Tải bản đầy đủ

Bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế việt nam giai đoạn 2010 – 2014

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

Võ Chí Thoàn

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP
ngành nông nghiệp tỉnh Long An
giai
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT
đoạn ĐOẠN
2016 - 2020
NAM GIAI
2010 -2014
Người thực hiện: Tạ Văn Nguyễn Hoàng
Lớp: Cao học Quản lý kinh tế (Cần Thơ)
Giáo viên hướng dẫn: PGS – TS Nguyễn Quốc Tế


LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 9/2017
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2019


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

Võ Chí Thoàn

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
BẤT
NHẬP
Định BÌNH
hướngĐẲNG
chuyểnTRONG
dịch cơTHU
cấu kinh
tế
VÀ TĂNG
TRƯỞNG
TẾ VIỆT
ngành
nông nghiệp
tỉnh KINH
Long An
giai
NAM GIAI ĐOẠN 2010 -2014
đoạn 2016 - 2020
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8340410
Người thực hiện: Tạ Văn Nguyễn Hoàng
Lớp: Cao học Quản lý kinh tế (Cần Thơ)
TẾ Quốc Tế
Giáo viênLUẬN
hướngVĂN
dẫn:THẠC
PGS –SĨ
TSKINH
Nguyễn
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Hoàng Bảo

TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 9/2017
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2019


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng khóa luận tốt nghiệp luận văn “ Bất bình đẳng trong
thu nhập và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014” là bài làm
của riêng tôi.
Những kiến thức, số liệu sử dụng được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục
tài liệu tham khảo.

TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng 01 năm 2019
Người cam đoan

Võ Chí Thoàn

1


MỤC LỤC
Chương 1: Mở đầu .................................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề......................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 2
1.3. Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................... 2
1.4. Đối tượng, số liệu và phạm vi nghiên cứu ....................................................... 2
1.5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 2
1.6. Cấu trúc của bài luận văn ................................................................................. 3
Chương 2: Cơ sở lý luận về bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế. 4
2.1. Khái niệm thu nhập và thu nhập bình quân đầu người .................................... 4
2.2. Bất bình đẳng trong thu nhâp ........................................................................... 4
2.3. Các lý thuyết về bất bình đẳng trong thu nhập ................................................ 4
2.3.1 Tỷ lệ Q5/Q1 .................................................................................................... 5
2.3.2. Đường công Lorenz....................................................................................... 5
2.3.3. Hệ số GINI .................................................................................................... 6
2.3.4. Tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng thế giới.......................................................... 8
2.2. Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập ....................................... 8
2.5. Các vấn đề nảy sinh từ phân phối thu nhập ..................................................... 9
2.6. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế ....................................... 9
2.6.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế ...................................................................... 9
2.6.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế ...................................................................... 10
2.6.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ......................................... 11
2.6.3.1. Các nhân tố kinh tế ................................................................................... 11
2.6.3.2. Các nhân tố phi kinh tế............................................................................. 12
2.7. Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế .................................................................................................................... 13
2.7.1. Tác động tích cực của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh
tế.………………………………………………………………………………...14
2.7.2. Tác động tiêu cực của bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng kinh
tế............................................................................................................................16
2


2.8. Các nghiên cứu trên thế giới về bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế .................................................................................................................... 20
2.7. Các nghiên cứu trong nước về bất bình đẳng trong thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế .................................................................................................................... 25
2.8. Khung phân tích ............................................................................................. 28
Chương 3: Thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế ....... 30
3.1. Thực trạng của Việt Nam ............................................................................... 30
3.2. Tăng trưởng kinh tế ở các địa phương của Việt Nam. ................................... 36
3.3. Bất bình đẳng ở 63 tỉnh thành của Việt Nam ................................................. 40
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu..................................................................... 42
4.1. Nguồn số liệu ................................................................................................. 42
4.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 42
4.3. Kết quả nghiên cứu bất bình đẳng ở 63 tỉnh thành của Việt Nam ................. 43
4.3.1. Theo tương quan của hệ số Gini và thu nhập bình quân đầu người ở 63 tỉnh
thành của Việt Nam ............................................................................................... 43
4.3.2. Theo độ co giản hệ số Gini theo tăng trưởng kinh tế ở 63 tỉnh thành của
Việt Nam ............................................................................................................... 44
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách ............................................................. 50
Hạn chế của đề tài ................................................................................................. 52
Tài liệu tham khảo ................................................................................................. 53

3


DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒTHỊ
Hình 2.1: Đường cong Loren………………………………………...........5
Hình 2.2: Hệ số Gini……….……………………………………...............6
Hình 2.3: Đường cong Kuznets……………………………………….....14
Hình 3.1: Hệ số Gini của Việt Nam và các nước trên thế giới……….......36
Hình 3.2: Tương quan tăng trưởng ………………………….……….......37
Hình 3.3: Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người……….……….......38
Hình 3.4: Đường tăng trưởng thu nhập 2010 - 2012…………..…............39
Hình 3.5: Đường tăng trưởng thu nhập 2010 - 2014………………..........40
Hình 3.4: Tỷ lệ thu nhập bình quân…………….…………………...........40
Hình 3.6: Tỷ trọng thu nhập ……..……..……………………………......41
Hình 4.1: Tương quan hệ số Gini và thu nhập bình quân đầu người….....43
Hình 4.2: Độ co giản hệ số Gini theo tăng trưởng 2010-2012…….……..46
Hình 4.3: Độ co giản hệ số Gini theo tăng trưởng 2012-2014………........47

4


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

NHTG: Ngân hàng thế giới.
TCTK: Tổng Cục thống kê.
VHLSS: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam.

5


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, chênh lệch về thu nhập và sự gia tăng bất bình đẳng bắt nguồn từ
các nhân tố mang tính đặc trưng của nhóm dân số, sự khác biệt về địa lý, sự khác
biệt về các động lực tăng trưởng nông nghiệp và phi nông nghiệp giữa các vùng,
những thay đổi trong mô hình sản xuất từ mô hình nông nghiệp đến mô hình phi
nông nghiệp và từ công việc tay nghề thấp đến công việc có kỹ thuật cao. Thay
đổi về sản xuất phụ thuộc vào quy mô sản xuất của từng vùng, những thay đổi
này tương tác với các chênh lệch hiện tại giữa các vùng về nguồn lực con người
và yếu tố địa lý để thay đổi khả năng phân phối thu nhập tại Việt Nam. Các
nguyên nhân có thể đưa đến việc gia tăng bất bình đẳng: Theo quan điểm thị
trường quá trình phân hóa là tất yếu. Chủ thể thành công thì sẽ thịnh vượng và
giàu có và ngược lại. Theo quan điểm phát triển của không gian những nơi ở
trung tâm thì có điều kiện để hấp thu đầu tư và giàu có. Những nơi ở vùng ngoại
vi thì không thể thu hút đầu tư và sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Tiến trình đô thị
hóa đưa đến tăng năng suất, tăng hiệu quả, tăng cạnh tranh từ đó đưa đến tăng thu
nhập so với các địa phương khác ở vùng sâu vùng xa. Trình độ học vấn có tác
động đến sự phân hóa, người học vấn có trình độ trí óc có thu nhập cao hơn rất
nhiều so với thu nhập phổ thông.
Tăng trưởng kinh tế giữa những địa phương là khác nhau rõ rệt và cơ cấu phân
phối thu nhập giữa các địa phương cũng khác nhau. Vì thế, rất cần một nghiên
cứu đánh giá đầy đủ thực trạng của việc tăng trưởng kinh tế hướng tới phân phối
thu nhập ở các tỉnh, thành phố. Các nhà quản lý kinh tế ở trung ương và những
địa phương này cần biết rõ các chính sách phát triển kinh tế của mình có thực sự
hướng tới một xã hội với sự bình đẳng trong thu nhập hay chưa. Đâu là những địa
phương mà việc tăng trưởng kinh tế đã chuyển hóa đồng đều tới mọi tầng lớp dân
cư, và đâu là những địa phương phát triển kinh tế chỉ mang lại lợi ích cho một bộ
phận nhỏ dân cư nào đó. Đưa ra các đánh giá và giải pháp để cải thiện tình hình.

1


Do đó, tôi chọn đề tài Bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế Việt
Nam giai đoạn 2010 – 2014 để nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm hướng tới trả lời những câu hỏi sau:
Bất bình đẳng thu nhập ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố của bất bình đẳng thu nhập ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam.
Phân tích thực trạng bất bình đẳng trong thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam trong thời gian qua.
1.4. Đối tượng, số liệu và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là sự thay đổi của bất bình đẳng thu nhập của 63 tỉnh
thành phố trên cả nước.
Phạm vi đề tài dựa trên bộ số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
trong ba năm 2010, 2012 và 2014. Các số liệu tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tăng thu
nhập bình quân đầu người của những địa phương được lấy từ các báo cáo do tổng
cục thống kê công bố.
Đơn vị nghiên cứu là cấp tỉnh.
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu phân tích số liệu dựa trên việc mô tả và so sánh giữa
các tỉnh với nhau.
1.6. Cấu trúc của luận văn.
Cấu trúc của bài luận văn này gồm có 4 chương.
Chương 1: Mở đầu
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bất bình đẳng thu nhập và tăng
trưởng kinh tế.
2


Chương này có nhiệm vụ diễn tả các khía niệm về bất bình đẳng thu nhập,
tăng trưởng kinh tế. Tổng quan các tài liệu trước đó về các hình thức đo lường,
nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng thu nhập, các chiều hướng ảnh hưởng của bất
bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng kinh tế.
Chương 3: Thực trạng vấn đề về bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam.
Nội dung của chương này là để mô tả dữ liệu về tăng trưởng kinh tế và bất
bình đẳng thu nhập của các địa phương. Sự thay đổi về bất bình đẳng thu nhập ở
các địa phương từ 2010 đến 2014. Trình bày khai thác dữ liệu từ hai bộ dữ liệu
VHLSS2010 và VHLSS2014 của Tổng Cục thống kê cho nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích dữ liệu.
Mục tiêu của chương này là tiến hành phân tích, đo lường mức độ thay đổi bất
bình đẳng thu nhập theo tăng trưởng kinh tế ở các địa phương. Độ co giản của bất
bình đẳng thu nhập theo tăng trưởng kinh tế xác định xu hướng thay đổi của các
tiêu chuẩn đo lường mức độ bất bình đẳng. Tìm ra bằng chứng tác động ngược trở
lại của bất bình đẳng thu nhập tới phát triển kinh tế của các địa phương. Đo lường
các yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi phân phối thu nhập.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị.

3


CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
2.1. Khái niệm thu nhập và thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân,
doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất
định từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó. Thu nhập có thể gồm các
khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài sản, lợi nhuận kinh doanh.
Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng phản
ánh “mức thu nhập và cơ cấu thu nhập của các tầng lớp dân cư”. Chỉ tiêu này
dùng để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ sở cho
hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xóa đói, giảm
nghèo.
Thu nhập bình quân đầu người được tính bằng cách chia tổng số thu nhập
của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ.
Thu nhập bình quân
đầu người

=

Tổng thu nhập của hộ dân cư trong năm
(tính bằng VND)
Số nhân khẩu bình quân năm của hộ

2.2. Bất bình đẳng trong thu nhập.
Bất bình đẳng thu nhập đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phối
không đều giữa các cá nhân hoặc các hộ gia đình trong nền kinh tế. Để xem xét
mức độ bất bình đẳng thu nhập người ta thường dựa vào tỷ trọng thu nhập được
nhận bởi bao nhiêu phần trăm dân số. Bất bình đẳng thu nhập thường được gắn
với ý tưởng về sự không công bằng. Nếu như những người giàu nhận phần lớn
hơn đáng kể trong thu nhập quốc dân so với tỷ lệ trong dân số thì thường được
coi là không công bằng.
2.3. Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng
trưởng kinh tế.
Có rất nhiều thước đo bất bình đẳng thu nhập mỗi thước đo đều có những
ưu, nhược điểm chung. Luận văn này chỉ giới thiệu các thước đo phổ biến nhất.
4


2.3.1. Tỉ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu
nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất
(Q5/Q1).
Cách đơn giản nhất để đo lường bất bình đẳng về phân phối thu nhập là
thống kê sắp xếp các cá nhân theo mức tăng dần rồi chia tổng dân số thành các
nhóm. Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có
quy mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xem mỗi nhóm nhận được bao
nhiêu phần trăm của tổng thu nhập. Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia
đình thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận 20% thu nhập. Nếu tất cả thu nhập chỉ tập
trung vào một vài gia đình thì 20% gia đình giàu nhất sẽ nhận tất cả thu nhập và
các nhóm gia đình khác không nhận được gì.
Tất nhiên, nền kinh tế thực tế nằm ở đâu đó giữa 02 thái cực này. Một chi
tiêu đơn giản nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng về thu nhập là tỉ lệ giữa thu
nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của
nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1). Chỉ tiêu này dễ tính, đơn giản và dễ
sử dụng, chỉ tính thu nhập của hai nhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản
ánh được toàn cảnh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư.
2.3.2. Đường cong Lorenz.
tỉ trọng thu nhập
45

000

0
60

000

20

60

phần trăm dân số
có thu nhập

0

0

000
5

000

Hình 2.1 Đường cong Lorenz


Một cách phổ biến khác để phân tích số liệu thống kê về thu nhập cá nhân
là xây dựng đường Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz
(1905). Đường cong Lorenz được vẽ trong một hình vuông mà trục hoành biểu thị
phần trăm dân số có thu nhập, còn trục tung biểu thị tỉ trọng thu nhập của các
nhóm tương ứng. Đường chéo được vẽ từ tọa độ biểu thị tỉ lệ phần trăm thu nhập
nhận đúng bằng tỉ lệ phần trăm của số người thu nhập. Nói cách khác, đường
chéo đại diện cho sự công bằng hoàn hảo của phân phối thu nhập theo quy mô:
mọi người có mức thu nhập giống nhau. Còn đường Lorenz biểu thị mối quan hệ
định lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần
trăm thu nhập họ nhận được. Như vậy, đường cong Lorenz mô phỏng một cách
dễ hiểu tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm có thu nhập thấp nhất.
Đường cong Loren càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất
bình đẳng.
Đường Loren là một công cụ tiện lợi, giúp xem xét mức độ bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập thông qua quan sát hình dạng của đường cong. Tuy
nhiên, công cụ mang tính trực quan này còn quá đơn giản, chưa lượng hoá được
mức độ bất bình đẳng và do đó khó có thể đưa ra các kết luận chính xác trong
trường hợp phức tạp.
2.3.3. Hệ số Gini.
100%

% người thu
nhập cao

Lorenz
A
B
% người thu nhập thấp

100%

Hình 2.2 Hệ số Gini

6


N+1
GINI =

2
∑ƥ i Xi

N -1

N(N-1) µ

Trong đó
N là dân số
µ là chi tiêu bình quân đầu người
ƥ i là hạng biến thiên từ nghèo nhất đến giàu nhất
Xi là chi tiêu đầu người
Hệ số Gini, mang tên nhà thống kê học người Italia (C. Gini) được tính trên
cơ sở đường Loren. Đây là một thước đo tổng hợp về sự bất bình đẳng. Nó được
tính bằng tỉ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường cong Loren so
với tỉ tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó. Đó là tỉ lệ giữa
phần diện tích A so với tổng diện tích A+B.
Hệ số có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1. Hệ số Gini = 0 khi diện
tích A = 0, có nghĩa đường Loren và đường đường chéo trùng nhau, chúng ta có
bình đẳng tuyệt đối. Ngược lại, hệ số Gini = 1 khi diện tích B = 0 có nghĩa đương
Lorenz nằm xa đường chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối (một số ít
người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì).
Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình
đẳng thu nhập. Các quốc gia có mức bình đẳng thu nhập thấp khi Gini < 0,4; bất
bình đẳng thu nhập trung bình khi 0,4 ≤ Gini ≤ 0,5; và bất bình đẳng thu nhập cao
khi Gini > 0,5.
Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz, nó lượng hoá
được mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bình đẳng
thu nhập theo thời gian cũng như theo khu vực, vùng và quốc gia. Tuy nhiên,
thước đo này cũng hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A như
nhau nhưng sự phân bố của các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau (đường
Lorenz có hình dạng khác nhau).

7


2.3.4. Tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới.
Ngân hàng Thế giới (2003) đề xuất chi tiêu đánh giá tình trạng bất bình
đẳng tỉ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng số thu
nhập toàn bộ dân cư. Theo chỉ tiêu này có 3 mức độ bất bình đẳng cụ thể: Nếu tỉ
trọng này nhỏ hơn 12% là bất bình đẳng cao về thu nhập; trong khoảng từ 12% 17% có sự bất bình đẳng trung bình và lớn hơn 17% là bất bình đẳng thấp.
Các thước đo bất bình đẳng ở trên không chỉ tính theo thu nhập mà còn tính
theo chi tiêu hay sở hữu tài sản như đất đai. Bất bình đẳng có thể tính riêng cho
các vùng hay các nhóm dân cư.
2.4. Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng trong thu nhập.
Có nhiều lý thuyết được đưa ra nhằm giải thích hiện tượng bất bình đẳng
trong thu nhập. Nhìn chung có thể giải thích về bất bình đẳng trong thu nhập theo
hai hướng.
Thứ nhất: theo Mark ,thu nhập quốc dân được chia làm hai phần, phần thứ
nhất là tiền công người lao động, tiền công này chỉ đủ để người lao động trang
trải cho cuộc sống của bản thân và gia đình. Phần thứ hai là thu nhập của chủ
doanh nghiệp, địa chủ. Với phần thu nhập này, nhà tư bản chi tiêu cho bản thân
và gia đình nhưng vẫn dư ra một khoản để tiếp tục tái đầu tư mở rộng từ đó gia
tăng sản xuất và lợi nhuận tăng thêm. Người lao động vẫn chỉ đủ sống trong khi
đó nhà tư bản ngày một giàu thêm và gây nên tình trạng bất bình đẳng trong thu
nhập.
Thứ hai: chia nguyên nhân bất bình đẳng trong thu nhập thành hai nhóm:
Bất bình đẳng trong thu nhập trong phân phối thu nhập từ tải sản. Theo đó
trong nền kinh tế thị trường, các tài sản do các cá nhân nắm giữ sẽ mang lại thu
nhập cho họ tùy vào giá trị, giá thuê các tài sản đó mà thu nhập mang đến sẽ khác
nhau. Các tài sản này được hình thành chủ yếu từ việc thừa kế và tích lũy trong
quá khứ.

8


Bất bình đẳng phân phối thu nhập từ lao động. Mỗi lao động có những đặc
điểm tâm sinh lý, vốn kiến thức, vốn xã hội khác nhau, do đó công việc khác
nhau và thu nhập cũng sẽ khác nhau.
2.5. Các vấn đề nảy sinh từ phân phối thu nhập
Sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội và mức chênh lệch giàu nghèo bao
nhiêu thì được xem là bất bình đẳng. Trả lời cho câu hỏi này nhiều nhà kinh tế đã
xây dựng nên nhiều thước đo nhằm đánh giá bất bình đẳng trong thu nhập, trong
đó được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là hệ số Gini do Corrado Gini (1912) đề
xuất.
Bên cạnh đánh giá mức độ bất bình đẳng trong thu nhập, lý thuyết phân
phối thu nhập cũng hướng đến vấn đề nghèo đói và các nguyên nhân của nó.
Trường phái cổ điển và tân cổ điển đều cho rằng bất bình đẳng và sự nghèo đói là
tất yếu trong thị trường cạnh tranh. Trong khi đó, theo quan điểm mácxít thì cho
rằng đó là do việc bóc lột giá trị thặng dư của giới tư bản. Lý thuyết kinh tế phúc
lợi (1930) công nhận thất bại thị trường là nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo
và bất bình đẳng. Chính phủ có thể can thiệp theo hướng ưu tiên tăng trưởng theo
kiểu kinh tế nhà nước tư bản chủ nghĩa hoặc hướng tới bình đẳng xã hội theo kiểu
của các nước xã hội chủ nghĩa.
2.6. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng.
2.6.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc
tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân
trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào 2 quá trình: sự tích lũy tài sản (như
vốn, lao động và đất đai) và đầu tư những tài sản này có năng suất hơn. Tiết kiệm
và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng.
Chính sách chính phủ, thể chế, sự ổn định chính trị và kinh tế, đặc điểm địa lý,
nguồn tài nguyên thiên nhiên, và trình độ y tế và giáo dục, tất cả đều đóng vai trò
nhất định ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
9


Tăng trưởng là động lực thúc đẩy phát triển, là nhân tố quan trọng hàng đầu
và tạo điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội. Tăng trưởng theo chiều
rộng chủ yếu dựa vào tăng số lượng các yếu tố như lao động giản đơn, vốn, đất
đai, công nghệ thấp thì không thể phát triển bền vững và khó thực hiện tốt các
chính sách xã hội. Phát triển bền vững đòi hỏi tăng trưởng theo chiều sâu dựa vào
các nhân các nhân tố tăng sức sản xuất của lao động xã hội như nâng cao trình độ
của người lao động, ứng dụng khoa học kỹ thật công nghệ cao, cải tiến tổ chức
quản lý sản xuất, tăng hiệu suất của tư liệu lao động và tận dụng các nguồn tài
nguyên thiên nhiên.
2.6.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi mức sản lượng
quốc dân.
Yt - Y t-1
gt =

x 100%
Y

t-1

Trong đó
gt là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t
Y là GDP thực tế thời kỳ t.
GDP là thước đo được chấp nhận rộng rãi về mức sản lượng của nền kinh tế.
Ở đây, chúng ta nói GDP thực tế chứ không phải GDP danh nghĩa, có nghĩa là đã
loại bỏ sự biến động của giá cả theo thời gian. Thước đo này có thể gây nhầm lẫn
nếu như dân số tăng trong khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm.
Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế có thể tính theo sản lượng bình quân đầu người
được tính bằng tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong năm chia
cho dân số. Chính vì vậy, chỉ tiêu ý nghĩa hơn về tăng trưởng kinh tế được tính
bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ nghiên
cứu so với thời kỳ trước.
yt - y t-1
g-pe t =
y t-1

x 100%

g-pe t là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người.
10


y là GDP thực tế bình quân đầu người.
Mặc dù vậy, không phải quốc gia nào cũng khuyến khích tăng trưởng bằng
mọi giá. Có nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự tăng trưởng bằng những hy sinh
mà suy cho cùng là ảnh hưởng đến hàng loạt các mục tiêu. Chúng ta cần nhận
thức rằng tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải trả cho nó một cái giá nào đó.
2.6.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố bao gồm nhân tố kinh tế
và nhân tố phi kinh tế.
2.6.3.1. Các nhân tố kinh tế.
Các nhân tố kinh tế tác động đến tăng trưởng kinh tế là những nhân tố có tác
động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế bao gồm vốn, lao
động, tiến bộ công nghệ và tài nguyên thiên nhiên.
Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế. Vốn sản xuất có liên quan trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế được
hiểu là vốn vật chất chứ không phải dưới dạng giá trị (tiền). Nó bao gồm toàn bộ
tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế như nhà máy, thiết bị, máy móc,
nhà xưởng và các trang thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản
xuất. Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được trường phái Keynes đánh
giá rất cao, cụ thể thông qua mô hình Harrod-Domar.
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất. Trước đây, người ta
quan niệm lao động là yếu tố vật chất giống như vốn và được xác định bằng số
lượng lao động. Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn
mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động là vốn nhân lực. Đó là lao động có
kỹ năng sản xuất, có sáng kiến và phương pháp sản xuất. Hiện nay, tăng trưởng
kinh tế của các nước đang phát triển đóng góp bởi quy mô số lượng lao động, còn
vốn nhân lực có trình độ cao thì các nước này còn thấp.
Tiến bộ công nghệ là những nhân tố tác động ngày càng mạnh đến tăng
trưởng. Yếu tố công nghệ cần được hiểu theo hai dạng. Thứ nhất, đó là những
thành tựu kiến thức, tức nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu đưa ra các
nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay thiết bị kỹ
11


thuật. Thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu thử nghiệm vào
thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất. Vai trò của công
nghệ được nhà kinh tế đánh giá cao đối với tăng trưởng như Solow (1959) cho
rằng “toàn bộ tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn điều thu được nhờ
tiến bộ kỹ thuật”.
Tài nguyên bao gồm đất đai và các nguồn lực có sẳn trong tự nhiên. Các
nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, phong phú được khai thác và tạo điều kiện
tăng sản lượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát
triển. Nguồn tài nguyên là có hạn, không thể tái tạo được, hoặc tái tạo phải mất
rất nhiều thời gian, sức lực và chi phí. Do đó, tài nguyên thiên nhiên được đưa
vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm
bảo sử dụng có hiệu quả và không lãng phí. Sử dụng tài nguyên phải lựa chọ công
nghệ để sử dụng có hiệu quả tiết kiệm tài nguyên là vấn đề sống còn của phát
triển. Hiện nay, các mô hình tăng trưởng thường không nhắc đến nhân tố tài
nguyên với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng nữa.
2.6.3.2. Các nhân tố phi kinh tế.
Khác với nhân tố kinh tế, các nhân tố chính trị - xã hội, thể chế hay còn gội
là các nhân tố phi kinh tế có tác động gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế như nột số
nhân tố: vai trò của nhà nước, các yếu tố văn hóa – xã hội, thể chế, cơ cấu dân
tộc.
Nhà nước là yếu tố vật chất tác động đến quá trình tăng trưởng. Nhà nước
tạo khuôn khổ pháp lý không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn là yếu tố của cả đầu ra
trong quá trình sản xuất. Cơ chế chính sách có sức mạnh kinh tế thật sự bởi cơ
chế đúng có thể sinh ra vốn tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng. Ngược lại nhà
nước đưa ra cơ chế sai sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển kinh
tế.
Nhân tố dân tộc và tôn giáo: Một quốc gia càng đa dạng về thành phần dân
tộc và tôn giáo thì quốc gia càng có nguy cơ xung đột, bất ổn về chính trị. Những
xung đột và bất ổn về chính trị dẫn đến xung đột bạo lực gây lãng phí các ngồn

12


lực đáng lẻ ra phải sử dụng để thúc đẩy các mục tiêu khác cho quá trình phát
triển.
2.7. Các lý thuyết về tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng
trưởng kinh tế.
Sự liên kết giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế từ lâu đã trở
thành chủ đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm ở các nước phát triển
cũng như các nước đang phát triển. Nhiều nghiên cứu đã nỗ lực đưa ra lời giải
đáp cho câu hỏi lớn: Liệu các quốc gia có phải đối mặt với sự đánh đổi giữa giảm
bất bình đẳng thu nhập và cải thiện thành tựu tăng trưởng hay không, liệu bất
bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
hay không. Nếu có, thì hình mẫu cụ thể của mối quan hệ là gì và tại sao. Giả
thuyết về mối liên hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế rất nhiều
và đa dạng.
Nghiên cứu của Simon Kuznets (1955) với tiêu đề “Tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng thu nhập” được công bố trên Tạp chí Kinh tế Mỹ năm 1955 đã
đặt nền móng cho các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất
bình đẳng thu nhập. Ông là người đầu tiên giới thiệu ý tưởng về một liên kết giữa
bất bình đẳng và phát triển. Kuznets chỉ ra rằng sự phát triển liên quan đến sự
dịch chuyển dân số từ các hoạt động truyền thống đến các hoạt động hiện đại.
Quá trình dịch chuyển này của dân số từ tham gia sản xuất nông nghiệp chuyển
sang sản xuất công nghiệp cho phép Kuznets để dự đoán hành vi của bất bình
đẳng trong quá trình phát triển: “Tăng trưởng ở các nước phát triển gắn liền với
sự dịch chuyển khỏi nông nghiệp, một quá trình thường được gọi là công nghiệp
hóa và đô thị hóa. Do đó, trong mô hình đơn giản, phân phối thu nhập cho toàn bộ
dân số có thể được xem như là sự kết hợp giữa phân phối thu nhập cho người dân
ở nông thôn và đô thị. Những gì mà chúng ta quan sát thấy về phân phối thu nhập
trong hai khu vực đó là: (a) thu nhập bình quân đầu người của người dân ở nông
thôn thường thấp hơn so với ở đô thị; (b) bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
ở nông thôn thấp hơn so với đô thị. Với mô hình đơn giản này, chúng ta có thể
đưa ra những kết luận gì. Đầu tiên, với tất cả các điều kiện khác như nhau, tăng tỷ
trọng của dân cư đô thị không nhất thiết làm giảm tăng trưởng kinh tế: thực ra, có
13


một số bằng chứng cho thấy rằng tăng trưởng có thể cao hơn bởi vì năng suất
bình quân đầu người ở đô thị tăng nhanh hơn trong nông nghiệp. Nếu điều này
đúng, thì bất bình đẳng trong phân phối thu nhập tổng thể tăng lên. ”. Khi biểu
diễn mối quan hệ này trên đồ thị sẽ có dạng chữ U ngược. Vì vậy còn được gọi là
“lý thuyết chữ U ngược”.
Bất bình
đẳng thu
nhập
( hoặc
GINI)

Thu nhập (GDP/người)

Hình 2.3. Đường cong Kuznets

Ý tưởng chính trong nghiên cứu của ông là mối quan hệ giữa tốc độ
tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập có thể biểu thị bằng một hình chữ
U ngược. Điều này thường được biết đến trong các tài liệu kinh tế như là ‘giả
thuyết Kuznets’. Giả thuyết này cho rằng, ở mức thu nhập bình quân đầu người
thấp bất bình đẳng thu nhập tăng cùng với sự gia tăng của thu nhập bình quân đầu
người và chỉ giảm trong giai đoạn phát triển sau của quá trình công cuộc công
nghiệp hóa – tạo ra một mối liên kết hình chữ U ngược giữa thu nhập bình quân
đầu người và bất bình đẳng thu nhập – dựa trên một mô hình trong đó các cá nhân
di cư từ khu vực nông thôn có mức lương thấp và bất bình đẳng thu nhập thấp đến
khu vực đô thị được đặc trưng bởi bất bình đẳng thu nhập cao và thu nhập trung
bình cao.
Trong những thập kỷ gần đây, một loạt các lý thuyết khác đã được giới
thiệu để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng. Thay vì tập
trung vào giả thuyết của Kuznets, các nhà nghiên cứu đã đi sâu khảo sát tác động
của bất bình đẳng lên tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu có kết luận rất khác
nhau. Một số nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng có mối
quan hệ đánh đổi: chấp nhận bất bình đẳng nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn.
14


Trong khi đó, một số khác lại cho thấy bất bình đẳng có thể làm giảm tăng trưởng
kinh tế.
2.7.1. Tác động tích cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế
Quan điểm cho rằng bất bình đẳng thu nhập có thể ảnh hưởng tích cực
đến tăng trưởng kinh tế được dựa trên ba luận cứ cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã
hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với
mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn để có tăng trưởng
nhanh hơn (Mankiw, 2004). Lý do cơ bản là để lấy thu nhập của người giàu
chuyển cho người nghèo, chính phủ phải thực hiện các chính sách tái phân phối
thu nhập, ví dụ như thông qua hệ thống thuế thu nhập luỹ tiến và các chương trình
phúc lợi. Với các chính sách này, những người có thu nhập cao phải nộp một
phần lớn hơn trong thu nhập của họ cho chính phủ và những người nghèo nhận
được các khoản trợ cấp từ chính phủ. Điều này sẽ làm giảm động lực lao động và
gây ra tổn thất cho xã hội.
Nếu chính phủ lấy đi phần thu nhập tăng thêm mà một cá nhân nào đó có
thể kiếm được thông qua tăng thuế để trợ cấp, thì cả người giàu và người nghèo
sẽ có ít động lực lao động chăm chỉ hơn: người giàu sẽ không tích cực làm việc,
còn người nghèo dễ có tư tưởng ỷ lại, trông chờ đặc biệt khi thuế suất quá cao và
các chương trình phúc lợi quá hào phóng. Khi họ lao động ít hơn, tổng thu nhập
của toàn xã hội sẽ giảm, và phần thu nhập dành cho mỗi người cũng giảm. Do
vậy, Nhà nước phải cân đối giữa những lợi ích thu được từ sự bình đẳng hơn và
những thiệt hại do việc bóp méo các động cơ khuyến khích.
Luận cứ thứ hai là giả thuyết Kaldor, sau đó được Stiglitz (1969) chính
thức hóa, cho rằng xu hướng tiết kiệm biên của người giàu cao hơn so với người
nghèo. Nếu tốc độ tăng trưởng của GDP có quan hệ trực tiếp với tỷ lệ tiết kiệm so
với thu nhập quốc dân, thì nền kinh tế có phân phối bất bình đẳng hơn có thể để
tăng trưởng nhanh hơn so với các nền kinh tế phân phối thu nhập công bằng hơn.
Vì vậy, phân phối lại thu nhập từ người giàu cho người nghèo bằng cách đánh
15


thuế lũy tiến cao hơn sẽ làm giảm tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế với tư cách là
một tổng thể.
Theo lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, tiết kiệm là yếu tố then chốt quyết
định quá trình tích lũy tư bản và giảm tiết kiệm sẽ làm giảm tăng trưởng kinh
tế. Luận cứ cuối cùng ủng hộ cho quan điểm cần hy sinh mục tiêu công bằng
để nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn liên quan đến tính không thể chia cắt được
của đầu tư. Nếu các dự án đầu tư mới yêu cầu một khoản tiền ban đầu không có
các thị trường vốn hiệu quả cho phép tổng hợp các nguồn lực của các nhà đầu tư
nhỏ, thì phân phối sao cho tập trung được của cải sẽ hỗ trợ đầu tư mới và do đó
dẫn đến tăng trưởng nhanh hơn.
2.7.2. Tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng
kinh tế.
Cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy quan điểm trên đây của các nhà kinh
tế về việc chính phủ có thể chủ động chấp nhận bất bình đẳng thu nhập để thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế không phải được tất cả các nhà kinh tế ủng hộ. Ở một thái
cực khác, nhiều nhà kinh tế cho rằng bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh các nước đang phát triển. Họ
đưa ra một số luận cứ cơ bản sau đây:
Theo Todaro (1998), thu nhập thấp và mức sống thấp của người nghèo
dẫn đến chế độ dinh dưỡng, tình trạng sức khoẻ kém và ít được tiếp cận với hệ
thống giáo dục tiên tiến. Điều này làm giảm cơ hội tham gia hoạt động kinh tế và
năng suất lao động của họ, và vì thế trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng xấu tới quá
trình tăng trưởng. Do vậy, đầu tư vào giáo dục và y tế, đảm bảo người nghèo
được tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế công được coi là những biện pháp cần
thiết giúp người nghèo có cơ hội tìm việc làm với năng suất cao hơn và có thu
nhập tốt hơn. Trình độ lao động cũng ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng tăng
trưởng thông qua sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên tốt hơn. Bên cạnh đầu tư
vào con người, chính sách đầu tư công và giảm trợ cấp đối với các dịch vụ xã hội
cao cấp có lợi cho người giàu cũng có tác động giảm chênh lệch về thu nhập và
có lợi cho tăng trưởng.
16


Lý thuyết kinh tế chính trị được phát triển bởi các nhà nghiên cứu
Alesina và Rodrik (1994), Persson và Tabellini (1994) đưa ra lý giải về tác động
tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế. Lý thuyết này được
xây dựng trên ba cơ sở sau đây: (i) Chi tiêu nhằm mục tiêu tái phân phối và thuế
có tác động ngược chiều đến tăng trưởng do tác động tiêu cực của thuế đến tích
lũy tư bản; (ii) Các loại thuế có xu hướng tỷ lệ thuận với thu nhập nhưng lợi ích
của chi tiêu công nhìn chung được phân bổ đều cho tất cả các cá nhân. Hệ quả là,
mức thuế và chi tiêu công được cử tri ưa thích có mối quan hệ ngược với thu nhập
của họ. Người nghèo có xu hướng ưa thích sưu cao, thuế nặng và do đó được
hưởng lợi nhiều từ các chương trình chi tiêu công. Người giàu lại ưa thích thuế
suất thấp để giảm bớt phần đóng góp tài trợ cho các chương trình chi tiêu công;
(iii) Chính phủ lựa chọn chính sách được nhóm cử tri chiếm đa số ủng hộ. Trong
xã hội phân phối bất bình đẳng, thu nhập của nhóm cử tri chiếm đa số sẽ thấp hơn
mức thu nhập trung bình và họ có xu hướng ưa thích các chính sách phân phối lại
nhiều hơn và hệ quả là tăng trưởng kinh tế sẽ thấp hơn.
Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo được xây dựng bởi các
nhà nghiên cứu Galor và Zeira (1993), Aghion và Bolton (1997), Chiou (1998)
cho rằng trong những nước mà các chủ thể không được tiếp cận tự do với các
nguồn vốn vay, bất bình đẳng hàm ý rằng một tỷ lệ tương đối lớn của dân số sẽ
nằm dưới mức chi phí chuẩn của giáo dục. Do vậy, đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ
thấp và hệ quả là tăng trưởng cũng sẽ thấp. Sự phân phối lại sẽ làm tăng tổng sản
lượng và tăng trưởng bởi vì nó cho phép người nghèo có thể đầu tư vào nguồn
nhân lực của họ. Nếu nền kinh tế phát triển, thị trường vốn sẽ được hoàn thiện, và
những tác động liên quan tới sự không hoàn hảo của thị trường vốn sẽ đóng vai
trò quan trọng hơn ở những nước nghèo hơn là những nước giàu. Do vậy, những
tác động có thể dự báo của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sẽ lớn hơn về
mức độ đối với những nước nghèo. Lập luận về sự không hoàn hảo của thị trường
vốn cũng rất phù hợp để giải thích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ
đói nghèo. Trong khi bất bình đẳng không phải luôn có nghĩa rằng một tỷ lệ lớn
của dân số là quá nghèo để tiếp cận vốn, thì một tỷ lệ lớn của đói nghèo sẽ không
17


có nghi ngờ gì rằng có nhiều người hơn bị giới hạn về vốn. Chẳng hạn, bất bình
đẳng trong một nền kinh tế có thể cao trong khi cuộc sống của tất cả mọi người
dân trong nước được cải thiện. Do vậy, chúng ta có thể dự đoán một mối quan hệ
tiêu cực giữa tăng trưởng kinh tế và đói nghèo.
Lý thuyết bất ổn định về chính trị – xã hội được xây dựng bởi các công
trình nghiên cứu của Alesina và cộng sự (1996), Benhabib và Rustichini (1996),
Grossman và Kim (1996) nhấn mạnh hệ quả của bất bình đẳng thu nhập đến sự
bất ổn định chính trị và xã hội. Cụ thể, bất bình đẳng thu nhập là một nhân tố
quan trọng quyết định đến bất ổn về chính trị và xã hội và nó có tác động tiêu cực
đến tăng trưởng thông qua việc làm tăng rủi ro và giảm kỳ vọng về lợi ích từ đầu
tư. Bất bình đẳng thu nhập làm gia tăng xung đột xã hội và hệ quả là làm cho
quyền sở hữu tài sản ít được đảm bảo và làm giảm tăng trưởng. Hơn nữa, sự tham
gia của người nghèo vào tội phạm và những hành động chống đối xã hội là biểu
hiện của lãng phí trực tiếp nguồn lực vì chúng không đóng góp vào hoạt động sản
xuất. Những hoạt động phòng chống tội phạm tiềm năng cũng biểu hiện một sự
lãng phí nguồn lực khác nữa.
Theo lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng
bởi Perotti (1996), bất bình đẳng thu nhập có tác động tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế thông qua quyết định của các hộ gia đình về giáo dục và sinh đẻ. Bố mẹ
phải tối ưu việc sử dụng những nguồn lực của gia đình bằng cách cải thiện về
chất lượng (giáo dục) hoặc tăng quy mô gia đình (sinh nhiều con hơn). Do giáo
dục có chi phí tương đương với những thu nhập kiếm được mà họ mất đi khi ở
trường, các gia đình nghèo sẽ không đầu tư vào giáo dục và thay vào đó là vào số
lượng con cái. Tuy nhiên, tăng trưởng được thúc đẩy bởi sự đầu tư vào nguồn
nhân lực, do vậy một xã hội có bất bình đẳng cao sẽ thể hiện một số lượng lớn
những gia đình nghèo đầu tư vào số lượng hơn là vào giáo dục. Bùng nổ dân số sẽ
dẫn đến thu nhập bình quân đầu người thấp hơn.
Lý thuyết so sánh xã hội của Knell (1998) giải thích rằng sự liên kết
giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập có thể mạnh hơn ở các nước
giàu. Ông đưa ra một mô hình được xây dựng trực tiếp từ Bénabou (1996) trong
18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×