ cả 2 dự án nghiên cứu
Bảng 2.10. Ý kiến của người dân về mức hỗ trợ
Bảng 2.13. Tình hình sử dụng tiền được đền bù và hỗ trợ của người dân
Bảng 2.14. Quy mô sử dụng đất của các hộ sản xuất nông nghiệp của 2 dự án
Bảng 2.15. Ảnh hường của GPMB tới nghề nghiệp
Bảng 2.16. Ảnh hưởng của GPMB tới đời sống nhân dân

3


A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý báu, là địa bàn để
phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội quốc phòng, an ninh; là nguồn
nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay
Nước ta đang phát triển kinh tế với mục tiêu: “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng để đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020”. Việc chuyển mục đích sử dụng các loại đất; nhất là từ đất nông nghiệp,
lâm nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp tức là vấn đề thu hồi đất, vấn đề
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là một tất yếu khách quan và diễn ra phổ biến,
hầu khắp các địa phương trên phạm vi cả nước.
Trong 3 năm qua, UBND thành phố Vinh đã thực hiện việc bồi thường, hỗ
trợ GPMB để thực hiện khoảng 304 dự án đầu tư xây dựng, thu hút đầu tư, phát
triển kinh tế trên địa bàn thành phố Vinh với tổng diện tích đất thu hồi 354,97
ha, kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB được duyệt 2.668 tỷ đồng; số lô đất giao
tái định cư cho các hộ là 518 lô đất, đạt trên 80%KH. Đây là kết quả đạt được
cao nhất từ trước tới nay về công tác giải phóng mặt bằng. Trong đó, có 11 công
trình, dự án trọng điểm do Trung ương và tỉnh làm chủ đầu tư, gồm nhà ga hành
khách - Cảng hàng không Vinh, đường 8A, 8B, Dự án xây dựng cầu vượt quốc
lộ 46 giao đường sắt Bắc - Nam; Nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1A và nút cầu vượt
quốc lộ 1A; 14 công trình, dự án giao đất cho các đơn vị hành chính, sự nghiệp.
23 công trình trọng điểm của Thành phố, điển hình như: Đường Phong Định
Cảng, Đường Nguyễn Kiệm, đường Lê mao kéo dài, đường vào trung tâm xã
Nghi Kim, Nghi Liên…vv. Tuy nhiên, hiện nay, Thành phố Vinh đang còn 27 dự
án chưa hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng. Vì gặp nhiều khó khăn trong
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thường xuyên thay đổi. Các dự án trên
địa bàn thành phố Vinh chủ yếu là thu hồi và bồi thường đất thổ cư của hộ gia
đình. Thế nhưng, đến nay Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thực hiện
chưa quy định cụ thể việc xác định loại đất thu hồi và bồi thường. Khi thực hiện
các dự án phải phá dỡ nhà ở của người dân thì chủ yếu thu hồi phần phía trước,
nhưng khi thực hiện công tác bồi thường thì các hộ đề nghị bồi thường toàn bộ
tài sản trên đất để xây dựng lại, việc xác định giá đất để tính giá trị bồi thường,
hỗ trợ cho người bị thu hồi vẫn đang còn nhiều bức xúc. Đời sống của người dân
không còn đất sản xuất vẫn chưa được ổn định, chuyển đổi nghề nghiệp tạo việc
làm. Xác định công tác giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp,
hiện nay. Vì vậy, tập trung cao độ để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt việc thực
hiện các dự án đầu tư xây dựng phát triển thành phố Vinh, góp phần tạo môi
4


trường thu hút đầu tư, xây dựng Thành phố Vinh sớm trở thành trung tâm KT VH vùng Bắc Trung bộ. Đồng thời giải quyết tốt vấn đề an sinh xã hội đối với
người có đất bị thu hồi.
Vì những lý do nêu trên, để nhìn nhận đầy đủ về công tác bồi thường,
GPMB, hỗ trợ và tái định cư ở thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An, tôi đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài: Đánh giá việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại
một số dự án trên địa bàn Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất tại 2 Dự án trên địa bàn thành phố Vinh tỉnh Nghệ An nhằm
phát hiện những vấn đề bất cập ảnh hưởng đến tiến độ giải phóng mặt bằng của
các dự án.
Đánh giá tác động của việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại 2 dự án
nghiên cứu đến đời sống, việc làm của người dân có đất bị thu hồi.
Đề xuất một số giải pháp khắc phục những bất hợp lý trong công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo quyền lợi
của người có đất bị thu hồi đồng thời đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng của
các dự án.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại một số dự án
trên địa bàn Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi không gian
Địa điểm nghiên cứu của đề tài được tiến hành tại phường Cửa Nam,
thành phố Vinh trong giới hạn tại dự án “Tu bổ, tôn tạo, mở rộng di tích chùa
Cần Linh” và dự án “Nâng cấp, cải tạo hào xung quanh thành cổ Vinh - đoạn
qua phường Cửa Nam”.
b. Phạm vi thời gian
Phạm vi thời gian thu thập số liệu: số liệu điều tra từ khi bắt đầu thực hiện
2 dự án (năm 2014) đến khi kết thúc 2 dự án (năm 2017).
4. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
- Góp phần xây dựng hoàn chỉnh công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng hỗ trợ, tái định cư. Bổ sung kiến thức, kinh nghiệm thực tế và hiểu rõ về
công tác quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là công tác bồi thường giải phóng
mặt bằng, những thuận lợi khó khăn khi tiến hành dự án.
- Kết quả nghiên cứu của đền tài là cơ sở để đưa ra các giải pháp nhằm
đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng cho các dự án trên địa bàn
thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
5


- Nghiên cứu đề tài nhằm đánh giá thực trạng việc thực hiện các chính
sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn thành phố Vinh.
- Rút ra được những tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện, xác
định được nguyên nhân, lý do của tồn tại, hạn chế nhằm thúc đẩy quá trình
GPMB đúng tiến độ ở các dự án trong tương lai gần của thành phố Vinh.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Điều tra thu thập số liệu ở các cơ
quan quản lý nhà nước: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An; Phòng Tài
nguyên và Môi trường thành phố Vinh, Phòng Tài chính - Thống kê, Ban Quản
lý dự án…
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra phỏng vấn những hộ gia
đình, cá nhân có đất bị thu hồi. Đối với dự án 1 điều tra 30 hộ trên tống số 40 hộ
bị ảnh hưởng (toàn bộ đất thu hồi là đất nông nghiệp). Đối với dự án 2 điều tra
50 hộ trên tổng số 211 hộ bị ảnh hưởng (bao gồm: đất ở, đất vườn, đất sản xuất
nông nghiệp).
- Phương pháp so sánh: So sánh số liệu thu thập được với tiêu chuẩn chính
sách GPMB, hỗ trợ mà BQLDA đưa ra: mức bồi thường về đất, tài sản và chính
sách của nhà nước về tái định cư.
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Từ những số liệu đã thu thập được
thông qua 2 phương pháp thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp. Tôi đã tiến hành
đánh giá về công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cư của dự án.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị và mục tài liệu tham khảo,
đề tài khóa luận tốt nghiệp được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 2: Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại dự án “Tu
bổ, tôn tạo, mở rộng di tích chùa Cần Linh” và dự án “Nâng cấp, cải tạo Hào
xung quanh Thành Cổ Vinh - đọan qua phường Cửa Nam” trên địa bàn Thành
Phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ thực
hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Vinh.

6


B. PHẦN NỘI DUNG

Chương 1
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.

Cơ sở lý luận

1.1.1. Các khái niệm liên quan

- Giải phóng mặt bằng là một khái niệm suy rộng của công tác thu hồi đất
phục vụ quốc phòng an ninh và các dự án phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm
các công đoạn: từ bồi thường cho đối tượng sử dụng đất giải toả các công trình
trên đất, di chuyển người dân tạo mặt bằng cho triển khai dự án đến việc hỗ trợ
cho người bị thu hồi đất, tái tạo lại chỗ ở, việc làm, thu nhập, ổn định cuộc sống.
(Theo điều 3, Luật đất đai 2013).
+ Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất
đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định. (Theo
điều 3, Luật đất đai 2013).
- Theo Khoản 14, Điều 3, Luật Đất đai 2013 quy định “Hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định
đời sống, sản xuất và phát triển”. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà
nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát
triển.
Theo Điều 83 Luật đất đai 2013, Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất bao gồm:
+ Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;
+ Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường
hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông
nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà
phải di chuyển chỗ ở;
+ Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá
nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;
+ Hỗ trợ khác.
- Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bố trí chỗ ở mới
cho các hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước thu hồi đất đang ở để giao cho người
khác sử dụng để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại
đó. Đây là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với
một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung. Hiện nay ở nước ta khi
Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí
TĐC bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở; Bồi thường
7


bằng giao đất ở mới; Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở (Nghị định
47, 2014).
Tái định cư là bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí quan trọng trong
chính sách bồi thường GPMB. Các dự án bố trí tái định cư phải luôn đảm bảo
điều kiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ (Lê Thị
Yến, 2010).
- Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng
ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai năm
2013, người sử dụng đất đai phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền và được cấp GCNQSDĐ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực
hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới
quyền sử dụng đất. Trong công tác bồi thường, GPMB, GCNQSDĐ là căn cứ để
xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Hiện
nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký
biến động về sử dụng đất; việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất. Chính vì vậy
mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt công tác
đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ thì công tác bồi thường, GPMB sẽ thuận lợi,
tiến độ GPMB nhanh hơn.
- Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường,
GPMB hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi. Giá đất là số
tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình
thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Theo quy định của pháp Luật Đất
đai 2013 tại Điều 112 nguyên tắc, phương pháp định giá đất được xác định như
sau:
Việc định giá đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
+ Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá;
+ Theo thời hạn sử dụng đất;
+ Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục
đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với
những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất;
+ Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử
dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có
mức giá như nhau.
- Chính phủ quy định phương pháp định giá đất.
Luật Đất đai 2013 bỏ hình thức lập và công bố khung giá đất hằng năm,
thay vào đó là xây dựng khung giá đất áp dụng trong thời gian 5 năm. Tuy
8


1.1.2.
a.

b.

c.

nhiên, việc này chỉ thay đổi cách làm nhưng về bản chất thì giá đất được quy
định trong khung giá và giá thị trường vẫn có sự chênh lệch rất lớn.
Giá đất tính bồi thường về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư. Theo quy định của Luật Đất
đai năm 2013, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều
kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa
phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều
trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện (Tổng cục quản
lý đất đai, 2017).
Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nguyên tắc về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo điều 74, mục 2 Luật Đất đai 2013 quy định rằng:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được
bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.
- Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử
dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định
tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
- Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách
quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.
Nguyên tắc về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Theo khoản 1, điều 83, mục 2 Luật Đất đai 2013 quy định rằng:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường
theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
- Việc hỗ trợ phải đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và
đúng quy định của pháp luật.
Nguyên tắc về lập và thực hiện dự án tái định cư
Theo điều 26 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 quy
định rằng:
Việc lập và thực hiện dự án tái định cư quy định tại Điều 85 của Luật Đất
đai được thực hiện theo quy định như sau đây:
- Dự án tái định cư được lập và phê duyệt độc lập với phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng phải bảo đảm có đất ở, nhà ở tái định cư trước
khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thu hồi đất.
- Việc lập dự án tái định cư, lựa chọn chủ đầu tư thực hiện theo quy định
của pháp luật về phát triển và quản lý nhà ở tái định cư và phải bảo đảm các quy
định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 69 của Luật Đất đai 2013.

9


- Khu tái định được lập cho một hoặc nhiều dự án, nhà ở, đất ở trong khu
tái định cư được bố trí theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù
hợp với các mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư.
- Đối với dự án khu tái định cư tập trung có phân kỳ xây dựng theo các dự
án thành phần thì tiến độ thu hồi đất và hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở
hạ tầng của khu tái định cư được thực hiện theo tiến độ của từng dự án thành
phần nhưng các công trình cơ sở hạ tầng của từng dự án thành phần trong khu
tái định cư phải bảo đảm kết nối theo đúng quy hoạch chi tiết đã được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Việc bảo đảm kinh phí để thực hiện dự án tái định cư thực hiện theo quy
định tại Điều 32 của Nghị định này.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
a. Một số yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai
* Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển
của nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai
đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định
cao và phù hợp với tình hình thực tế.
Ở Việt Nam, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Chính phủ đã
bốn lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai
(1998, 2001, 2003 và 2013 ) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
đất nước. Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính phủ
không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai. Với
những đổi mới về pháp luật Đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho
việc phát triển các dự án đầu tư. Tuy nhiên, do tính chưa ổn định, chưa thống
nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã
gặp khá nhiều khó khăn và cản trở. Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành
các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến
công tác bồi thường, GPMB (Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng, 2006).
Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất
đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Kết
quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
cho thấy: nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản
lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong
khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt.
Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ
10


quản lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công
khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi
hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh
hưởng trực tiếp tiến độ GPMB (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007).
* Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại là
điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển. Vì vậy, việc sử
dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền
kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát
triển xã hội. Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định
hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế. Thông
qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc
phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá
trình phát triển đang đặt ra (Nguyễn Đức Minh, 2001).
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ
chức việc bồi thường, GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà
Nhà nước đóng vai trò tổ chức. Bất kỳ một phương án bồi thường, GPMB nào
đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu
như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Quy hoạch sử dụng đất
không chỉ là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan
trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ,
văn minh trong bồi thường, GPMB và cũng là công việc mà hoạt động quản lý
nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất (Nguyễn
Đức Minh, 2001).
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường
đất đai trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng
nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà
theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được
thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng.
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng
tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi
thường.
* Đăng ký đất đai (ĐKĐĐ), lập và quản lý hồ sơ địa chính cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Đất đai,
người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận
11


quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ
cho việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất và giải quyết các
tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất. Trong công tác bồi thường, GPMB,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi
thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Hiện nay, công tác đăng ký đất
đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất;
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất. Chính vì vậy mà
công tác bồi thường, GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt công tác đăng
ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường,
GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn.
b. Yếu tố giá đất và định giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường,
GPMB hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi.
Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định
hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Theo quy định của
pháp Luật Đất đai 2013 tại Điều 112 nguyên tắc, phương pháp định giá đất được
xác định như sau:
1. Việc định giá đất phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá;
b) Theo thời hạn sử dụng đất;
c) Phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường của loại đất có cùng mục
đích sử dụng đã chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất đối với
những nơi có đấu giá quyền sử dụng đất hoặc thu nhập từ việc sử dụng đất;
d) Cùng một thời điểm, các thửa đất liền kề nhau có cùng mục đích sử
dụng, khả năng sinh lợi, thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự như nhau thì có
mức giá như nhau.
2. Chính phủ quy định phương pháp định giá đất.
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có
những hiểu biết về định giá đất. Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế
nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi
chúng tham gia trong một thị trường nhất định. Hay nói cách khác, định giá đất
được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho
một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định. Khi định giá
đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại tại thời điểm
định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế. Hiện
nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng hai phương pháp truyền thống như các
nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương
pháp thu nhập.
12


Giá đất tính bồi thường về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư. Theo quy định của Luật Đất
đai năm 2013, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều
kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa
phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều
trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện (Quốc hội,
2003).
c. Thị trường bất động sản
- Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất động
sản trong một thời gian và không gian nhất định. Việc hình thành và phát triển
thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự
án đầu tư (do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao
dịch trên thị trường); đồng thời, người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc thuê đất
đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách
TĐC và bồi thường.
- Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác
động tới giá đất tính bồi thường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005).
1.1.4. Trình tự thực hiện giải phóng mặt bằng
Quy trình thực hiện công tác bồi thường GPMB và tái định cư của tỉnh
Nghệ An được quy định rõ tại Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND ngày
13/10/2015 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An như sau:

13


Ra thông báo thu
hồi đất,

Cập nhật, chỉnh lý
biến động đất đai

Thành lập Hội
đồng bồi thường,
hỗ trợ và tái định
cư, thành lập tổ
công tác,

Bàn giao đất theo
quy định

Phê duyệt và trích
chuyển kinh phí tổ
chức bồi thường,
hỗ trợ và tái định


Lập kế hoạch tiến
độ chi tiết giải
phóng mặt bằng,
thẩm tra dự toán
chi phí tổ chức
thực hiện công tác
bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư

Cưỡng chế thi
hành quyết định
thu hồi đất

1.2.

Cơ sở thực tiễn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1.2.1. Thực tiễn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam

Sau khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực, đến nay, công tác thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất
“tùy tiện”, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất.
Theo Dự thảo Báo cáo Tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai 2013 và
định hướng sửa đổi Luật Đất đai của Bộ TN&MT cho thấy: sau khi Luật có hiệu
lực, bên cạnh việc hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai,
Bộ đã tích cực chỉ đạo, hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc cho các địa phương trong
công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đặc biệt là
công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án trọng điểm. Tại các
địa phương, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng luôn được quan tâm
chỉ đạo tổ chức thực hiện công khai, dân chủ; đúng trình tự, thủ tục theo quy định
của pháp luật. Nhất là, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có đất bị thu hồi
được đảm bảo, đã góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nhất là các dự
14


án trọng điểm như: Quốc lộ 1A, dự án đường Hồ Chí Minh, góp phần ổn định
kinh tế - xã hội.
Theo số liệu tổng hợp từ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi báo
cáo về Bộ TN&MT, sau khi Luật có hiệu lực đến nay, các địa phương đã triển
khai thực hiện 2.194 công trình, dự án (địa phương triển khai nhiều công trình, dự
án là: Quảng Nam (294 dự án), Lào Cai (211 dự án), Bắc Giang (162 dự án), Phú
Yên (146 dự án), với tổng diện tích đất đã thực hiện bồi thường, giải phóng mặt
bằng là 7.882 ha (đất nông nghiệp 6.810 ha; đất ở 165 ha; đất khác 930 ha). Số tổ
chức, hộ gia đình cá nhân có đất thu hồi là 80.893 trường hợp (tổ chức 1.155
trường hợp; hộ gia đình, cá nhân 79.738 trường hợp).
Dự thảo cũng chỉ ra rằng, diện tích đất được thu hồi đã đáp ứng được mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương; các
quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từng bước được điều chỉnh, bổ sung
phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế thị trường, đảm bảo tốt hơn quyền lợi hợp
pháp của người bị thu hồi đất.
Đồng thời, việc tổ chức thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư của Trung tâm Phát triển quỹ đất bước đầu đã phát huy hiệu quả tốt, góp phần
đáp ứng nhu cầu "đất sạch" để thực hiện các dự án đầu tư nhất là các dự án đầu tư
nhằm mục đích công cộng.
1.2.2. Thực tiễn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư một số dự án đầu tư trên
địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và trên địa bàn thành phố Vinh nói riêng từ
năm 2014 đến 2017
a. Trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Đứng trước bối cảnh phát triển kinh tế của đất nước và của tỉnh Nghệ An
nói chung, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đang diễn ra
cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Bộ mặt của thành phố Vinh trong những năm qua đã
và đang có nhiều sự thay đổi: nhiều khu đô thị mới được mọc lên, hạ tầng cơ sở
kỹ thuật đường, điện… ngày càng được nâng cấp mở rộng. Các công trình này
được thực hiện nhanh chóng là nhờ một phần không nhỏ vào công tác giải
phóng mặt bằng
Theo phòng Quản lý đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghê An
cho biết: Từ năm 2014 đến nay, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các Sở ngành,
UBND cấp huyện để xử lý các tồn tại, vướng mắc đến nay công tác bồi thường,
giải phóng mặt bằng đã được đẩy nhanh tiến độ đáp ứng yêu cầu chủ đầu, đặc
biệt các Dự án trọng điểm của TW, tỉnh và xử lý một số dự án kéo dài nhiều
năm. Cụ thể:
- Đối với các dự án trong điểm: nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1A; đường 72
m từ đường 2/3 đến ngã 3 Quán bàu (dự án kéo dài 11 năm); đường nối quốc lộ
1A - Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn, Thái Hoà; dự án phát triển đô thị Vinh do Ngân
15


hàng thế giới tài trợ; Dự án thủy điện Bản Vẽ, thuỷ điện Hủa Na; Dự án Nhà
máy xi măng Sông Lam do Công ty TNHH Tập đoàn Hoàng Phát TheVissai làm
chủ đầu tư....
- Các Khu công nghiệp Nam Cấm, Hoàng Mai, Khu công Nghiệp Đông
Hồi, Khu Công nghiệp Đô thị VSIP 7 Nghệ. Trong đó: dự án Khu công nghiệp
Nam Cấm đến nay đã cơ bản giải quyết các kiến nghị của người dân bị thu hồi
đất tại Khu công nghiệp Nam Cấm, trong đó tham mưu UBND Tỉnh đề xuất hỗ
trợ ổn định đời sống, sản xuất; hỗ trợ trồng cây trồng (Doanh nghiệp) và giải
quyết một số trường hợp thực hiện bồi thường không đúng chủ sử dụng đất.
Hiện nay, UBND huyện Nghi Lộc đang tiến hành lập phương án bồi thường để
chi trả; hoàn thành việc bồi thường, GPMB đối với và giao đất, cấp giấy chứng
nhận cho chủ đầu tư dự án Khu công nghiệp Hoàng Mai. Hiện nay, Khu Công
nghiệp Đông Hồi có 03 nhà đầu tư vào thực hiện dự án; trong đó: Dự án Nhà
máy kết cấu bê tông, vật liệu xây dựng không nung của Tổng Công ty Công
nghiệp Xi măng Việt Nam đã giao đất đợt 1 cho chủ đầu tư; Dự án Nhà máy
Hoa Sen Nghệ An đã hoàn thành việc giải phóng mặt bằng, bàn giao cho chủ
đầu tư 37,5/38,5 ha (chỉ còn 01 ha chưa bàn giao). Dự án nhà máy nhiệt điện
Quỳnh Lập 1 hiện nay bắt đầu triển khai; Khu Công nghiệp, Đô thị VSIP 7 Nghệ
An hoàn thành việc chuyển mục đích đất lúa, bàn giao cho chủ đầu tư 48 ha và
đang tiến hành giải phóng diện tích còn lại của giai đoạn 1 (182 ha).
b. Trên địa bàn thành phố Vinh
Còn trên địa bàn Thành phố Vinh nói riêng, đặc biệt quan tâm đến công
tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm giải quyết dứt điểm những khó khăn,
vướng mắc kéo dài của các dự án. Nhờ vậy, công tác bồi thường, hỗ trợ tái định
cư đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn những năm trước.
Theo Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Vinh cho biết các dự án quan
trọng và có quy mô lớn trên địa bàn tỉnh vừa qua như:
Dự án Xây dựng Hồ Điều Hòa đoạn đi qua phường Hưng Dũng, xã Hưng
Lộc và xã Hưng Hòa do Ban quản lý tiểu dự án Phát triển đô Thị Vinh làm chủ
đầu tư với diện tích quy hoạch là 5,3 ha cơ bản đã giải quyết được 95% công tác
bồi thường, hỗ trợ GPMB, dự án đang góp phần tạo ra một điểm nhấn quan
trọng cho bức tranh đô thị tại thành phố Vinh; Dự án Quốc lộ 1A đoạn qua xã
Nghi Liên đã giải quyết xong, đạt trên 95% khối lượng, GPMB được khoảng
9,04 ha; Dự án Xây dựng Đài phát thanh truyền hình thành phố Vinh đã hoàn
thành việc bồi thường, hỗ trợ và GPMB đạt 98% khối lượng, đang trong bước
quy hoạch xây dựng.
Hiện nay, trên toàn tuyến ở thành phố Vinh, dự án đã thông tuyến 90%,
đặc biệt gói thầu đường 72m Vinh đi Hưng Tây, nhân dân thành phố Vinh đã bàn
giao toàn bộ mặt bằng cho thành phố, chỉ còn vướng mắc ở địa phận Hưng
16


Nguyên. Gói thầu đường 35m ven sông Lam cũng đã thông tuyến, ở các gói thầu
khác nhân dân thuộc diện đền bù đã nhận tiền chuẩn bị di dời. Chỉ còn vướng
mắc một số hộ dân ở xã Nghi Đức.
Qua quá trình điều tra tìm hiểu chúng tôi có nhận xét chung về công tác
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư một số dự án như sau (UBND thành phố Vinh
năm 2017, Báo cáo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020):
Thành phố Vinh là đô thị loại 1 thuộc tỉnh Nghệ An, Việt Nam, là trung
tâm kinh tế, chính trị của tỉnh và đã được Chính phủ Việt Nam quy hoạch để trở
thành trung tâm kinh tế - văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ.
Trong những năm gần đây thành phố Vinh thu hút được rất nhiều dự án
lớn nhỏ, công tác bồi thường GPMB cũng có những bước đột phá, cơ bản đã
hoàn thành và đáp ứng được tiến độ xây dựng của dự án. Thành phố Vinh đặc
biệt quan tâm đến công tác GPMB nhằm giải quyết dứt điểm những khó khăn,
vướng mắc kéo dài của các dự án. Nhờ vậy, công tác GPMB đã có nhiều chuyển
biến tích cực hơn những năm trước. Cụ thể như các dự án quan trọng và có quy
mô lớn trên địa bàn tỉnh vừa qua như:
Có 11 công trình, dự án trọng điểm do Trung ương và tỉnh làm chủ đầu
tư, gồm nhà ga hành khách - Cảng hàng không Vinh, đường 8A, 8B, Dự án xây
dựng cầu vượt quốc lộ 46 giao đường sắt Bắc - Nam; nâng cấp, mở rộng quốc lộ
1A và nút cầu vượt quốc lộ 1A; 14 công trình, dự án giao đất cho các đơn vị
hành chính, sự nghiệp. 23 công trình trọng điểm của Thành phố, điển hình như:
Đường Phong Định Cảng, Đường Nguyễn Kiệm, đường Lê mao kéo dài, đường
vào trung tâm xã Nghi Kim, Nghi Liên…vv. Dự án Xây dựng Hồ Điều Hòa
đoạn đi qua phường Hưng Dũng, xã Hưng Lộc và xã Hưng Hòa do Ban quản lý
tiểu dự án Phát triển đô Thị Vinh làm chủ đầu tư với diện tích quy hoạch là 5,3
ha cơ bản đã giải quyết được 95% công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB, dự án
đang góp phần tạo ra một điểm nhấn quan trọng cho bức tranh đô thị tại thành
phố Vinh; Dự án Quốc lộ 1A đoạn qua xã Nghi Liên đã giải quyết xong, đạt trên
95% khối lượng, GPMB được khoảng 9,04 ha; Dự án Xây dựng Đài phát thanh
truyền hình thành phố Vinh đã hoàn thành việc bồi thường, hỗ trợ và GPMB đạt
98% khối lượng, đang trong bước quy hoạch xây dựng…. Tuy nhiên, hiện nay,
Thành phố Vinh đang còn 27 dự án chưa hoàn thành công tác giải phóng mặt
bằng.
Việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Luật đất đai năm 2013 về bồi thường
GPMB, thu hồi đất theo đúng quy định của UBND tỉnh.
Về tiến độ thực hiện các Dự án đầu tư: Việc lãnh đạo chỉ đạo thực hiện
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất theo các văn
bản quy phạm pháp luật đất đai được thường xuyên quan tâm. Các dự án khi
17


1.3.

triển khai đều được thực hiện theo trình tự thủ tục vừa đảm bảo đúng quy định,
vừa đảm bảo tiến độ của dự án. Một số dự án thuộc nhà nước thu hồi đất triển
khai vẫn còn chậm một phần do chưa có kinh phí BTGPMB; mặt khác do người
dân chưa chấp thuận giá bồi thường nên ảnh hưởng đến tiến độ của dự án. Số dự
án thực hiện hoàn thành GPMB vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.
Một số văn bản pháp lý có liên quan
Các văn bản của nhà nước
Cơ sở pháp lý của đề tài là tất cả các văn bản liên quan đến công tác bồi
thường và hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, bao gồm những văn bản chính sau:
Luật đất đai 2013;
Hiến pháp năm 2013;
Nghị định số 43/2014/NĐ - CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013;
Nghị định số 47/2014/NĐ - CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy
định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số
44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về đất đai của Chính phủ;
Thông tư 37/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy
định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Các văn bản khác thể hiện tại phụ lục Tài liệu tham khảo.
Các văn bản của tỉnh Nghệ An
Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất được các cấp ủy Đảng, chính quyền hết sức quan tâm chỉ đạo tổ
chức thực hiện; UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành các văn bản:
Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND ngày 13 tháng 10 năm 2015, quy định
ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND ngày 8 tháng 9 năm 2014, quy định
ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND ngày 23 tháng 9 năm 2014, quy định
về ban hành Bảng đơn giá bồi thường cây trồng, vật nuôi là thủy sản và di
chuyển mồ mả trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Quyết định số 4522/QĐ-UBND-CN ngày 25/10/2011 về việc phê duyệt
Dự án Phát triển các đô thị loại vừa tại Việt Nam- tiểu dự án thành phố Vinh;
Các văn bản khác thể hiện tại phụ lục Tài liệu tham khảo.

18


Chương 2
Đánh giá công tác án bồi thường, hỗ trợ tái định cư tại dự án tu bổ, tôn tạo,
mở rộng di tích chùa Cần Linh và dự án nâng cấp, cải tạo hào xung quanh
thành cổ Vinh - đoạn qua phường Cửa Nam trên địa bàn thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố Vinh
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý

Ảnh 2.1: Sơ đồ vị trí thành phố Vinh
Thành phố Vinh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh
Nghệ An. Tổng diện tích tự nhiên của thành phố là 104,99 km2 bao gồm 16
phường và 9 xã. Trung tâm Thành phố cách thủ đô Hà Nội 295 km (về phía Bắc)
và thành phố Hồ Chí Minh 1.447 km (về phía Nam).
Phía Bắc và phía Đông giáp huyện Nghi Lộc;
19


Phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên;
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh.
Với vị trí địa lý của thành phố như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho
thành phố có thể tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, thu hút các nhà đầu tư
trong và ngoài nước để phát triển một nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Đồng thời
mở rộng liên kết kinh tế trong nước và thế giới đưa nền kinh tế của thành phố
Vinh nhanh chóng hòa nhập theo xu hướng phát triển chung của đất nước.
(UBND thành phố Vinh năm 2015, Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020).
b. Địa hình địa mạo
Thành phố Vinh nằm trong vùng đồng bằng ven biển, phía Nam là dòng
sông Lam. Điạ hình tương đối bằng phẳng, độ cao bình quân 3 - 5,6 m so với
mực nước biển. Vinh còn có núi Quyết nằm ven bờ sông Lam ở phía Đông Nam
thành phố. Núi dài trên 2 km, đỉnh cao nhất 101,50 m so với mực nước biển, đây
là địa danh gắn liền với Phượng Hoàng Trung Đô, với sự nghiệp lẫy lừng của
thiên tài quân sự Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung.
Nhìn chung, địa hình của thành phố tương đối bằng phẳng, là thuận lợi
lớn trong việc phát triển mạng lưới giao thông và xây dựng cơ sở hạ tầng phát
triển kinh tế xã hội. (UBND thành phố Vinh năm 2015, Báo cáo quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2020).
c. Khí hậu và thời tiết
Khí hậu của thành phố Vinh mang đặc trưng của miền khí hậu nhiệt đới
gió mùa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Thành phố 23 độ C - 24 độ C. Mùa
nóng từ tháng 5 đến tháng 9, tháng nóng nhất là tháng 7. Mùa lạnh từ tháng 10
đến tháng 4 năm sau, tháng lạnh nhất là tháng 1. Lượng mưa trung bình hang
năm của toàn Thành phố khoảng 2.000 mm. Lượng mưa chia làm hai mùa rõ rệt
mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô.
Nhìn chung khí hậu của thành phố Vinh thất thường, chịu ảnh hưởng của
nhiều hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như nắng nóng, bão lụt gây cản trở cho
việc sản xuất nông nghiệp cũng như xây dựng hạ tầng cơ sở kĩ thuật và đô thị
hóa, công nghiệp hóa và đời sống sinh hoạt của nhân dân.(Từ điển bách khoa
Việt Nam, ngày 20/8/2018).
d. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2003 thì thành phố Vinh có 3
nhóm đất chính sau:
+ Nhóm đất cát biển:
20


Diện tích đất cát biển trên địa bàn thành phố Vinh chiếm khoảng 6.039 ha,
chiếm 58% diện tích tự nhiên
+ Nhóm đất mặn:
Diện tích đất mặn trên địa bàn chiếm khoảng 1.756 ha, chiếm 17% diện
tích tự nhiên
+ Nhóm đất phù sa:
Nhóm đất phù sa có diện tích khoảng 2.663 ha, chiếm 25% diện tích tự
nhiên
Ngoài 3 loại đất chính trên, trên địa bàn Thành phố còn có 1 phần diện
tích đất xói mòn trơ sỏi đá (khoảng 41 ha), phân bố ở phường Trung Đô.
(UBND thành phố Vinh năm 2015, Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020).

2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Khái quát tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
* Tăng trưởng kinh tế
Với vị thế là đầu tàu tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nghệ An, trong những
năm qua nền kinh tế thành phố phát triển khá.
Năm 2017, giá trị sản xuất (tính theo giá cố định 2010) đạt 31.902,50 tỷ
đồng, tăng gấp 1,08 lần so với năm 2015 và tăng gấp 1,41 lần so với năm 2014.
Giá trị tăng thêm theo giá hiện hành năm 2017 đạt 19.569,20 tỷ đồng. Tổng vốn
đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2017 đạt 12.156 tỷ đồng, tăng 17,25% so với
năm trước.
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2014 - 2017 đạt 7,92%,
cao hơn nhịp độ tăng trưởng bình quân của cả tỉnh (7,89%). Giá trị gia tăng bình
quân đầu người/năm tăng từ 33,40 triệu đồng năm 2014 lên 56,30 triệu đồng
năm 2015, và đạt 62,00 triệu đồng/người năm 2017.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của Thành phố trong những năm qua đã chuyển dịch theo
hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng dịch vụ và giảm tỷ trọng các ngành công
nghiệp - xây dựng , nông - lâm - ngư nghiệp. Chuyển dịch kinh tế được thể hiện
tại bảng 4.1 như sau:
Bảng 2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Vinh 2014 - 2017
Chia ra các năm
Lĩnh vực
2014
2015
2016
2017
kinh tế
Tỷ đ
%
Tỷ đ
%
Tỷ đ
%
Tỷ đ
%
22.66
29.38
34.65
GDP
100
100 31.388
100
100
3
8
0
Nông 554 2,44
445 1,52
435
1,38
466 1,34
21


lâm - ngư
nghiệp
Công
nghiệp xây dựng
Dịch vụ

12.36
0

54,5
3

15.30
9

55,1
2

17.106

54,49

18.93
54,63
0

9749

43,0
1

13.03
7

43,3
6

13.037

44,13

15.25
44,02
4

(Nguồn: Báo cáo chính trị của ban chấp hành Đảng bộ thành phố Vinh khóa XXII;
Niên giám thống kê thành phố Vinh năm 2010-2017)

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - Lâm - Ngư
nghiệp giảm từ 1,97% năm 2014 xuống còn 1,52% năm 2015 và đến năm 2017
chỉ còn 1,34%; Công nghiệp - xây dựng từ 54,53% năm 2014 tăng 55,12% năm
2015 và đến năm 2017 tăng lên 54,63%; Ngành dịch vụ tăng từ 43,01% năm
2015 lên 43,36% năm 2015 và đến năm 2017 tăng lên 44,02 ha. Sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, phù hợp với đặc trưng đô thị, theo hướng
tăng tỷ trọng dịch vụ - thương mại, giảm tỷ trọng nông nghiệp.
b. Dân số và lao động, việc làm và thu nhập
* Dân số
Theo số liệu thống kê năm 2017, dân số trung bình của thành phố có
317.644 người, chiếm 10,29% dân số của cả tỉnh, mật độ dân số là 3.004
người/km2.
Dân số của thành phố phân bố không đều theo đơn vị hành chính. Phường
Hưng Dũng có dân số lớn nhất với 22.642 người, chiếm 7,18% dân số của cả
thành phố; Xã Nghi Đức có dân số thấp nhất với 6.077 người, chiếm 1,93% dân
số của cả thành phố. Mật độ dân số khu vực đô thị là 6.015 người/km2, cao gấp
4 lần mật độ dân số tại khu vực nông thôn (1.400 người/km2).
Bảng 2.2. Biến động dân số thành phố Vinh từ năm 2014-2017
Chia ra các năm
2014
2015
2016
2017
ST
Chỉ tiêu
Dân số Tỷ Dân số Tỷ
T
Dân số Tỷ lệ Dân số Tỷ lệ
(người
lệ
(người
lệ
(người) (%) (người) (%)
)
(%)
)
(%)
314.35
317.64
Tổng số 311.945
100 313.540 100
100
100
1
4
I Phân theo khu vực
Thành
68,8 216.39 68,8 219.81 67,1
1
214.802 68,86 215.905
thị
6
2
4
0
5
2 Nông
97.143 31,14 97.635 31,1 97.959 31,1 97.834 32,8
22


Thôn
II
1

Nam

2

Nữ

III

Tỷ lệ
tăng dân
số tự
nhiên
(%)

4
Phân theo giới tính
48,6 153.20
152.041 48,74 152.666
9
7
51,3 161.14
159.905 51,26 160.873
1
4

7,6

8,7

9,78

6

5

48,7 156.09
4
0
51,2 161.55
6
4

48,7
8
51,2
2

11,88

(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Vinh năm 2017)

Qua bảng cho thấy: Thành phố Vinh chiếm phần lớn dân số ở khu vực đô
thị, cơ cấu dân số đang có sự chuyển dịch từ khu vực thành thị sang khu vực
nông thôn (dân số khu vực nông thôn chiếm 31,24% năm 2014 lên 32,85% năm
2017).
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố trong những năm gần đây có sự
biến động không ổn định: Năm 2014 là 7,60‰; Năm 2017 là 11,88‰.
Trong những năm qua thành phố Vinh đã tích cực tuyên truyền, vận động
giáo dục kết hợp các biện pháp chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình. Thực
hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về dân số, gia đình và trẻ em. Tuy
nhiên, nhận thức của một bộ phận nhân dân trong việc thực hiện chính sách dân
số kế hoạch hóa gia đình chưa tốt nên tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn cao, đạt
8,00%. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em được quan tâm đúng mức; tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 11%.
* Lao động, việc làm và thu nhập
Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế tính đến 01/07/2017
của toàn thành phố có 266.783 người, (chiếm 84,57 % tổng dân số). Trong đó,
số lao động nữ là 139.645 người, chiếm 44,27% tổng số lao động.
Lực lượng lao động của thành phố Vinh có xu hướng tăng từ năm 2014
đến 2017. Phần lớn lực lượng lao động ở khu vực ngoài nhà nước; lực lượng lao
động làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn chiếm tỷ lệ rất thấp.
Bảng 2.3. Biến động lao động thành phố Vinh giai đoạn 2014-2017
ST Năm Tổng
Chia ra các khu vực
T
số lao
Khu vực có vốn
Khu vực nhà
Khu vực ngoài
động
đầu tư nước
nước
nhà nước
các
ngoài
khu
Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ Tổng số Tỷ lệ
23


vực
1
5
6

201 155.98
4
2
201
163260
5
201 164.43
7
4

lao
động
(Người)

(%)

lao động
(Người)

39.279

25,18

116.404

42.875

26,26

120.010

42.150

25,63

121.864

(%)
74,6
3
73,5
1
74,1
1

lao
động
(Người)

(%)

299

0,19

375

0,23

420

0,26

( Nguồn: Báo cáo chính trị của ban chấp hành Đảng bộ thành phố Vinh khóa XXII;
Niên giám thống kê thành phố Vinh năm 2017)

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng và tỷ lệ lao động thất nghiệp
có xu hướng giảm rõ rệt trong những năm gần đây, trong đó:
- Tỷ lệ lao động được đào tạo năm 2014 đạt 50%; năm 2017 là 60%.
- Tỷ lệ lao động thất nghiệp khu vực thành thị năm 2014 là 5,4%; đến năm
2015 là 5,38%; đến năm 2017 là 5,08%.
Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống của người dân tăng lên rõ rệt,
giá trị gia tăng bình quân đầu người/năm của Thành phố tăng nhanh qua các
năm: Năm 2014 đạt 33,40 triệu đồng, năm 2015 đạt 56,30 triệu đồng, năm 2017
đạt 62,00 triệu đồng. Tổng thu ngân sách qua các năm: 2014 là 1.974,00 tỷ
đồng, năm 2015 là 2.513,40 tỷ đồng, 2017 là 2.936,1 tỷ đồng. Khoảng cách về
thu nhập giữa các xã, phường đã được thu hẹp. Nhiều chỉ tiêu về xã hội ngày
càng được hoàn thiện, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn thành phố giảm từ 2,51% năm
2014 xuống còn 0,87% năm 2015 và 0,75% năm 2017 (theo chuẩn mới).
c. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Hiện trạng diện tích đất giao thông trên địa bàn thành phố là 1445,76 ha,
chiếm 26,12% đất phi nông nghiệp, có đầy đủ các loại hình như: Đường bộ,
đường sắt, đường không và đường thủy.
+ Hiện trạng các tuyến đường bộ
Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố bao gồm các tuyến
lớn như: Quốc lộ 1A; Quốc lộ 46; Quốc lộ 8B (cầu Cửa Tiền - Yên Xuân), tỉnh
lộ 535 (đường Vinh - Cửa Hội), đường ven sông Lam (nối Cửa Hội - Vinh Nam Đàn) là những tuyến giao thông huyết mạch, trọng điểm chạy qua địa bàn.
Ngoài ra, toàn thành phố có 288 tuyến giao thông nội đô thị đã được đặt
tên và hàng trăm tuyến đường nội bộ của các phường xã, khối xóm đã bê tông
hóa chưa được đặt tên. Tổng chiều dài các tuyến đường đã được đặt tên là
283,25 km. Trên địa bàn thành phố Vinh có 2 bến xe khách hoạt động dưới sự
quản lý của Công ty Cổ phần Bến xe Nghệ An, gồm Bến xe Bắc Vinh và Bến xe
24


chợ Vinh với quy mô trung bình, hiện vẫn đáp ứng được nhu cầu sử dụng và lưu
lượng xe xuất nhập bến hàng ngày.
Trong thời gian qua, thành phố đã và đang tập trung đầu tư các công trình
giao thông quan trọng, từng bước khẳng định chức năng đầu mối giao thông,
cửa ngõ của vùng như: Mở rộng nâng cấp quốc lộ 1A, các cầu vượt, đường 72m
nối Vinh - Hưng Nguyên. Nhiều tuyến giao thông nội thành được hoàn thành
như đường Phong Đình Cảng, Phạm Đình Toái, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Phong
Sắc, Nguyễn Viết Xuân, Lê Viết Thuật,…góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong
phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
+ Hiện trạng tuyến đường sắt
Hệ thống đường sắt thường xuyên được bảo trì, sửa chữa đảm bảo hoạt
động an toàn. Thành phố Vinh có 15km đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn.
Ga Vinh có quy mô xây dựng khá lớn, được xếp vào ga đường sắt loại II, lưu
lượng tàu về ga 9-10 chuyến/ngày, (cao điểm có 28- 30 chuyến tàu qua lại mỗi
ngày). Hiện ga Vinh là ga chung cho cả hàng hoá và hành khách nên có thời
điểm quá tải vào những dịp nghỉ, lễ tết.
+ Hiện trạng đường hàng không:
Sân bay Vinh nằm phía Bắc thành phố, trên địa bàn xã Nghi Liên, cách
trung tâm thành phố Vinh khoảng 6km về phía Bắc, cách cảng hàng không quốc
tế Nội Bài 250km về phía Nam, cách cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất
1.400km về phía Bắc. Là sân bay hạng IV, cảng hàng không Vinh được điều
chỉnh thành quy hoạch thành cảng hàng không quốc tế, xây dựng nâng cấp
khang trang, hiện đại, có lượng khách nội địa tăng trưởng cao nhất cả nước.
Cảng hiện có một đường cất hạ cánh dài 2.400 m, rộng 45 m. Ga hành khách của
sân bay Vinh có tổng diện tích sàn 11.706 m2, gồm 4 cửa ra máy bay, đáp ứng
1.000 hành khách giờ cao điểm, công suất khai thác 2,5-3,0 triệu hành
khách/năm.
Hiện có 07 tuyến bay nội địa, bao gồm: TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà
Nẵng, Buôn Mê Thuật, Đà Lạt (Lâm Đồng), Cam Ranh (Khánh Hòa), Pleyku
(Gia Lai) và tuyến đi quốc tế là Viên Chăn (Lào).
+ Hiện trạng đường thủy:
Thành phố Vinh có hệ thống giao thông đường thủy khá thuận lợi: Gồm
các bến cảng và đường sông. Trong đó, cảng Bến Thủy nằm ở hạ lưu Cầu Bến
Thủy, phía Đông thành phố Vinh, cách cửa Hội 12km về phía Đông Bắc. Cảng
có 2 luồng, 1 bến, cho tàu 2.000 tấn vào, ra. Năng lực vận tải 800.000 tấn/ năm.
Hiện nay, cảng Bến Thủy được di dời đến vị trí mới ở xã Hưng Hòa, theo đó
chức năng của cảng mới là cảng hàng hoá cấp II, có hệ thống kho bãi, nhà
xưởng, đường nội bộ bê tông, không còn là cảng cung ứng than và vật liệu xây
dựng như hiện nay. Ngoài ra, cảng dầu Hưng Hòa tại vị trí Km 19 sông Lam
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×