Tải bản đầy đủ

Giai cấp công nhân ở Việt Nam hiện nay : Thực trạng và một số vấn đề đặt ra

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU..........................................................................................................1
NỘI DUNG...............................................................................................................1
I. Khái niệm giai cấp Công Nhân...........................................................................1
1. Định nghĩa............................................................................................................1
2. Những đặc điểm cơ bản của giai cấp công nhân................................................2
II. Giới thiệu chung về sự ra đời, đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam.........2
III. Phân tích thực trạng và vấn đề đặt ra đối với đội ngũ công nhân của nước
ta hiện nay................................................................................................................4
1.Thành tựu:.............................................................................................................4
2. Cơ cấu thành phần:..............................................................................................4
3. Số lượng:...............................................................................................................5
4.Về chất lượng:.......................................................................................................5
IV.Những hạn chế của đội ngũ công nhân hiện nay:............................................6
1. Về số lượng:..........................................................................................................6
2. Về cơ cấu:.............................................................................................................6
3.về văn hoá..............................................................................................................6
4.Thu nhập................................................................................................................7
5.Sức khẻo người lao động......................................................................................7
6. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này.................................................................8
V.Những vấn đề đặt ra với đội ngũ công nhân nước ta hiện nay:.......................8

VI. Giải pháp để phát triển giai cấp công nhân Việt Nam...................................9
KẾT LUẬN.............................................................................................................11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………….13
PHỤ LỤC...............................................................................................................14

0


LỜI NÓI ĐẦU
Khi đánh giá về vị trí vai trò của các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động
trong sản xuất, V.I.Leenin đã khẳng định “trong thời đại ngày nay lực lượng sản
xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” . Ở Việt
Nam, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là lực lượng chủ đạo và
tiên phong của xã hội trong thời kì phát triển bước ngoặt hiện nay của cách mạng
Việt Nam. Với ý nghĩa như vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân
trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của nước ta hiện nay
là nhiệm vụ cấp thiết và quan trọng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn
đề 07 là bài tập lớn của mình “ Giai cấp công nhân ở Việt Nam hiện nay : Thực
trạng và một số vấn đề đặt ra”.
NỘI DUNG
I. Khái niệm giai cấp Công Nhân
1. Định nghĩa
Công nghiệp ngày càng hiện đại và nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển
với trình độ xã hội hoá, quốc tế hoá cao và rộng lớn; là lực lượng sản xuất cơ bản
và tiên tiến của thời đại hiện nay; là giai cấp thống trị về chính trị,giai cấp lãnh
đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh lật đổ ách t¬ư bản, trong sự nghiệp sáng tạo
ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp..
Từ cách tiếp cận như vậy có thể định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam như
sau:  Giai cấp côngnhân là một tập đoàn người ổn định, hình thành và phát triển
gắn liền với nền sản xuất nhân Việt Nam là một tập đoàn người, mà lao động của
họ gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp hiện đại, thu thập chủ yếu
của họ bằng làm công ăn lương; là lực luwowgj sản xuất chủ yếu và là lực lượng
lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với sản xuất phát triển
tri thức vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
1


2. Những đặc điểm cơ bản của giai cấp công nhân
Là giai cấp của những người lao động sản xuất vật chất là chủ yếu (với trình
độ trí tuệ ngày càng cao, đồng thời cũng ngày càng có những sáng chế, phát minh
lý thuyết được ứng dụng ngay trong sản xuất).
Có lợi ích giai cấp đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản (giai cấp
công nhân: xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và
làm chủ xã hội. Giai cấp tư sản không bao giờ tự rời bỏ những vấn đề cơ bản đó).
Do vậy, giai cấp công nhân có tinh thần cách mạng triệt để.
Là “giai cấp dân tộc”vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu
trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.Có hệ tư tưởng riêng của giai cấp mình:
đó là chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,
đồng thời hệ tư tưởng đó dẫn dắt quá trình giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh
lịch sử của mình nhằm giải phóng xã hội, giải phóng con người. Giai cấp công
nhân ở Đảng tiên phong của mình là Đảng Cộng Sản (Đảng Mác-Lênin). Bất kỳ
giai cấp công nhân nước nào, khi đã có đảng tiên phong của nó, đều có những
đặc điểm cơ bản, chung nhất đó. Do vậy, giai cấp công nhân mỗi nước đều là một
bộ phận không thể tách rời giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Vì vậy chủ
nghĩa Mác-Lênin mới có quan điểm đúng đắn về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới
cùa giai cấp công nhân.
II. Giới thiệu chung về sự ra đời, đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam
Là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp,
lớp công nhân đầu tiên xuất hiện gắn liền với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất (1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt nam từ thời kỳ khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp lần thứ hai (1924-1929). Cùng với quá trình
phảt triển của cách mạng, giai cấp công nhân Việt Nam sớm trở thành bộ phận
của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế. Ngoài những đặc điểm chung của giai
cấp công nhân quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam còn có đặc điểm riêng:

2


Thứ nhất: Sinh ra và lớn lên từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến,
có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc, dù còn non trẻ, nhỏ bé, song giai
cấp công nhân đã sớm trở thành giai cấp duy nhất được lịch sử, dân tộc thừa nhận
và giao phó sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ sau các phong trào cứu
nước theo lập trường Cần Vương, lập trường tư sản và tiểu tư sản thất bại.
Thứ hai: Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, vừa mới lớn lên, đã tiếp thu
chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân quốc tế, nhanh chóng
trở thành lực lượng chính trị tự giác và thống nhất, được Chủ tịch Hồ Chí Minh
giáo dục, đã sớm giác ngộ mục tiêu lý tưởng, chân lý của thời đại: độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân Viêt Nam luôn có tinh thần và
bản chất cách mạng triệt để.
Thứ ba: Giai cấp công nhân nước ta xuất thân từ nông dân lao động, bị thực
dân phong kiến bóc lột, bần cùng hóa nên có mối quan hệ máu thịt với giai cấp
nông dân và các tầng lớp lao động khác. Qua thử thách của cách mạng, liên minh
giai cấp đã trở thành động lực và là cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân
tộc.
Thứ tư: Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, giai cấp công nhân Việt Nam
luôn phát huy bản chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực
lượng đi đầu và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá xây dựng và phát triển nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế
tri thức hiện đại.
Thứ năm: Quá trình “trí thức hoá” giai cấp công nhân diễn ra mạnh mẽ, từng
bước hình thành giai cấp công nhân trí thức Việt Nam.
Việc hình thành giai cấp công nhân trí thức không có nghĩa là sự bổ sung vào
lực lượng giai cấp công nhân những công nhân có trình độ cao mà là giai cấp
công nhân được nâng cao về trình độ và có sự thay đổi về tính chất lao động- lao
động điều khiển những công nghệ tự động hoá của nền kinh tế tri thức.

3


III. Phân tích thực trạng và vấn đề đặt ra đối với đội ngũ công nhân của
nước ta hiện nay
1.Thành tựu:
Đánh giá về giai cấp công nhân sau hơn 20 năm đổi mới,trong Nghị Quyết
Hội Nghị TW 6 Đảng ta khẳng định: “Qua hơn 20 năm đổi mới,cùng với quá
trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước,giai cấp công nhân nước ta đã có
những chuyển biến quan trọng,tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất
lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí
thức, đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo thông qua đội tiên phong
là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng
CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế
quốc tế, có nhiều cố gắng để phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trong liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Trong những năm đổi mới vừa qua, giai cấp công nhân nước ta đã có
những bước phát triển tích cực, mạnh mẽ, đang tăng nhanh về số lượng, ngày
càng đa dạng về cơ cấu, đồng thời chất lượng đội ngũ được nâng lên, mà một
biểu hiện là đã xuất hiện bộ phận công nhân trí thức; là lực lượng sản xuất cơ
bản, đang trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, vận
hành, sử dụng các công cụ, phương tiện sản xuất tiên tiến, hiện đại, có vai trò
quan trọng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội
nhập kinh tế quốc tế. Cùng với các giai cấp, giai tầng khác trong khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, giai cấp công nhân đã có đóng góp to lớn vào quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2. Cơ cấu thành phần:
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, giai cấp công
nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang có những phát triển mới. Đội
ngũ đó bao gồm, những người lao động chân tay và trí óc (công nhân áo trắng) ,
làm công hưởng lương trong các loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và
dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công
4


nghiệp. Do đó giai cấp công nhân vẫn là một khối thống nhất, chiếm vị trí quan
trọng trong việc tạo ra của cải vật chất
3. Số lượng:
+ Trước cách mạng tháng 8 số lượng công nhân rất ít
+ Sau 1954 : tăng số lượng công nhân công nghiệp nặng.
+ Từ khi đổi mới ngành kinh tế hướng về xuất khẩu, nhiều thành phần kinh
tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do đó số lượng công nhân ngày càng tăng
4.Về chất lượng:
Chất lượng công nhân được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu văn hóa: Còn hạn chế nhưng so với trước đổi mới đã tiến bộ rất
nhiều. Hơn 20% đạt trình độ đại học,cao đẳng.
Về chuyên môn kỹ thuật : 30% lao động có tay nghề, 7 đến 8 triệu công nhân
có trình độ từ trung cấp nghề trở lên.
Về mức sống thu nhập: thu nhập tương đối có bước phát triển hơn thời kỳ
trước đổi mới. Lương của công nhân ở doanh nghiệp nhà nước trung bình từ 1,2
đến 1,5 triệu đồng 1 tháng,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ 1 triệu đến
1,2 triệu đồng 1 tháng, còn doanh nghiệp tư nhân thấp hơn 1 chút.
Về nhận thức: Có nhận thức tốt hơn, biết đầu tư cho công việc của mình, có
ý thức về nghề nghiệp, chính trị.
Tuổi thọ công nhân ở Việt Nam còn rất ngắn, tuy nhiên sau đổi mới đời sống
công nhân đã được nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Sự tăng trưởng và đa
dạng hóa về số lượng và chất lượng,cơ cấu ,sự phát triển của về chất lượng của
giai cấp công nhân vừa là kết quả,vừa là động lực thúc đẩy quá trình đổi mới kinh
tế - xã hội đạt được những thành tựu quan trọng trong những năm qua. Song,

5


trước những yêu cầu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa,hiện đại hóa thì giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay.
IV.Những hạn chế của đội ngũ công nhân hiện nay:
1. Về số lượng:
So với yêu cầu về phát triển đất nước,số lượng công nhân còn hạn chế.
2. Về cơ cấu:
Chủ yếu là công nhân trong các ngành công nghiệp trực tiếp sản xuất do đó
năng suất các ngành này còn thấp, cơ cấu ngành nghề bất hợp lý, công nhân chủ
yếu trong các doanh nghiệp nhà nước, thiếu sự đa dạng.
3.về văn hoá
So với yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trình độ của công
nhân còn thấp( 16% đai học, cao đẳng), phần lớn công nhân làm việc co’ tính
chất phổ thông, chưa có tay nghề kỹ thuật cao.
Mặt khác đại đa số công nhân nước ta kể cả đội ngũ công nhâncông nghiệp
vốn xuất phát hoặc có nguồn gốc xuất thân từ giai cấp nông dân.trong hoàn cảnh
đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, họ chịu ảnh hưởng khong nhỏ của
những thói quen của một nền sản xuất nhỏ, tác phong lao động do đó còn tùy
tiện, tản mạn và phân tán. Trong khi đó, nền công nghiệp hiện đại đòi hỏi rất cao
về tính tổ chức, kỉ luật, tính khẩn trương công nghiệp. Chính những điều này
đang tạo ra những trở ngại rất lớn trong phát huy nguồn lực con người trước hết
từ đội ngũ công nhân công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay ở nước ta.
Sự xóa bỏ cơ chế quản lý quan liêu tập trung, bao cấp, sự tăng trưởng kinh tế
trong thời gian qua đã taọ ra những điều kiện cải thiện rõ rệt công ăn việc làm,
đời sống vật chất và tinh thần cho người công nhân. Tuy nhiên về vấn đề việc làm
tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn còn tồn tại
6


4.Thu nhập
Các cuộc nghiên cứu cho thấy hiện nay thu nhập của công nhân còn thấp mới
chỉ đáp ứng cuộc sống thường nhật của bản thân và gia đình, chứ có tích luỹ nên
khi cổ phần hoá người công nhân không đủ tiền để mua cổ phần, những cổ phần
ưu đãi cho người công nhân sẽ bị họ bán ngay cho người khác và dấn đến tiếng
nói của công nhân trong các doanh nghiệp này cũng bị yếu đi.
Hầu hết công nhân phải làm việc vất vả, cường độ lao động cao, thời gian
làm việc kéo dài, song dường như tiền công, tiền lương của họ lại chỉ dừng ở
mức khá thấp so với mức sống, mức chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày. Gần như
không có sự chênh lệch đáng kể về thu nhập của công nhân giữa các loại hình
doanh nghiệp, ngành nghề, lĩnh vực.
5.Sức khẻo người lao động
Sức khoẻ của người lao động còn rất hạn chế chưa được quan tâm đầy
đủ.Tính kỉ luật lao động không ccao ,tuổi thọ nghề nghiệp ngắn, ít có sự kế thừa.
Về điều kiện của đời sống công nhân: Chậm phát triển, chưa được cải thiện, thời
gian làm việc nhiều, tăng ca liên tục nhưng tiền lương trả cho người lao động
không được đáp ứng đúng qui định.
“tăng ca và tăng giờ làm” Thời gian làm việc, nghỉ ngơi cũng là một trong
những quy định pháp luật chưa được nghiêm túc thực hiện ở nhiều doanh nghiệp,
nhất là vào dịp cuối năm, những đợt cần giao hàng, những đợt cần hoàn thành
gấp đơn đặt hàng. Việc tăng thời gian làm thêm giờ xuất phát từ cả hai phía: công
nhân sẵn sàng làm thêm giờ để mong tăng thu nhập, người sử dụng lao động
muốn tăng thêm giờ nhằm tăng sản lượng nhưng không phải đầu tư thêm cơ sở
vật chất, không phải tuyển dụng thêm lao động
“hạn chế về điều kiện làm việc” Do trình độ phát triển khoa học, công nghệ
nước ta còn thấp, tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp còn hạn chế, nên đầu tư
cho cải thiện điều kiện lao động chưa được nhiều, chưa cơ bản, còn chắp vá.

7


Do vậy, điều kiện làm việc của công nhân nước ta còn kém, nhất là ở khu
vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tình trạng công nhân phải lao động thủ công,
nặng nhọc, làm việc với các máy móc, thiết bị cũ, lạc hậu chiếm tỷ lệ cao, công
nhân phải làm việc trong môi trường độc hại, nóng, bụi, tiếng ồn, độ rung vượt
tiêu chuẩn cho phép và không bảo đảm an toàn vẫn diễn ra rất phổ biến ở các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
Hiện nay, có tới gần 40% các doanh nghiệp có điều kiện làm việc ở mức bình
thường và kém, khoảng 23,5% doanh nghiệp có môi trường vệ sinh lao động ở
mức trung bình và kém. Việc trang bị các phương tiện bảo hộ lao động chưa được
các doanh nghiệp quan tâm đúng mức, còn khoảng 22,1% công nhân không được
trang bị đầy đủ, hoặc không được trang bị phương tiện bảo hộ lao động. Việt
Nam có 132.139 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó có 6.758.149 công
nhân, (lao động nữ chiếm 43,63%). Chỉ có 64,6% số công nhân được làm việc
đúng với chuyên môn đào tạo của mình.
6. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này
Nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là: chủ trương lãnh đạo của Đảng
đối với việc xây dựng giai cấp công nhân chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa
ngang tầm với vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ mới. Nhà nước
tuy đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật chăm lo đến việc làm, đời sống, đào
tạo nghề cho công nhân, nhưng việc tổ chức thực hiện chưa thật tốt; còn nhiều
hạn chế, yếu kém trong bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của giai cấp công
nhân.
V.Những vấn đề đặt ra với đội ngũ công nhân nước ta hiện nay:
Ở nước ta hiện nay, cơ chế thị trường đang hình thành dần dần và từng bước
hoàn thiện nên không tránh khỏi tình trạng hệ thống công cụ quản lí chưa hoàn
chỉnh; tổ chức, thể chế chưa đồng bộ,hệ thống chính sách chưa hoàn toàn hợp lí,
hệ thống pháp luật chưa đầy đủ và thiếu nhất quán.Chính cự bất cập của các yếu

8


tố này đã gây ra trở ngại không nhỏ trong việc phát triển đội ngũ công nhân của
nước ta hiện nay qua các biểu hiện cơ bản sau:
Một là, phân phối chưa công bằng dẫn đến không đảm bảo về lợi ịch của
người lao động.
Hai là, tình trạng thụ động, ỷ lại của người lao động vẫn chưa được khắc
phục cơ bản.
Ba là, lợi ích chính đáng của một bộ phận người lao động có lúc,có nơi còn
bị xâm phạm nghiêm trọng ở nhiều đơn vị, người sử dụng lao động đã nợ lương,
trốn đóng bảo hiểm xã hội, buộc ngươì lao động tăng giờ, tăng ca quá quy định…
Thì phát sinh đình công là không thể tránh khỏi. Trong thực tế,sau hi xảy ra các
cuộc đình công có đông người tham gia, người sử dụng lao động thường mời các
cơ quan lao động - thương binh và xã hộ cùng tổ chức công đòan đến can thiệp;
đứng trước phân tích những sai phạm, người sử dụng lao động đã buộc phải giải
quyết những yêu sách của người lao động.
Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động, đồng thời cũng đảm bảo
lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, ở các doanh nghiếp thuộc mọi
thành phần kinh tế đều cần phải có tổ chức công đoàn để một mặt bảo vệ lợi ich
hợp pháp của người lao đông, chống lại sự vi phạm của người sử dụng lao động,
mặt khác vận động người lao động cùng với người sử dụng lao động nâng cao
hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của toàn bộ nền
kinh tế khi mà việc cam kết hội nhập ngay một sâu, rộng hơn.
Bốn là, tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ công chức.
VI. Giải pháp để phát triển giai cấp công nhân Việt Nam.
Để khắc phục tình trạng thiếu việc làm, nâng cao thu nhập cho công nhân lao
động cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trước mắt, chúng ta cần quan tâm
đến một số giải pháp trực tiếp:

9


Một là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ công
nhân. Tăng cường đầu tư các nguồn lực để đào tạo, đào tạo lại đội ngũ công nhân
đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu công nhân, với đội
ngũ công nhân có trình độ cao, biết ứng xử linh hoạt và sáng tạo trong lao động,
sản xuất và trong đời sống xã hội, làm chủ được công nghệ tiên tiến, đặc biệt coi
trọng xây dựng, phát triển đội ngũ công nhân lành nghề.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương, đặc biệt là công tác xây dựng
thang bảng lương, công tác tổ chức tiền lương trong các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và phân phối
theo sự đóng góp của mỗi người, để bảo đảm đời sống cho công nhân và gia đình
họ.
Ba là, tổ chức thực hiện nghiêm Luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Pháp
lệnh Bảo hộ lao động. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện
chính sách, pháp luật, kiên quyết xử lý nghiêm những vi phạm chính sách, pháp
luật, nhất là chính sách, pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích của công nhân. Có
chính sách cụ thể chăm lo, cải thiện điều kiện lao động, phòng chống có hiệu quả
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc tốt sức khỏe công nhân, nhất là
đối với công nhân nữ, những công nhân làm việc nặng nhọc, độc hại.
Bốn là, xây dựng, hoàn thiện chính sách nhà ở và chính sách khuyến khích
đẩy mạnh đầu tư phát triển nhà ở cho công nhân, lao động theo hướng: Nhà nước
miễn giảm thuế đất cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư xây dựng nhà ở cho công
nhân, cho phép các doanh nghiệp đầu tư xây nhà ở cho công nhân được tính vào
giá trị đầu tư..., Nhà nước và doanh nghiệp cùng góp vốn, huy động thêm vốn của
công nhân để xây dựng nhà bán trả góp cho công nhân hoặc cho công nhân thuê.
Đồng thời, nghiên cứu chính sách hỗ trợ về nhà ở cho những gia đình công nhân
nghèo, chính sách xây dựng khu gia đình tập thể công nhân, nhằm bảo đảm cho
công nhân có nơi ở ổn định, an toàn, góp phần tái tạo sức lao động, xây dựng môi
trường sống lành mạnh và đời sống văn hóa trong công nhân.

10


Năm là, xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh góp phần bảo vệ quyền lợi
chính đáng của công nhân về việc làm và thu nhập. Công đoàn phải đổi mới
mạnh mẽ tổ chức và hoạt động, kiên quyết khắc phục những phương pháp hoạt
động xơ cứng và hiện tượng "hành chính hóa trong tổ chức, hoạt động. Đa dạng
hóa các hình thức vận động tập hợp quần chúng, để thu hút, động viên được ngày
càng đông đảo công nhân trong các thành phần kinh tế vào công đoàn và tự giác
tham gia hoạt động công đoàn. Công đoàn phải hướng mạnh hoạt động về cơ sở,
lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động chủ yếu, lấy công nhân, viên chức, lao động làm
đối tượng vận động, tập hợp, lấy chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính
đáng của công nhân viên chức lao động để xây dựng quan hệ lao động hài hòa,
ổn định góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội làm mục tiêu hoạt động. Đẩy
mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hoạt
động cho cán bộ công đoàn, xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn có năng lực,
trình độ, có phẩm chất, đạo đức và bản lĩnh, có nhiệt tình và tâm huyết với hoạt
động công đoàn, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, góp phần tạo
nhiều việc làm và nâng cao thu nhập và đời sống công nhân, lao động.
KẾT LUẬN
Thực tiễn và truyền thống cách mạng Việt nam cho thấy giai cấp công nhân
trong mọi hoàn cảnh và đặc biệt, trong những thời điểm bước ngoặt của lịch sử
luôn là cơ sở quan trọng nhất của Đảng, là nguồn lực bổ sung sinh lực cho Đảng.
Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, khi chúng ta đang xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều thành phần kinh tế cùng
tồn tại, phát triển và được bảo vệ, dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội, sự phân
tầng ngay trong nội bộ giai cấp công nhân với những lợi ích khác nhau, và cùng
với đó là mặt trái của kinh tế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động vào
cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung và nhất là giai cấp công
nhân nói riêng. Trong khi đó, thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ dưới tác động
của cách mạng khoa học và công nghệ, của xu hướng toàn cầu hóa, sự phụ thuộc
lẫn nhau trong cộng đồng quốc tế về kinh tế, chính trị, sự phát triển mạnh mẽ của
kinh tế tri thức, thúc đẩy nhanh quá trình trí thức hóa lao động công nghiệp, dịch
11


vụ. Những xu thế đó đã tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển,
mở ra những thuận lợi, cơ hội mới và cũng đặt ra những khó khăn, thách thức
mới cho giai cấp công nhân hiện đại ở Việt Nam. Nhìn chung từ khi có sự đổi
mới giai cấp công nhân nước ta đa có sự phát triển cả về số lượng và chất lưọng,
là nguồn nhân lực có tính quyết định của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
ở nước ta hiện nay.

12


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình “những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa mác-lee nin”
2. Báo công đoàn
3. Lyluanchinhtri.vn
4. Tư tưởng hồ chí minh nhận thức và vận dụng

13


PHỤ LỤC

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×