Tải bản đầy đủ

Tiểu luận các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân và các căn cứ để phân loại

Để đáp ứng các nhu cầu trong đời sống, mỗi cá nhân phải không ngừng
tham gia các mối quan hệ xã hội, trong đó có các giao dịch Dân sự. Nhằm
đảm bảo sự ổn định và trật tự trong quá trình thiết lập và thực hiện các giao
dịch dân sự, hướng tới việc thực hiện lợi ích cho các chủ thể tham gia cũng
như lợi ích chung toàn xã hội, không phải bất cứ cá nhân nào cũng có quyền
tham gia vào các giao dịch dân sự. Pháp luật dân sự nước ta quy định chỉ có
những cá nhân có năng lực chủ thể mới có quyền tham gia những giao dịch
ấy. Năng lực chủ thể được tạo thành bởi hai thành tố, đó là năng lực pháp luật
dân sự và năng lực hành vi dân sự. Trong đó, năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân có từ khi sinh ra và ai cũng có năng lực pháp luật như nhau. Còn năng
lực hành vi dân sự của cá nhân được hình thành khi có những điều kiện nhất
định và có nhiều mức độ khác nhau tương ứng với khả năng nhận thức và
điều khiển hành vi của cá nhân đó.
Hiện nay, các quyền tự do dân chủ dành cho cá nhân càng ngày càng
lớn và đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân rất đa dạng, phức tạp kéo theo sự
phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực giao lưu dân sự. Việc giải quyết những
tranh chấp liên quan đến vấn đề năng lực hành vi dân sự của cá nhân khi
tham gia quan hệ pháp luật dân sự không phải bao giờ cũng thỏa đáng. Bởi
vì, cá nhân muốn là chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự cần
phải đạt đến một trình độ phát triển nhất định về thể lực và trí lực, trong khi
đó, không ít giao dịch dân sự diễn ra trên thực tế mà người tham gia không

thỏa mãn những điều kiện về năng lực chủ thể dẫn đến tranh chấp khi thực
hiện. Để hiểu rõ hơn vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài tiểu luận: “Các mức độ năng
lực hành vi dân sự của cá nhân và các căn cứ để phân loại”.
“Năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền,
thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ. Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn
thiện, độc lập khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự”.
Năng lực hành vi dân sự (hay còn gọi là năng lực hành vi dân sự của cá nhân) là
khả năng của một người, thông qua các hành vi của mình để xác lập hoặc/và thực hiện
các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với người khác.
Mọi người (từ đủ 18 tuổi trở lên, gọi là “người thành niên”) đều được pháp luật
qui định là có năng lực hành vi dân sự một cách đầy đủ, trừ trường hợp bị mất hoặc bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là một trong những nội dung vô cùng quan
trọng của Bộ luật Dân sự, bởi vì đây là cơ sở để xem xét một chủ thể có tư cách tham
1


gia xác lập, thực hiện một quan hệ pháp luật hay không. Nội dung này đều được quy
định tại Chương III của hai Bộ luật Dân sự (BLDS). Điều 19 BLDS năm 2015 quy
định: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi
của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự số
91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015, nội dung chi tiết như sau:
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của
mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
Đối với Người thành niên
1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định
tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật dân sự 2015.
Đối với Người chưa thành niên
1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật
của người đó xác lập, thực hiện.
3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực
hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải
đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo
pháp luật đồng ý.
Thứ nhất: Chủ thể mất năng lực hành vi dân sự
1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận
thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc
của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất
năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo
yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ
quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực
hành vi dân sự.
2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại
diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
2


Thứ hai: Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng
nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo
yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức
hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên
bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người
giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên
quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định
tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Thứ ba: Chủ thể bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
1. Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản
của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan,
tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự.
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
2. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị
Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện
theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên
quan có quy định khác.
3. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc
của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn
chế năng lực hành vi dân sự.
Năng lực hành vi dân sự (NLHVDS) của cá nhân được đánh giá qua hai tiêu chí
là độ tuổi và khả năng nhận thức, điều khiển hành vi. Cá nhân có độ tuổi, khả năng
nhận thức, điều khiển hành vi khác nhau thì có năng lực hành vi khác nhau. Tùy vào
từng trường hợp nhất định mà năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân là không giống
nhau. Như vậy, thông qua việc năng lực hành vi dân sự của cá nhân để biết được cá
nhân đó có đủ khả năng thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự hay không, giao dịch dân sự
mà cá nhân xác lập, thực hiện có hiệu lực hay không.

3


Để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, mỗi cá nhân đều phải có đủ năng
lực pháp luật và năng lực hành vi cần thiết cho quan hệ đó. Pháp luật dân sự quy định,
ngay từ khi một cá nhân được sinh ra thì họ đã có khả năng có các quyền và nghĩa vụ
dân sự.
Các quyền và nghĩa vụ này của mỗi cá nhân là như nhau và chỉ chấm dứt khi
người đó chết. Đây chính là năng lực pháp luật dân sự của cá nhân. Trong khi đó, năng
lực hành vi dân sự là khả năng cá nhân bằng hành vi của mình để tự mình xác lập các
quan hệ dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong quan hệ đó lại được quy định
tương đối phức tạp hơn, tùy vào từng trường hợp nhất định mà năng lực hành vi dân


sự của mỗi cá nhân không giống nhau. Cụ thể là:
Một là, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên
và không thuộc trường hợp bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự. Theo đó, chủ
thể này có thể tự mình xác lập tất cả các giao dịch dân sự (trừ trường hợp quan hệ dân
sự còn đòi hỏi các điều kiện khác).
Hai là, người có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ là cá nhân từ đủ 6 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi. Theo đó, các chủ thể này có thể tự mình xác lập một số giao dịch
dân sự nhất định mà pháp luật cho phép. Cụ thể là: cá nhân từ đủ 6 tuổi đến dưới 18
tuổi được phép tự mình xác lập các giao dịch dân sự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
học tập hàng ngày hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật cho phép. Còn đối với
các giao dịch dân sự khác, họ cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật thì
mới được phép xác lập.
Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ
nhưng trong trường hợp họ có tài sản riêng thì họ có thể tự mình xác lập các giao dịch
dân sự mà nghĩa vụ của nó cho phép thực hiện trong phạm vi tài sản của họ. Khi đó,
việc xác lập các giao dịch này của họ không cần có sự đồng ý của người đại diện theo
pháp luật, trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ba là, người không có năng lực hành vi dân sự là những cá nhân dưới 6 tuổi.
Theo đó, tất cả các chủ thể này không thể bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện
các giao dịch dân sự. Các giao dịch dân sự của những người này sẽ do người đại diện
theo pháp luật của họ xác lập, thực hiện.
Bốn là, người bị mất năng lực hành vi dân sự là những người không có khả
năng nhận thức, điều chỉnh hành vi của mình do mắc bệnh tâm thần hoặc vì một lý do
nào đó. Để xác định một người là mất năng lực hành vi dân sự thì phải trên cơ sở
quyết định của Tòa án về việc tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự hoặc
4


kết luận của tổ chức giám định. Trong trường hợp không có hai căn cứ này thì một
người không thể bị coi là mất năng lực hành vi dân sự. Các giao dịch dân sự của người
bị mất năng lực hành vi dân sự sẽ do người đại diện theo pháp luật của các chủ thể này
sẽ xác lập, thực hiện.
Năm là, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là những người bị Tòa án ra
quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Tòa án sẽ ra quyết
định này trong trường hợp các giao dịch dân sự do người nghiện ma túy hoặc các chất
kích thích khác xác lập làm phá tán tài sản của gia đình và dựa trên yêu cầu của người
có quyền, lợi ích liên quan hoặc các cơ quan, tổ chức hữu quan. Khi đó, khả năng tự
mình xác lập thực hiện các giao dịch dân sự của những người này sẽ bị hạn chế, các
giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của họ (trừ các giao dịch phục vụ cho nhu cầu
sinh hoạt hằng ngày) phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Người đại
diện theo pháp luật của những người này và phạm vi đại diện của họ sẽ do Tòa án
quyết định.
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị mất năng lực hành vi dân sự
sẽ được khôi phục hành vi dân sự khi các căn cứ để xác định họ bị mất hoặc hạn chế
năng lực hành vi dân sự không còn và theo yêu cầu của chính họ hoặc của những
người có quyền, lợi ích liên quan, cá nhân, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Qua nghiên cứu Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể thấy: Bộ luật đã có những sửa
đổi, bổ sung liên quan đến quy định này.
* Một là, Bộ luật đã tách người thành niên và người chưa thành niên ra thành
hai quy định riêng biệt.
Trong BLDS năm 2005, người thành niên (NTN) và người chưa thành niên
(NCTN) được quy định chung trong một điều luật (Đ18).
BLDS năm 2015, Điều 20 quy định về người thành niên, Điều 21 quy định về
người chưa thành niên.
Như vậy, BLDS năm 2015 có sự minh định giữa người thành niên và người
chưa thành niên, trên cơ sở đó phân định rạch ròi hơn về năng lực chủ thể của hai
nhóm đối tượng này.
* Hai là, Bộ luật đã có những bổ sung quan trọng đối với người thành niên. Bổ
sung thêm trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Cả hai Bộ luật đều quy định: Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và
là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.Tuy nhiên, bên cạnh trường hợp hạn chế
5


năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự của người thành niên như
BLDS năm 2005 đã quy định, BLDS năm 2015 bổ sung thêm trường hợp người có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Trong BLDS năm 2005, chỉ quy định 02 trường hợp là hạn chế năng lực hành vi
dân sự và mất năng lực hành vi dân sự. Thực tiễn cho thấy rằng, có những người do
tình trạng thể chất hoặc tinh thần nên khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của họ ở
một mức độ hạn chế. Do vậy, việc thể hiện ra bên ngoài ý chí đích thực của họ sẽ gặp
khó khăn so với những chủ thể năng lực nhận thức bình thường. Họ cần được pháp
luật bảo vệ khi tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, không thể
áp dụng quy định về mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân
sự ở Điều 22, Điều 23 BLDS năm 2005 để bảo vệ những người này. Vì vậy, khi tham
gia vào các giao dịch dân sự, họ thường rơi vào vị trí “thế yếu” và thiệt thòi hơn so
với các chủ thể bình thường khác. Trong khi đó, BLDS năm 2005 chưa có cơ chế pháp
lý để bảo vệ quyền dân sự đối với các chủ thể này.
Để khắc phục sự thiếu sót nêu trên của BLDS năm 2005, Khoản 1 Điều 23 Bộ
luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh
thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng
lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan
hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần,
Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”.
Quy định này đã khắc phục thiếu sót của BLDS năm 2005 nhằm bảo vệ một cách triệt
để quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm người “đặc biệt” này.
- Đối với NTN mất NLHVDS, kết luận giám định mất NLHVDS phải là kết
luận giám định pháp y tâm thần.
Vấn đề mất năng lực hành vi dân sự đều được hai Bộ luật quy định tại Khoản 1
Điều 22.
Ở Khoản 1 Điều 22 BLDS năm 2005 quy định: “1. Khi một người do bị bệnh
tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của
mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”.
Quy định trên được bổ sung, sửa đổi thành Khoản 1Điều 22 BLDS năm 2015 như sau:
“1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,
làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của
6


cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất
năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần”.
Như vậy, BLDS năm 2015 đã mở rộng chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định
tuyên bố một người là người mất năng lực hành vi dân sự bằng việc bổ sung thêm
cụm từ “cơ quan, tổ chức hữu quan”. Mặt khác, đã thay cụm từ “tổ chức giám định”
thành “giám định pháp y tâm thần”. Quy định về “giám định pháp y tâm thần” rõ hơn
nhiều so với quy định “tổ chức giám định” tại BLDS năm 2005. Đây có thể xem là
một bước tiến về kỹ thuật lập pháp của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005.
* Ba là, trong Bộ luật, tất cả những người chưa thành niên (NCTN) được quy định
chung trong cùng một điều luật.
Trong BLDS năm 2005, những người chưa thành niên từ chưa đủ sáu tuổi đến
dưới mười tám tuổi được quy định tại ba điều luật: Điều 20 (Năng lực hành vi dân sự
của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi), Điều 21 (Người
không có năng lực hành vi dân sự) và một phần của Điều 18 (Người thành niên, người
chưa thành niên). BLDS năm 2015 đã gộp quy định tại ba điều này vào thành Điều 21
và bỏ khái niệm người không có năng lực hành vi dân sự ở Điều 21 BLDS năm 2005.
Theo đó, tất cả những người chưa đủ 18 tuổi đều được quy định tại Điều 21 của BLDS
năm 2015. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp, BLDS năm 2015 thể hiện lại một cách tinh
gọn hơn so với BLDS năm 2005.
Theo Điều 21 BLDS năm 2015, người chưa thành niên được chia thành các
nhóm độ tuổi khác nhau, tương ứng với đó là khả năng tham gia vào các giao dịch dân
sự của những nhóm đối tượng này. Cụ thể, người chưa thành niên được chia làm ba
mức độ năng lực hành vi: người dưới 6 tuổi; người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến
dưới 15 tuổi; người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
+ Đối với người dưới 6 tuổi:
BLDS năm 2005 dành hẳn một điều luật để quy định và gọi những người này là
người không có năng lực hành vi dân sự. Đến BLDS năm 2015, người chưa đủ 6 tuổi
được xếp vào chung nhóm người chưa thành niên và vẫn giữ nguyên quy định về giao
dịch dân sự đối với đối tượng này. Điều này cũng có nghĩa, với cách quy định tại Điều
21 BLDS năm 2015 thì không còn khái niệm người không có NLHVDS như BLDS
năm 2005. Việc bỏ khái niệm này là cần thiết. Bởi lẽ, khái niệm người chưa thành niên
đã bao gồm người chưa đủ 6 tuổi.
+ Đối với người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi:

7


Khoản 1 Điều 20 BLDS năm 2005 quy định: “1. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa
đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện
theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù
hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác”.
Quy định trên đã được sửa đổi tại Khoản 3 Điều 21 BLDS năm 2015 như sau:
“Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu
cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi”.
So sánh nội dung ở hai điều luật có thể thấy: Khoản 1 Điều 20 BLDS năm 2005
bao trùm toàn bộ đối tượng là người chưa thành niên từ đủ 6 đến chưa đủ mười tám
tuổi. Với những người này, khi tham gia giao dịch dân sự phải được người đại diện
theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù
hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Trong khi đó, Khoản 3 Điều 21
BLDS năm 2015 đã chia nhỏ nhóm đối tượng người chưa thành niên trong trường hợp
này là người từ đủ sáu đến chưa đủ mười lăm tuổi và quy định cụ thể rằng: họ chỉ
được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp
với lứa tuổi. Những giao dịch khác phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Như vậy, so với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã hạ thấp hơn độ tuổi ở nhóm
này nhằm phù hợp với sự phát triển về thể chất và trí lực của họ. Mặt khác, quy định
tại Khoản 3 Điều 21 BLDS năm 2015 hợp lý ở chỗ, đối với giao dịch dân sự phục vụ
nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi thì không nhất thiết phải nới rộng
biên độ của người chưa thành niên trong trường hợp này lên đến chưa đủ18 tuổi. Đồng
thời, Khoản 3 Điều 21 BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “hoặc pháp luật có quy định
khác” vì quy định như vậy mang tính chất chung chung dễ dẫn đến tình trạng nhận
thức và áp dụng điều luật không chính xác và thống nhất.
+ Đối với người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi:
Đối với nhóm đối tượng này, giữa hai bộ luật có sự khác biệt trong cách quy
định. Theo Khoản 2 Điều 20 BLDS năm 2005: “2. Trong trường hợp người từ đủ mười
lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có
thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của
người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Với cách thể hiện như trên có thể hiểu rằng: người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười
tám là một ngoại lệ của Khoản 1 Điều 20 BLDS năm 2005. Những người ở độ tuổi
này có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự khi thỏa mãn hai điều kiện: điều
8


kiện cần là có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; điều kiện đủ là “trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác”, mà cụ thể đó là trừ các giao dịch dân sự liên quan
đến bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu và giao dịch dân sự khác
theo quy định của luật phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của
người đó. Như vậy, ở Khoản 2 Điều 20 BLDS năm 2005, điều kiện cần đã được quy
định trực tiếp, rõ ràng nhưng điều kiện đủ còn chung chung.Vì vậy, trong nhiều trường
hợp, để có thể hiểu được quy định tại Điều 20 Khoản 2 thì phải dẫn chiếu tới quy định
khác trong các phần cụ thể của BLDS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên
quan, dẫn đến việc hiểu và áp dụng điều luật một cách thiếu chính xác và thống nhất.
Nhằm khắc phục tình trạng này, Khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015 đã sửa lại như sau:
“4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng
ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp
luật đồng ý”.
Như vậy, BLDS năm 2015 đã bỏ yêu cầu “có tài sản riêng đảm bảo thực hiện
nghĩa vụ” đồng thời quy định cụ thể những loại giao dịch dân sự nhất định với đối
tượng tài sản nhất định mà người từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi phải
được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Bằng quy định đó, việc phân định những
giao dịch dân sự mà nhóm đối tượng này có thể tự mình xác lập, thực hiện được dễ
dàng hơn, tránh được những tranh chấp có thể phát sinh về sau.
Với BLDS năm 2015, các quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân
được thể hiện tinh gọn, hợp lý và dễ hiểu hơn đồng thời việc sửa đổi, bổ sung những
quy định như đã trình bày ở trên nhằm khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của
BLDS năm 2005, tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân khi tham gia vào các giao dịch dân sự.
Từ việc tìm hiểu về năng lực hành vi dân sự, ta có thể khái quát nên các căn cứ
để phân loại các mức độ trên dựa vào các tiêu chí sau: Đối tượng áp dụng; căn cứ để
Tòa án ra quyết định; hệ quả pháp lý; người đại diện hoặc người giám hộ.
Về đối tượng áp dụng: Người hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma
túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình; người khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi là người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh
thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực
hành vi dân sự; người mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc
bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình.
9


Về Căn cứ để Tòa án ra quyết định: Người hạn chế năng lực hành vi dân sự là
Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu
quan; người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là theo yêu cầu của người này,
người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết
luận giám định pháp y tâm thần; người mất năng lực hành vi dân sự là theo yêu cầu
của người có quyền, lợi ích liên quan.
Về hệ quả pháp lý: Người hạn chế năng lực hành vi dân sự là Giao dịch dân sự
liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý
của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng
ngày; người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là do quyết định của Tòa (vì
tình trạng người nàycó thể hiểu là lúc tỉnh lúc mơ nên giao dịch dân sư phụ thuộc vào
quyết định của tòa qua việc xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ khi Tòa chỉ
định); người mất năng lực hành vi dân sự là giao dịch dân sự của người mất năng lực
hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Về người đại diện hoặc người giám hộ: Người hạn chế năng lực hành vi dân sự
; người khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người mất năng lực hành vi dân sự
là do Tòa án chỉ định.
Những quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân trong BLDS năm 2015
có nhiều điểm mới, tích cực phù hợp với điều kiện thực tế. Những quy định này là cơ
sở để cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, đồng thời
giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể giải quyết những tranh chấp phát sinh
liên quan đến vấn đề này. Mặc dù vậy, những quy định về năng lực hành vi dân sự
trong BLDS năm 2015 vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, hạn chế, bởi vậy, pháp luật
hiện hành cũng cần phải có những sửa đổi, bổ sung để quy định về năng lực hành vi
dân sự của cá nhân được hoàn thiện hơn.

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×