Tải bản đầy đủ

Chuyên đề : Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện có nề nếp, cách dạy học theo phương pháp hoạt động nhóm

Một số biện pháp chỉ đạo - thực hiện có nề nếp cách dạy học ...
16:57 11/10/2007
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO - THỰC HIỆN CÓ NỀ NẾP, CÁCH DẠY HỌC THEO
PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG NHÓM, NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
TOÀN DIỆN Ở BẬC THCS TRÊN ĐỊA BÀN CÓ HỌC SINH PHẦN LỚN LÀ NÔNG THÔN
A – Đặt vấn đề:
Trong hơn bốn mươi năm qua, trước sự phát triển như vũ bảo của khoa học, giáo dục nước
nhà đã có nhiều cố gắng trong việc tự hoàn thiện mình bằng những giải pháp như tiến
hành cải cách giáo dục (GD), đổi mới chương trình GD phổ thông... nhằm dủ sức đáp
ứng nhiệm vụ nhân dân giao phó: trồng người đáp ứng giai đoạn cách mạng mới.
Trong thời gian qua, dẫu có nhiều nổ lực như thế, nhung nhìn chung giáo dục của ta vẫn
chưa ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng mới: đào tạo con người toàn diện phục vụ sự
nghiệp CNH – HĐH của đất nước. Hay nói cách khác GD-ĐT phải bằng mọi cách đáp ứng
mục tiêu mà Đảng ta đề ra: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân
tài cho đất nước.
Tuy vậy, chất lượng GD hiện nay nói chung là thấp, chưa đáp ứng được mục tiêu mà Đảng
ta đã chỉ ra. Nguyên nhân dẫn đến chất lượng không được như mong muốn như thế có
nhiều. Song vấn đề mấu chốt hiện nay vẫn là Phương pháp dạy học.
Chính vì lẽ đó, cho nên NQ TW 4 (khoá VII) đã xác định “Khuyến khích tự học”, phải
“Áp dụng những phương pháp hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” và điều đó lại được NQ TW 2 (khoá VIII) tiếp tục

khẳng định “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp
dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học,
bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”.
Từ sự lãnh đạo - định hướng đổi mới giáo dục PT của Đảng (NQ TW 4 và NQ TW 2) đã
được Quốc Hội pháp chế hóa trong luật giáo dục “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui
hứng thú học tập cho học sinh”.
Qua sự chỉ đạo ấy, rõ ràng cho ta thấy được việc đổi mới phương pháp tự học là khâu
đột phá của quá trình dạy học đạt mục tiêu: đào tạo con người toàn diện phục vụ sự
nghiệp CNH – HĐH của đất nước. Mặt khác, cho thấy việc đổi mới phương pháp dạy học
không còn là vấn đề chung chung mà đã có định hướng rõ ràng; cụ thể phải tăng cường
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, năng lực tự học, tự nghiên cứu, cùng
nhau trao đổi thảo luận để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra. Rèn luyện kỹ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, đem lại nguồn vui, hứng thú học tập cho học sinh và đồng
thời phải khắc phục kiểu dạy áp đặt, lấy giáo viên làm trung tâm; Hạn chế tối đa
lối dạy học: thầy đọc – trò ghi, truyền đạt một chiều; chống lại thói quen học tập
thu động...
Như vậy, đổi mới giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đáp ứng
mục tiêu đào tạo là phải bắt đầu từ đổi mới phương pháp dạy học và sự đổi mới ấy
không còn là mơ hồ, trừu tượng mà phải theo một định hướng nhất định: Các thầy cô giáo
nói chung và ở trường THCS nói riêng có nhiệm vụ giúp học hướng tới việc học tập chủ
động, tự nghiên cứu và qua trao đổi-thảo luận để tìm ra kiến thức mới.
Vậy phương pháp dạy học nào có thể gọi là tối ưu để khi phối hợp cùng với các phương
pháp truyền thống khác đã có từ trước, đáp ứng được các yêu cầu trên và góp phần mang
lại hiệu quả cao nhất cho tiết học, theo hướng đôit mới?
Câu trả lời mang tính thuyết phục nhất hiện nay vẫn là cách dạy: tổ chức hoạt động
nhóm. Bởi vì bản thân nó, vốn có khả năng đáp ứng các tiêu chí xây dựng thành công con
người năng động, sáng tạo. Từ thực nghiệm đổi mới PPDH, đã chứng tỏ qua hoạt động sẽ
làm cho mỗi thành viên bộc lộ được suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình, qua đó được tập
thể uốn nắn, điều chỉnh, phát triễn tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý
thức cộng đồng... Hoạt động trong tập thể quen dần với sự phân công hợp tác trong lao
động xã hội, hiệu quả học tạp sẽ tăng lên nhất là phải giải quyết vấn đề gay cấn, lúc xuất
hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành một nhiệm vụ học tập xác định.
Như vậy tổ chức hoạt động nhóm trong thời gian qua, hiện nay và tương lai vẫn là PPDH
mang lại hiệu quả cao đã được các nước tiên tiến trên thế giới đánh giá cao và được áp
dụng một cách phổ biến, thành thạo trong trường học. Đối với họ, hiện nay tổ chức hoạt
động nhóm đã trở thành một nhu cầu từ cả phía người dạy-người học.
Còn nước ta phương pháp tổ chức hoạt động nhóm trước đây tuy đã có áp dụng nhưng còn
rất mờ nhạt. Đặc biệt, từ khi thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo NQ
40/QH-10, thì PPDH hoạt động nhóm không những khuyến khích, vận động áp dụng, mà
còn coi đây là một tiêu chí đánh giá mực độ hoàn thành nhiệm vụ của người giáo
viên khi lên lớp.
Thế nhưng thực tế trong ba năm học qua (02-03, 03-04, 04-05) ở trường THCS Huỳnh
Thúc Kháng chúng tôi, việc áp dụng PPDH hoạt động nhóm còn lắm điều đáng bàn và
trung thực khách quan mà nói thì việc sử dụng PPDH được khẳng định định là tiên tiến
nhất như trên vẫn còn mang hình thức đối phó, chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.
Chính vì lẽ đó, cho nên bản thân tôi thời gian qua (khi thực hiện thay sách) đã có nhiều
băn khoăn, trăn trở làm thế nào để có cách chỉ đạo thực hiện có nề nếp việc dạy
học theo phương pháp hoạt động nhóm, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện theo NQ 40 cỉa Quốc hội. Và trong suốt quá trình ấy bản thân đã có một số việc
làm tại đơn vị xin được bày tỏ dưới đây với mục đích trao đỗi, ngõ hầu có được sự góp ý
bổ sung của quý lãnh đạo, đồng nghiệp để kinh nghiệm thêm phong phú, nhằm góp phần
tốt trong việc chỉ đạo chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
B- Giải quyết vấn đề:
1- Nghiên cứu hồ sơ, sổ sách của CBGV và HS để thu thập thông tin cần thiết:
Như chúng ta đã biết, cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường THCS là giúp HS hướng tới
việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Khi nghiên cứu về nhóm
PPDH tích cực thì tổ chức hoạt động nhóm không những nó hoàn toàn có khả năng đó mà
còn vượt trội hơn các phương pháp khác và bản thân nó còn tiềm ẩn một sức mạnh cực kỳ
to lớn – có nhiều khả năng phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo... của
người học. Cho nên việc vận dụng phương pháp tổ chức hoạt động nhóm trong tiết học
không còn là vấn đề nên hay không nên, mà chúng ta phải làm sao để mọi giáo
viên thực hiện một cách tự giác và học sinh chủ động hưởng ứng, đồng thời bàn
cách vận dụng nó như thế nào cho có hiệu quả và tìm ra được nguyên nhân vì sao
phần lớn GV-HS lại không “hít” phương pháp ấy.
Những hồ sơ, sổ sách mà chúng tôi tiếp cận, nghiên cứu gồm:
+ Sổ soạn bài của GV: (ở năm học 02-03, 03-04, 04-05) của 20 giáo viên.
+ Hồ sơ kiểm tra chuyên đề và toàn diện (02-03, 03-04, 04-05 và tháng 9 -->10/05) của
CBGV (40 hồ sơ)
+ Vở ghi bài của học sinh (40 em lớp 6, 7, 8 và 9 - đủ các đối tượng)
+ Sổ gọi tên và ghi điểm (nt)
+ Hồ sơ 5 tổ chuyên môn (3 năm học: 02-03, 03-04, 4-05)
Ở đây tôi xin nói thêm việc nghiên cứu hồ sơ sổ sách này là nhằm mục đích thu thập tất
cả những thông tin có liên quan đến việc đổi mới chương trình giáo dục PT, phục vụ cho
việc sơ kết công tác thay sách ở trường, đồng thời xuyên qua đó rút ra những thông tin
phục vụ cho đề tài này. Chính vì thế cho nên trong khuôn khổ của bài viết này, tôi chỉ nêu
tóm tắt một số ưu điểm, tồn tại lớn có liên quan trực tiếp đến đối tượng mà mình quan
tâm và muốn làm chuyển biến nó.
Qua nghiên cứu đối chiếu thông tin ở các hồ sơ sổ sách tôi thấy nổi lên:
Ưu điểm:
- Đa số GV có đầu tư trong công tác soạn giáo giảng theo hướng tích cực, chủ động sáng
tạo của HS; thể hiện ở việc vận dụng PP mới - sử dụng ĐDDH. Đảm bảo quy trình sư
phạm.
100% HS có đầy đủ SGK, phần lớn ham học và làm theo sự hướng dẫn của GV.
Tồn tại:
- GV sử dụng ĐDDH chưa nhiều, chưa thường xuyên, chưa trở thành nề nếp.
- Việc tổ chức hoạt động nhóm thường diễn ra ở những tiết có người dự, còn những tiết
khác thì rất ít, thậm chí theo cách truyền thụ một chiều. Nội dung chuẩn bị trước đó cho
hoạt động nhóm thiếu chu đáo, lại không đồng đều thường tập trung phần lớn ở nhóm
trưởng.
- Mặc dù ở tổ chuyên môn có triển khai đầy đủ KH công tác, sự chỉ đạo của trường nhưng
nhìn chung chưa có biện pháp cụ thể đỡ từng cá nhân thực hiện hay tháo gỡ những khó
khăn, vướng mắc khi thực hiện một số công tác lớn. Trầm trọng hơn là việc sơ, tổng kết
đáng giá việc thực hiện tổ chức hoạt động nhóm còn chung chung, thiếu mạnh dạn chỉ ra
những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến. Do đó, chưa có bài học kinh nghiệm hữu hiệu.
* Qua trao đổi, thăm dò CBGV: nổi lên một nguyên nhân khiến người dạy chưa “hít” với
phương pháp dạy học này (hoạt động nhóm), bởi vì nó đòi hỏi công phu và tốn thời gian –
kinh phí (tối thiểu 3 nghìn – 4 nghìn đồng/tiết) nhiều hơn khi khi không áp dụng nó; mặt
khác ngay sau tiết học, người học có cảm nhận tức thời về tính hiệu quả không cao
hơn so với các phương pháp truyền thống mà họ đã sử dụng trước đây. Họ chưa
thấy được tác dụng tích cực, tính bền vững lâu dài của nó trong hoạt động nhận
thức của con người. Hơn nữa đây là việc đổi mới quan niệm, một thói quen trong dạy
học cho nên sẽ gặp những khó khăn cả về nhận thức và hành động... Bởi lẽ, đây là
phương pháp mới, HS-GV không quen, còn bỡ ngỡ với cách học như thế và dẫn tới không
ham thích. Đó là chưa nói tới những học sinh yếu, lười học lợi dụng sự sơ hở, quản lý của
giáo viên làm mất trật tự, ồn ào, làm cho người dạy bực mình, chán nản. Thực tế có
những tiết học khi đến phần hoạt động nhóm HS rất ồn, thậm chí có cả quậy phá. Và điều
này cũng dễ hiểu, vì các em HS yếu ít có khả năng và không ham thích tham gia giải
quyết những nhiệm vụ nhóm phân công. Hơn nữa khi cái “mới” ra đời thường thường ít
được chấp nhận, ít được ủng hộ. Và để khắc phục những hạn chế này, là cán bộ quản lý
chúng ta phải tác động bằng nhiều biện pháp, trong đó biện pháp không thể thiếu đó là
phải tiến hành đồng bộ, kiên trì, thường xuyên trên cả chỉ đạo thực hiện về nội dung, quy
trình trên tất cả đối tượng. Bởi vì, nếu để mỗi đơn vị (tổ chuyên môn), mỗi cá nhân GV
làm theo cách riêng của mình thì không bao giờ có nền nếp và như thế sẽ không bao giờ
có hiệu quả cao.
* Nhận thức của GV về tổ chức hoạt động nhóm chưa sâu, họ chưa thực sự giác ngộ về
nó, đặc biệt chưa nắm được cơ sở lý luận mang tính khoa học làm nền tảng khi áp dụng,
dẫn tới độ tin tưởng chưa cao. Làm cho họ thiếu quyết tâm, thiếu kiên trì chịu khó trong
việc làm.
2- Mở hội thảo bàn về cách tổ chức hoạt động nhóm có hiệu quả (tháng 11/05), nhằm đạt
mục đích:
- Trên tinh thần phát huy dân chủ, thẳng thắn xác định cho được thực trạng của việc dạy-
học theo cách tổ chức hoạt động nhóm ở từng môn, từng lớp, từng đối tượng HS, cụ thể
phải tìm được các câu trả lời sau:
. Vì sao tỷ lệ việc tổ chức hoạt động nhóm trong tổng các tiết học không cao?
. Khi tiến hành các hoạt động nhóm thường gặp những thuận lợi, khó khăn gì?
. Làm thế nào để hoạt động nhóm thực sự có hiệu quả?
- Thông qua diễn đàn này, quán triệt và làm sáng tỏ lại một lần nữa nhận thức về định
hướng đổi mới PPDH và tổ chức hoạt động nhóm trong tất cả CBGV, như:
+ Định hướng đổi mới PPDH dựa vào:
Một là: kết luận của QN TW 4 khoá VII) “khuyến khích tự học”, phải “áp dụng nhữn PP
giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự giải
quyết vấn đề”
Hai là: kết luận của NQ TW 4 (Khoá VIII) “Phải đổi mới PP giáo dục, khắc phục lối truyền
thụ một chiều... tự nghiên cứu cho học sinh”.
Ba là: Điều 24.2 của Luật Giáo dục “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng PP tự học, tự rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
+ Đặc điểm của PPDH hoạt động nhóm và một số điểm cần lưu ý:
. Nó đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi HS trong quá trình tự giành lấy kiến
thức mới.
. Trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng thái độ đều được hình thành bằng những
hoạt động thuần tuý cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò- thầy, tạo
nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong con đường đi tới những tri thức mới.
. Trong phương pháp dạy học hoạt động nhóm vẫn có giao tiếp thầy-trò, nhưng nổi lên
mối quan hệ giao tiếp trò-trò. Thông qua hoạt động nhóm tìm tòi nghiên cứu, thảo luận,
tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được điều chỉnh, khẳng định
hay bác bỏ, qua đó người học được nâng mình lên một trình độ mới, bài học vận dụng
được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp.
. Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên được bộc lộ những suy nghĩ
hiểu biết của mình, qua đó được tập thể uốn nắn, điều chỉnh phát triển tình bạn, ý thức tổ
chức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng.
. Từ xưa bên cạnh câu “Không thầy đố mày làm nên”, cha ông ta đã có câu “Học thầy
không tầy học bạn”
. Thoạt nhìn, tưởng như học tập theo cách hoạt động nhóm mâu thuẫn với học tập cá thể,
hạn chế mức độ tích cực của mỗi cá nhân; nhưng thực ra trong hoạt động nhóm, mục tiêu
hoạt động là chung của toàn nhóm, nhưng mỗi cá nhân đều phải nổ lực không thể ỷ lại
vào người khác, toàn nhóm phải phối hợp với nhau để cùng đạt mục tiêu chung. Kết quả
làm việc của từng nhóm được trình bày thảo luận trước lớp sẽ tạo được không khí thi đua
giữa các nhóm, đóng góp tích cực vào kết quả chung của bài học. Mô hình hợp tác trong
XH đưa vào đời sống học đường có tác dụng chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống
XH, trong đó mỗi người sống và làm việc theo sự phân công hợp tác với tập thể cộng
đồng. Trong xu hướng toàn cầu hoá, xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc
gia thì năng lực hợp tác thực sự trở thành mục tiêu đào tạo của giáo dục nhà trường.
. Việc tổ chức hoạt động nhóm phải chú ý đến trang thiết bị, ĐDDH nhất là bàn ghế học
sinh. Cụ thể ở đơn vị Huỳnh Thúc Kháng: bàn ghế HS là loại 2 chỗ ngồi đóng liền (không
xoay được) nên việc phân công nhóm có thể là: 2-4-8 (hợp lý nhất là nhóm 4).
3- Chỉ đạo 5 tổ chuyên môn xây dựng - dạy minh hoạ chuyên đề “Tổ chức có hiệu quả
hoạt động nhóm” đối với 4 môn ở lớp 9: Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh và địa lý theo hướng
sau (lần I cấp trường: vào tháng 12/2004 và rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn chỉnh, để
thực hiện lần II ở quy mô toàn Thị xã: vào ngày 7/4/2005; có mời Phòng GD Thị xã dự):
3.1 Cấu trúc của chuyên đề:
3.1.1- Về cơ sở pháp lý:
3.1.2- Đặt vấn đề: (nêu cho được thực trạng của đối tượng và yêu cầu vè nó)
3.1.3- Giải quyết vấn đề: (mỗi bộ môn đều có ví dụ minh hoạ cụ thể trong mỗi bước).
Thống nhất theo quy trình gợi ý sau:
Bước 1: Làm việc chung cả lớp:
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ cho các nhóm.
- Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.
Bước 2: Làm việc theo nhóm
- Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập (chú ý: yêu cầu các em suy nghĩ
độc lập)
- Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm.
- Cử đại diện (hoặc phân công trước) chịu trách nhiệm trình bày kết quả làm việc của
nhóm.
Bước 3: Thảo luận tổng kết trước toàn lớp (chú ý: kiểm tra hoạt động của nhóm)
- Các nhóm lần trước báo cáo kết quả.
- Thảo luận chung.
- Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề tiếp theo.
* Những vấn đề GV cần lưu ý:
+ Từ nhóm 4 em trở lên, phải cử 1 nhóm trưởng (HS học khá-giỏi, có uy tín) và 1 thư ký
(HS viết rõ ràng nhanh nhẹn).
+ Trong thời gian đầu, GV hướng dẫn cụ thể cho các nhóm hoạt động (tập huấn cho nhóm
trưởng và thư ký). Có nhận xét, điều chỉnh bổ sung cách làm của từng nhóm và rút kinh
nghiệm chung. Chú ý động viên khích lệ.
+ Khi tiến hành hoạt động nhóm, GV phải điều chỉnh tư thế ngồi cho các em để đảm bảo
sự phát triển về thể chất khắc phục cách ngồi quay quẹo người về sau mà chân vẫn giữ
như cũ.
+ Phải thường xuyên chú ý HS yếu kém và biện pháp giúp đỡ để các em cùng tham gia
giải quyết nhiệm vụ của nhóm.
+ Chọn những vấn đề, bài tập thích hợp (không quá khó, cũng không quá dễ).
+ Đánh giá, cho điểm, động viên và tuyên dương kịp thời cá nhân, tập thể (chú ý HS yếu).
4- Mạnh dạn tham mưu với Phòng giáo dục Thị xã cho đăng cai tổ chức sinh hoạt chuyên
môn toàn bậc với chuyên đề: “Tổ chức có hiệu quả hoạt động nhóm”, vào ngày
07/4/2005; nhằm tranh thủ sự góp ý của trường bạn, mặt khác để tự khẳng định mình; cụ
thể:
. Năm tổ chuyên môn (Toán, Hoá-sinh, Tiếng Anh, Ngữ văn và Sử -địa) theo định hướng
của toàn trường như đã nói ở trên; mỗi tổ xây dựng- báo cáo chuyên đề vè dạy minh hoạ
1 tiết. Sau đó họp tổ, rút kinh nghiệm chung ở cấp toàn Thị xã.
Qua buổi sinh hoạt chuyên môn với chuyên đề tren, mặc dù có nhiều ý kiến tham gia phân
tích và bổ sung thêm của lãnh đạo, GV các trường trong Thị đối với việc xây dựng – áp
dụng chuyên đề trên vào từng môn học, song nhìn chung vẫn thống nhất đánh giá cao giá
trị về cả 2 mặt lý luận và thực tiễn của nó.
5- Chỉ đạo xây dựng kế hoạch và quy trình sinh hoạt chuyên môn tổ:
Thực tế đã khẳng định, sự thành công của mỗi công việc đều bắt nguồn từ khâu làm việc
có kế hoạch (KH). Do vậy, ngay từ đầu năm hoc chúng tôi đã có sự chỉ đạo việc xây dựng
KH với những mục tiêu, nội dung, chỉ tiêu, biện pháp cụ thể: Yêu cầu nội dung ngắn gọn
bám sát nhiệm vụ năm học của Bộ, nhưng phải đảm bảo tính cân đối toàn diện; có mục
tiêu rõ ràng và biện pháp khả thi; có phân công nhiệm vụ cụ thể; có thời gian khởi đầu và
kết thúc. Bên cạnh việc chỉ đạo xây dựng KH theo tinh thần đổi mới chương trình GD phổ
thông, áp dụng- tăng cường phương pháp dạy học tích cực, sử dụng ĐDDH; BGH còn xây
dựng và chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn hằng tuần bằng một Quy trình cụ thể, gồm 3
phần:
Phần 2: B/c 1 chuyên dề hay thao giảng- thực tập 1 tiết có gắn với một chuyên đề cụ thể.
Phần 2: Họp, thảo luận rút kinh nghiệm nội dung phần 1, kể cả nội dung chuyên môn theo
sự phân công cho các thành viên ở buổi sinh hoạt chuyên môn liền trước. Nhất thiết, tổ
trưởng phải dành 2/3 thời lượng sinh hoạt cho việc đánh giá, rút kinh nghiệm tình hình
thực hiện nhiệm vụ (chẳng hạn như xác định trước tổ mục tiêu, nội dung trọng tâm cần
truyền đạt, tổ chức hoạt động nhóm, đổi mới PP giảng dạy, ĐDDH đối với tiết dạy cụ thể,
để tập thể tổ tham gia- thống nhất và cả tổ cùng thực hiện). Ngoài ra mỗi tổ còn có trách
nhiệm nghiên cứu trước bài dạy từ 2-3 tuần để chắt lọc những vấn đề mà mình băn
khoăn, lúng túng, khi thiết kế bài dạy cả biện pháp khắc phục hoặc làm sáng tỏ ý đồ của
người viết sách. Sau khi trao đổi, bàn bạc có thể còn nhiều ý kiến khác nhau, trách nhiệm
của tổ trưởng là phải phân tích đi đến thống nhất chung và đó cũng là kết luận cuối cùng,
buộc mỗi thành viên phải thực hiện. Nhờ việc chỉ đạo mang tính nền nếp- tập trung và

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×