Tải bản đầy đủ

Tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành công nghệ thông tin kinh nghiệm của đài loan tt

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VIỆT DŨNGK

LÊ VIỆT DŨNG

THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN
CẦUNGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN:KINH
NGHIỆM CỦA ĐÀI LOAN

Chuyên ngành:
Mã số:

Kinh tế quốc tế
9 31 01 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. TS. Nguyễn Bình Giang
2. PGS, TS. Nguyễn Duy Lợi

Hà Nội – 2019
1


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học xã hội,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:
Hướng dẫn 1: TS. Nguyễn Bình Giang
Hướng dẫn 2: PGS, TS. Nguyễn Duy Lợi
Phản biện 1: PGS, TS. Bùi Tất Thắng
Phản biện 2: PGS, TS. Trần Công Sách
Phản biện 3: PGS, TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại:
vào hồi

giờ

phút, ngày

tháng

Có thể tìm hiểu Luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
2

năm 2019


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đài Loan bắt đầu thời kỳ tăng trưởng kinh tế nhanh từ thập niên 1960. Bước
sang thập niên 1980, Đài Loan đã nhanh chóng chuyển dịch kinh tế sang các
ngành công nghiệp chiến lược, trong đó công nghệ thông tin (CNTT) là một trong
những ngành quan trọng được chính phủ đầu tư phát triển. Từ đó cho đến nay,
CNTT của Đài Loan đã có những bước phát triển vượt bậc, từ công đoạn sản
xuất và cung cấp điện tử tiêu dùng, linh kiện điện tử, sang các sản phẩm công
nghệ cao hàng đầu thế giới với các sản phẩm như chất bán dẫn, quang học, máy
tính xách tay, máy tính bảng…Bằng cách xây dựng các chính sách hỗ trợ hợp lý
trong phát triển CNTT như thành lập các công viên công nghệ, phát triển nguồn
nhân lực, thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp CNTT phát
triển thương hiệu sản phẩm, Đài Loan đã tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi
cung ứng toàn cầu (CCƯTC), thậm chí còn dẫn đầu một số chuỗi Trong khi đó,
ngành CNTT Việt Nam còn đang ở mắt xích thấp, chưa phát triển một cách bền
vững bởi nhiều lý do khác nhau như chất lượng nguồn nhân lực yếu và thiếu, hệ
thống các nhà cung cấp trong nước còn nhỏ bé, cơ sở hạ tầng CNTT lạc hậu….
Liệu kinh nghiệm của Đài Loan có thể áp dụng cho các nước khác như Việt Nam?
Cần phải có nghiên cứu hệ thống và tập trung để giải thích trường hợp thành
công của Đài Loan và tìm tòi những kinh nghiệm có khả năng áp dụng của họ.
Đây là động lực khuyến khích nghiên cứu sinh thực hiện luận án với đề tài "Tham
gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT: Kinh nghiệm của Đài Loan".
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích của nghiên cứu này là làm sáng tỏ cách thức mà Đài Loan đã thực
hiện để tham gia thành công vào các CCƯTC ngành CNTT và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá có bổ sung và hoàn thiện luận cứ khoa học về CCƯTC, xây
dựng các khái niệm, khung tiêu chí đánh giá CCƯTC và các nhân tố ảnh hưởng
đến việc tham gia CCƯTC của ngành CNTT.
+ Phân tích các đặc điểm, chính sách, công cụ để tham gia CCƯTC của ngành
CNTT.
+ Phân tích, đánh giá quá trình tham gia CCƯTC của ngành CNTT Đài Loan;
những chính sách biện pháp chủ yếu giúp ngành CNTT Đài Loan tham gia
CCƯTC
+ Nghiên cứu những thành tựu và hạn chế của ngành CNTT Đài Loan khi
tham gia CCƯTC.
3


+ Rút ra bài học và kiến nghị chính sách cho Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: các chiến lược, chính sách, biện pháp của Chính phủ
để tham gia thành công vào CCƯTC.
- Phạm vi nghiên cứu: từ thập niên 1980 cho đến nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ phần lý thuyết CCƯTC và cơ chế hoạt động của CCƯTC, đề tài
sẽ chỉ ra cách thức tham gia CCƯTC có thể có về mặt lý thuyết. Áp dụng khung
phân tích đó, đề tài sẽ tìm hiểu thứ bậc mà Đài Loan đã tham gia CCƯTC trong
ngành CNTT, sự nâng bậc trong chuỗi cung ứng qua từng giai đoạn và giải thích
nguyên nhân dẫn đến sự nâng bậc đó. Từ thực tiễn tham gia CCƯTC trong ngành
CNTT của Đài Loan, đề tài sẽ đánh giá triển vọng của ngành trong CCƯTC trong
tương lai.
- Phương pháp phân tích hệ thống: Luận án sử dụng phương pháp này để phân
tích sự hình thành và phát triển CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan từ thập niên
1980 đến nay để làm rõ những chính sách, đặc trưng phát triển của chuỗi trong
từng giai đoạn, từng ngành, tạo cơ sở cho việc rút ra bài học và khuyến nghị
chính sách đối với Việt Nam.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận án thu thập các công trình nghiên
cứu có liên quan đến việc tham gia CCƯTC ngành CNTT Đài Loan để phân tích,
đánh giá, từ đó thấy được những thiếu hụt và khoảng trống trong những công
trình nghiên cứu trước để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
- Phương pháp so sánh: Luận án sử dụng phương pháp so sánh giữa các tiểu
ngành, các lĩnh vực, các giai đoạn trong phát triển chuỗi cung ứng ngành CNTT
của Đài Loan; để đối chiếu hiệu quả tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT của
Đài Loan với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm làm rõ vai trò và vị
trí của Đài Loan trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu.
- Phương pháp chuyên gia: Luận án sẽ tiến hành tìm hiểu và lấy ý kiến của
một số chuyên gia Việt Nam chuyên nghiên cứu thương mại, xuất khẩu hàng hoá
CNTT, các chuyên gia nghiên cứu về kinh tế Đài Loan, Trung Quốc để tìm hiểu
các bài học kinh nghiệm có thể rút ra cho Việt Nam.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đi sâu phân tích, làm rõ thực trạng tham gia CCƯTC ngành CNTT
Đài Loan, các chính sách, biện pháp của Đài Loan để ngành CNTT tham gia
CCƯTC; từ đó đánh giá vị trí, thứ bậc, thành công và hạn chế khi tham gia
CCƯTC của ngành CNTT Đài Loan.
4


Luận án đưa ra những điều kiện cần và đủ để tham gia CCƯTC của ngành
CNTT ở Đài Loan, so sánh với Việt Nam, phân tích tầm quan trọng của việc
nâng cấp CCƯTC của ngành CNTT Việt Nam; từ đó phân tích tác động của các
nhân tố này đối với Việt nam trong giai đoạn hiện nay rất khác xa với giai đoạn
Đài Loan thực hiện phát triển CNTT trước đây.
Phân tích, đánh giá thực tiễn tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan
giúp làm sáng tỏ lý luận về CCƯTC ngành CNTT, giúp hiểu rõ hơn và vận dụng
tốt hơn lý luận trong việc phát triển CCƯTC ngành CNTT ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án mang ý nghĩa lý luận sâu sắc, góp phần hệ thống hoá các cơ sở lý
luận về CCƯTC và việc tham gia CCƯTC của ngành CNTT thông qua việc tiến
hành thống nhất các khái niệm, phân loại chuỗi cung ứng và chủ thể tham gia
chuỗi cung ứng, đưa ra các tiêu chí đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến CCƯTC;
các chính sách và công cụ để tham gia và nâng cấp CCƯTC của các ngành công
nghiệp, trong đó có ngành CNTT.
Luận án mang ý nghĩa thực tiễn cao bởi việc nghiên cứu sự tham gia và nâng
cấp CCƯTC của ngành CNTT Đài Loan sẽ giúp Việt Nam có thêm các bài học
tham khảo và các kiến nghị chính sách thiết thực, giúp ngành CNTT Việt Nam
tham gia hiệu quả vào CCƯTC.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUỖI CUNG ỨNG
TOÀN CẦU NGÀNH CNTT ĐÀI LOAN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
- Nghiên cứu đến các vấn đề lý thuyết về CCƯTC và đặc điểm của chuỗi.
- Nghiên cứu về thực trạng Đài Loan tham gia CCƯTC ngành CNTT.
- Nghiên cứu liên quan tới giải pháp giúp Việt Nam nâng cao vị trí của ngành
CNTT trong CCƯTC
1.2. Những giá trị của công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, khoảng
trống nghiên cứu và điểm mới của luận án
1.2.1. Những giá trị của công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong phần lý thuyết, các công trình nghiên cứu trên đây đã phần nào làm rõ
khái niệm về chuỗi cung ứng, ngành CNTT, CCƯTC ngành CNTT. Các lý thuyết
cơ bản liên quan đến chuỗi cung ứng hàng hoá, đặc điểm của CCƯTC ngành
CNTT cũng được nhiều tác giả đi trước phân tích và đánh giá. Đây là những giá
trị nghiên cứu mà luận án sẽ kế thừa để xây dựng khung phâm tích và tiêu chí
đánh giá CCƯTC ngành CNTT cả Đài Loan.
5


Trong phần cơ sở thực tiễn, các công trình nghiên cứu trước đó đã làm rõ bối
cảnh hình thành và phát triển CCƯTC ngành CNTT ở khu vực Đông Á, một số
nghiên cứu điển hình về việc tham gia chuỗi cung ứng này của các quốc gia trong
khu vực. Đây là những thông tin quan trọng để tác giả luận án hiểu được vị trí và
thứ hạng của Đài Loan trong CCƯTC ngành CNTT, giúp tác giả luận án kế thừa
tư liệu, tài liệu để hình thành cơ sở thực tiễn cho đề tài.
Nghiên cứu về thực trạng tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan có
rất nhiều và đa dạng. Các công trình nghiên cứu này cung cấp thông tin, đánh
giá, luận cứ, luận chứng, giúp tác giả luận án có cơ sở để phân tích chính sách,
thực trạng tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan, những thành công và
hạn chế trong việc tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan.
Nghiên cứu về việc tham gia CCƯTC ngành CNTT của Việt Nam được trình
bày qua nhiều báo cáo, tài liệu nghiên cứu khác nhau, với những số liệu và cách
tiếp cận khác nhau. Các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về các biện pháp,
chính sách phát triển ngành CNTT của Đài Loan, thực trạng phát triển của ngành
CNTT Đài Loan, vai trò và vị trí của ngành CNTT Đài Loan trong nền kinh tế
và trong thứ hạng toàn cầu Qua các nghiên cứu này, tác giả luận án có cơ sở để
đánh giá thực trạng và vị trí của Việt Nam trong tham gia CCƯTC ngành CNTT.
1.2.2. Khoảng trống nghiên cứu và điểm mới của luận án
Thứ nhất, còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu về chuỗi cung ứng và đặc
điểm của chuỗi cung ứng trong ngành CNTT. Các nghiên cứu của nhóm lý thuyết
được liệt kê trên đây đã tiếp cận chuỗi cung ứng theo một hoặc số cách khác
nhau. Như đã liệt kê ở phần trên, các tài liệu nghiên cứu trong nước và ngoài
nước có rất nhiều, nhưng các công trình này đã chưa trả lời thấu đáo các câu hỏi
liên quan đến CCƯTC, CCƯTC trong ngành CNTT; đặc điểm của CCƯTC trong
ngành CNTT; cơ chế hoạt động của CCƯTC ngành CNTT; điều kiện cần và đủ
để tham gia CCƯTC ngành CNTT; các chính sách và biện pháp chủ yếu để các
nước tham gia CCƯTC ngành CNTT. Các câu hỏi nhỏ này đã không được các
công trình nghiên cứu trước đó giải quyết thấu đáo, thậm chí đã không có một
công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào giải quyết thấu đáo cơ sở lý luận về
CCƯTC trong ngành CNTT. Đây chính là “khoảng trống” cần tiếp tục được
nghiên cứu để hình thành khung phân tích và tiêu chí đánh giá cho đề tài.
Thứ hai, cách tiếp cận và quan điểm nghiên cứu về thực trạng tham gia
CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan còn khác nhau. Số liệu, tư liệu và những
nhận định đánh giá còn khá rời rạc, đa quan điểm, chưa lô gic, chưa hệ thống và
chưa cập nhật. Hơn nữa, không có một công trình nghiên cứu nào trả lời hoàn
chỉnh các câu hỏi: Đài Loan đã tham gia CCƯTC trong ngành CNTT bằng cách
6


nào và đã đạt được những thành công và hạn chế gì? Đây là “khoảng trống” tiếp
tục được nghiên cứu trong luận án để làm rõ những thành công và hạn chế trong
tham gia CCƯTC ngành CNTT của Đài Loan.
Thứ ba, thiếu vắng các công trình nghiên cứu về bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam. Đây là khoảng trống mà luận án tiếp tục nghiên cứu. Mặc dù đã có
nhiều nghiên cứu về thực trạng phát triển ngành CNTT của Việt Nam, chính sách
và các nhân tố ảnh hưởng, nhưng các công trình nghiên cứu trước đó đã không
xác định rõ được mức độ tham gia của CNTT Việt Nam trong CCƯTC, phân tích
sâu các nhân tố tác động vào sự tham gia của CNTT Việt Nam trong CCƯTC.
Đây là nhiệm vụ vô cùng cần thiết, cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án để có
thể đưa ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các chính sách giải pháp cụ thể,
khả thi nhất để nâng cao hiệu quả của ngành CNTT Việt Nam trong CCƯTC
trong thời gian tới. Đây cũng là dự kiến kết quả đóng góp thực tiễn của luận án.
Thứ tư, về mặt kỹ thuật, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đưa
ra các cơ sở số liệu rời rạc, chưa hệ thống, chưa cập nhật, từ nhiều nguồn khác
nhau với cách tiếp cận khác nhau. Vì vậy nhiệm vụ của luận án là tiếp tục cập
nhật các số liệu, hệ thống hoá và logic các các số liệu, tư liệu theo các nhiệm vụ
nghiên cứu của luận án.
1.2.3. Khung phân tích của đề tài

Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THAM
GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH CNTT
2.1. Khái quát về chuỗi cung ứng toàn cầu
2.1.1. Các khái niệm cơ bản
- Chuỗi cung ứng:
Chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sản xuất
và phân phối một sản phẩm hoặc một dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung
7


cấp đầu tiên đến khách hàng tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng một mặt hàng
là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo ra sản phẩm cuối cùng
và được phân phối tới tay người tiêu dùng cuối cùng.
- Chuỗi cung ứng toàn cầu:
CCƯTC được hiểu là một mạng lưới cung ứng trên toàn thế giới khi một công
ty mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài. CCƯTC liên quan đến
việc kết nối tất cả các bên đối tác, nguồn lực, doanh nghiệp liên quan đến việc
sản xuất, xử lý và phân phối nguyên liệu, thành phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đến
tay người tiêu dùng cuối cùng.
- Phân biệt chuỗi cung ứng toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu:
CCƯTC và chuỗi giá trị toàn cầu có sự khác nhau về mặt khái niệm. CCƯTC
hàm ý đến tất cả các hoạt động liên quan đến sự kết nối các hoạt động thu mua,
sản xuất, logistics của sản phẩm trên phạm vi toàn cầu; trong khi đó chuỗi giá trị
liên quan đến một loạt các hoạt động sản xuất, tạo ra giá trị gia tang cho sản phẩm
thông qua người tiêu dùng. Chuỗi cung ứng liên quan đến quản trị các hoạt động
của doanh nghiệp, để từ đó sản phẩm được di chuyển từ nơi này sang nơi khác,
trong khi đó chuỗi gía trị liên quan đến quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.
- Mạng sản xuất quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu:
Mạng sản xuất toàn cầu là các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ ở nhiều quốc
gia khác nhau trên thế giới liên kết chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, cùng
tham gia vào việc sản xuất, phân phối, cung cấp các dịch vụ bảo dưỡng, bảo hành
trong quá trình sử dụng một sản phẩm.
2.1.2. Cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và các chủ thể tham gia chuỗi
cung ứng toàn cầu
2.1.2.1. Cấu trúc chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng liên kết nhiều doanh nghiệp độc lập với nhau, mỗi doanh
nghiệp có một cấu trúc và tổ chức riêng bên trong tương ứng với đặc điểm hoạt
động và mục tiêu riêng.
Một chuỗi cung ứng bao gồm cấu trúc chiều dọc và cấu trúc chiều ngang. Cấu
trúc dọc của chuỗi được tính bằng số lượng các cấp/lớp dọc theo chiều dài chuỗi,
khoảng cách theo chiều dọc được tính là khoảng cách từ doanh nghiệp trung tâm
đến khách hàng cuối cùng. Trong cấu trúc chiều dọc, các hoạt động trước nó
được gọi là cấu trúc ngược dòng; còn các hoạt động phía sau nó được gọi là cấu
trúc xuôi dòng.
Cấu trúc chiều ngang của chuỗi được tính bằng số lượng các doanh nghiệp ở
mỗi cấp/lớp. Sự sắp xếp các doanh nghiệp theo cấp/lớp cho phép nhận diện các
doanh nghiệp trung tâm của chuỗi. Ở nhiều chuỗi, khách hàng nhận thức doanh
8


nghiệp trung tâm thông qua thương hiệu sản phẩm chuỗi đó mang lại, dù doanh
nghiệp đó không thực hiện chức năng sản xuất và không có tài sản cố định lớn.
2.1.2.2. Các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung ứng bao gồm nhiều chủ thể liên kết với nhau. Thuật ngữ chuỗi
cung ứng cho thấy một mối liên kết cung ứng sản phẩm dịch chuyển từ nhà cung
cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và cuối cùng là khách hàng dọc
theo chuỗi cung ứng.
2.1.3. Các yếu tố chi phối sự phát triển chuỗi cung ứng
Có 5 yếu tố chủ yếu chi phối sự phát triển của một chuỗi cung ứng toàn cầu,
đó là: sản xuất, lưu kho, địa điểm, vận tải và thông tin.
2.1.4. Các chính sách và biện pháp để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
Thứ nhất, phát triển cơ sở hạ tầng để cải thiện hoạt động thương mại, tạo điều
kiện giảm chi phí trong CCƯTC.
Thứ hai, các chính sách liên quan tự do hoá thương mại và mở cửa kinh tế
Thứ ba, nâng cao nội lực doanh nghiệp trong nước để tham gia hiệu quả vào
CCƯTC
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực để giúp doanh nghiệp tham gia hiệu quả
vào CCƯTC.
2.2. Tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của ngành CNTT
2.2.1. Chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
- Chuỗi cung ứng ngành CNTT: Chuỗi cung ứng ngành CNTT bao gồm mọi
hoạt động liên quan đến việc cung cấp, sản xuất và phân phối một sản phẩm
CNTT hoặc một dịch vụ CNTT hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến
khách hàng tiêu dùng cuối cùng.
Đặc điểm chính của các sản phẩm CNTT là tính quy mô, phức tạp và các quy
trình sản xuất bị phân mảnh trong CCƯTC. Ngành CNTT bao gồm nhiều lĩnh
vực và sản phẩm khác nhau từ máy tính và thiết bị ngoại vi, đến các thành phần
linh kiện trong sản phẩm ô tô và hàng không, do vậy nó có tính phân khúc thị
trường rất lớn trong tiêu dùng, kinh doanh và thiết bị công nghiệp. Các sản phẩm
CNTT cũng có những đặc điểm tương đồng về mô đun, được tiêu chuẩn hoá và
dễ dàng trao đổi trên thị trường.
2.2.2. Các chủ thể tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT
Chuỗi cung ứng của ngành CNTT thường được đặc trưng bởi mức độ gia
công và thuê ngoài rất cao. Điểm bắt đầu tự nhiên của chuỗi cung ứng ngành
CNTT cũng bắt đầu từ vật tư, nguyên liệu => các công đoạn làm gia công => các
nhà sản xuất thiết kế gốc => các công đoạn sản xuất thiết bị gốc => các công ty
có thương hiệu => kênh phân phối => khách hàng cấp 1,2,3,..n và người tiêu
9


dùng cuối cùng. Mỗi một ngành có thể có nhiều CCƯTC khác nhau. Mỗi một
chuỗi toàn cầu bao gồm nhiều công ty thành viên tham gia cung ứng cho nhau.
Một công ty có thể đồng thời tham gia nhiều CCƯTC.
2.2.3. Điều kiện để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
- Điều kiện về con người: Hoạt động của chuỗi cung ứng ngành CNTT đòi
hỏi chi phí nhân công thấp trong giai đoạn đầu tham gia chuỗi cung ứng bởi hầu
hết các các hoạt động lắp ráp đều sử dụng rất nhiều lao động, và chi phí lao động
rẻ có thể làm giảm thiểu các chi phí chung của các doanh nghiệp khi tham gia
chuỗi cung ứng.
- Điều kiện về vốn: Muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng ngành CNTT, đòi
hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao tiềm lực về vốn. Càng tham gia sâu vào
chuỗi cung ứng, mức độ tự động hoá và các quy trình công nghệ hiện đại càng
tăng lên. Điều này tạo ra những khó khăn đối với các doanh nghiệp nhỏ, ít vốn
bởi nó tạo ra rủi ro cao hơn và không thể mang lại những hợp đồng lớn, có giá
trị. Chính vì điều kiện này, ngành CNTT thường là ngành thu hút nhiều FDI bởi
FDI thường đi kèm với nguồn vốn dồi dào, công nghệ hiện đại, có thể tạo ra các
tác động lan toả năng suất và tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
- Điều kiện về môi trường chính sách: Chính phủ cần phải tạo ra môi trường
kinh doanh thân thiện đối với các hoạt động của chuỗi cung ứng ngành CNTT
như các ưu đãi về thuế nhập khẩu, tín dụng thuế, cơ sở hạ tầng. Các doanh nghiệp
ngành CNTT thường tìm kiếm các nhà sản xuất địa phương ở những nơi có môi
trường đầu tư hấp dẫn, cơ sở hạ tầng thuận lợi. Ký kết các hiệp định thương mại
tự do, xây dựng các khu công nghệ, các khu chế xuất, các công viên công nghệ
với cơ sở hạ tầng tiên tiến và sự gần gũi về mặt địa lý sẽ giúp các doanh nghiệp
tiết kiệm các loại chi phí khi tham gia chuỗi cung ứng.
- Điều kiện về công nghệ: Các sản phẩm CNTT đều có vòng đời sản phẩm
ngắn, vì vậy các doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào CCƯTC phải thường
xuyên đổi mới công nghệ trong thời gian rất ngắn. Đồng thời, nó cũng yêu cầu
hàng hoá được giao đến thị trường cuối cùng trong một thời gian rất ngắn. Chu
kỳ sống của sản phẩm CNTT đang ngắn dần lại cùng với sự phát triển của công
nghệ 4.0 là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào
chuỗi cung ứng. Vòng đời sản phẩm ngắn cũng khiến các doanh nghiệp tập trung
nhiều hơn vào lợi thế về địa lý, bởi vị trí xa xôi càng khiến các thách thức về
vòng đời sản phẩm ngành CNTT càng lớn hơn.
Với các điều kiện trên đây khi tham gia CCƯTC ngành CNTT, chính phủ các
nước thường đưa ra những chính sách phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
ngành để có thể giúp các doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi cung ứng. Cụ thể:
10


- Ở giai đoạn đầu: đây là giai đoạn chủ yếu các doanh nghiệp tập trung vào
khâu cung ứng các sản phẩm và linh kiện lắp ráp có giá trị gia tăng thấp. Chính
phủ các nước thường tập trung vào huy động nguồn nhân lực đông, chi phí thấp,
cơ sở hạ tầng thuận lợi, môi trường đầu tư ưu đãi để thu hút các doanh nghiệp
FDI trong các ngành CNTT. Tuy nhiên, các chính phủ đã phải thực hiện các
chính sách hỗ trợ tiếp theo để các doanh nghiệp sẵn sàng tham gia vào giai đoạn
tiếp theo của chuỗi cung ứng, đó là: tăng chi tiêu R&D cho các doanh nghiệp và
các dự án đầu tư CNTT, khuyến khích xây dựng các phòng thí nghiệm, các trung
tâm nghiên cứu các sản phẩm CNTT; tạo dựng môi trường tài chính thuận lợi để
phát triển quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ; cải thiện môi trường nghiên cứu khoa học;
hỗ trợ tài chính và tư vấn cho các doanh nghiệp CNTT.
- Ở giai đoạn tiếp theo: các doanh nghiệp tập trung tham gia vào khâu cung
ứng các sản phẩm, linh kiện CNTT được lắp ráp và và sản xuất có giá trị gia tăng
thấp và trung bình. Kỹ năng người lao động, các hoạt động R&D là rất quan
trọng đối với các doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi cung ứng của ngành. Các
nước thường tập trung phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các trường/viện
nghiên cứu để đào tạo nhân tài cho ngành CNTT, phát triển các chiến lược dài
hạn để ưu tiên chuyển giao công nghệ và phát triển khoa học công nghệ.
- Ở giai đoạn cuối cùng: các doanh nghiệp tập trung tham gia vào khâu cung
ứng các sản phẩm được sản xuất và thiết kế có giá trị gia tăng cao, có thương
hiệu. Để tham gia chuỗi cung ứng trong giai đoạn này, các doanh nghiệp đã đạt
đến trình độ công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Các doanh nghiệp
thường có xu hướng tìm kiếm các kênh thị trường, các nhà cung ứng ở nước
ngoài để chuyển giao công nghệ, dịch chuyển dần các khâu cung ứng thấp hơn
ra nước ngoài để tiết kiệm chi phí.
2.3. Bối cảnh hình thành và phát triển chuỗi cung ứng toàn cầu ngành
CNTT ở Đông Á và cơ hội tham gia của các quốc gia trong khu vực
- Sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng ngành CNTT Đông Á
Sự phát triển của các mạng lưới sản xuất toàn cầu trong ngành CNTT bắt đầu
được tiến hành từ những năm 1960s. Trong giai đoạn đầu, ngành công nghiệp
CNTT đã toàn cầu hóa sản xuất, chuyển từ Bắc Mỹ sang Châu Âu và sau đó sang
Nhật Bản cho các nước NIE và ASEAN-4. Vào nửa cuối của thập niên 1980, khả
năng cạnh tranh của các nước Đông Á đặc biệt trong các lĩnh vực như bán dẫn,
điện tử tiêu dùng và máy tính cá nhân đã được cải thiện đáng kể và các nước
Đông Á bắt đầu chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng kim ngạch thương mại toàn
thế giới trong lĩnh vực CNTT. Đông Á trở thành tâm điểm của phần lớn các công
đoạn sản xuất điện tử theo phương thức thuê ngoài và gia công cho các công ty ở
11


Mỹ. Khi các nhà sản xuất điện tử ở các nước NIE có được kiến thức chuyên môn
và khi chi phí nhân công tăng lên, thì làn sóng gia công và thuê ngoài thứ hai trong
CCƯTC ngành CNTT đã xảy ra với các nước châu Á có mức lương thấp hơn. Vào
đầu thập niên 1990, Trung Quốc bắt đầu tham gia vào chuỗi cung ứng CNTT toàn
cầu. Vào đầu năm 2004, 70% máy tính xách tay Đài Loan đã được sản xuất tại
Trung Quốc. Cũng vào giữa thập niên 1990, Việt nam bắt đầu tham gia CCƯTC
ngành CNTT khu vực Đông Á khi các doanh nghiệp điện tử tiêu dùng của Nhật
Bản chuyển các địa điểm sản xuất sang Việt Nam. Từ năm 2005 trở lại đây, Việt
Nam bắt đầu trở thành nhà cung cấp các linh kiện điện tử và các sản phẩm CNTT
khác sang Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu và nhiều khu vực khác trên thế giới.
Vị trí tham gia của các quốc gia Đông Á trong CCƯTC ngành CNTT được
thể hiện khá khác nhau. Trong gần 30 năm qua, Đông Á nói chung và Trung
Quốc nói riêng ngày càng trở nên quan trọng trong CCƯTC ngành CNTT. Sự
tham gia của khu vực Đông Á vào CCƯTC ngành CNTT được kiểm định bằng
nhiều tiêu chuẩn: Giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các doanh nghiệp điện
tử nội địa Đông Á đã sản xuất ra nhiều chủng loại hàng điện tử dân dụng có chất
lượng, ký kết được các hợp đồng với các hàng nước ngoài lắp ráp các chip điện
tử, chế tạo các mạch tích hợp, tiến tới trở thành các ODM, sản xuất ra các máy
tính xách tay với thương hiệu riêng. Giai đoạn tiếp theo, các nhà cung cấp tại
châu Á đã tiến tới các hoạt động phát triển công nghệ, phát triển năng lực thiết
kế, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ toàn cầu và sử dụng hệ thống thông tin số hoá có
hiệu quả. Mỗi quốc gia đã có cách thức riêng để tham gia vào chuỗi cung ứng và
ở Đông Á hình thành hai loại doanh nghiệp cung ứng, đó là các nhà cung ứng
bậc cao và các nhà cung ứng bậc thấp.
- Cơ hội tham gia CCƯTC ngành CNTT cho các quốc gia: Cuộc cách mạng
4.0 đang tác động mạnh mẽ đến CCƯTC ngành CNTT: Nhà máy thông minh;
Internet of Services; Dữ liệu lớn (Big data); Nguồn nhân lực chất lượng cao. Và
để đối phó với những thay đổi này, các nhà quản lý chuỗi cung ứng cần phải tập
trung: Quản lý nhà cung cấp; Thực hiện chuỗi cung ứng minh bạch; Hoạch định
nhu cầu; Thiết kế mạng lưới cung ứng.
Chương 3
THỰC TIỄN THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU NGÀNH
CNTT CỦA ĐÀI LOAN
3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế khi Đài Loan tham gia chuỗi cung
ứng toàn cầu ngành CNTT
3.1.1. Bối cảnh trong nước
12


Lịch sử phát triển kinh tế Đài Loan trải qua 5 giai đoạn phát triển chủ yếu: (1)
Cải cách điền địa trong thập niên 1950s để hình thành nền kinh tế nông nghiệp
quy mô vừa và nhỏ; (2) Phát triển các ngành xuất khẩu sử dụng nhiều lao động
trong thập niên 1960 như dệt may, công nghiệp nhẹ; (3) Do bị tác động của khủng
hoảng dầu lửa Trung Đông (1970s), Đài Loan chuyển hướng tập trung phát triển
các ngành công nghiệp hóa chất; (4) Từ đầu thập niên 1980 bắt đầu chuyển hướng
sang chế biến và xuất khẩu hàng điện tử và bán dẫn; (5) Trong những năm đầu
2000s, hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, lấy CNTT và công nghệ kỹ thuật
số làm nền tảng cơ bản để phát triển kinh tế.
Tương ứng với các giai đoạn phát triển kinh tế đó, Đài Loan tham gia chuỗi
cung ứng CNTT toàn cầu bắt đầu từ rất sớm, trong thập niên 1960, nước này bắt
đầu các hoạt động lắp ráp thiết bị điện tử như máy thu thanh, máy ghi âm… Sang
thập niên 1970, Đài Loan phát triển những doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện
tử như ống phóng điện tử CRT, thử nghiệm vi mạch, đồng hồ điện tử, trống từ
cho đầu video. Sang thập niên 1980, Đài Loan tham gia vào lĩnh vực sản xuất
máy tính với các sản phẩm thiết bị bán dẫn, máy tính cá nhân, máy tính màn hình
màu. Sang thập niên 1990, Đài Loan thực hiện sản xuất vi điện tử, nhanh chóng
trở thành nhà cung ứng hàng đầu thế giới về các sản phẩm bo mạch chủ, màn
hình, máy scan và chuột vi tính. Đến hai thập niên đầu thế kỷ XXI, Đài Loan đã
là một trong những nước tham gia sâu rộng nhất vào chuỗi CNTT toàn cầu, đặc
biệt trong các lĩnh vực đóng gói, thử ngiệm và thiết kế vi mạch, chế tạo DRAM…
3.1.2. Bối cảnh quốc tế
Đài Loan tham gia sâu vào chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu trong bối cảnh thế
giới bắt đầu bước vào thời kỳ khu vực hóa và toàn cầu hóa. Những đặc trưng cơ
bản của toàn cầu hóa và khu vực hóa đã đặt Đài Loan vào nhiều cơ hội và thách
thức mới. Cơ hội lớn nhất là có thể đưa Đài Loan tham gia dễ dàng vào nền kinh
tế toàn cầu, bởi đất nước này đã có những phát triển vượt bậc trong các ngành
công nghiệp tập trung nhiều vốn và lao động, có nguồn nhân lực chất lượng cao
và có kỹ năng. Tuy nhiên, thách thức đặt ra cho Đài Loan là buộc phải tham gia
các tổ chức toàn cầu, tự do hóa các ngành công nghiệp và tài chính trong nước,
nới lỏng kiểm soát ngoại hối, thực hiện nhanh chiến lược công nghiệp hóa hướng
vào xuất khẩu để thích ứng với dòng thác khoa học công nghệ trên thế giới và
thích ứng với chuỗi giá trị, CCƯTC.
Kể từ khi cách mạng CNTT bùng nổ, sản xuất tại nước ngoài phát triển rất
nhanh trong lĩnh vực này. Các nhà lãnh đạo của các chi nhánh OEM đã thiết lập
được hệ thống điểm sản xuất, bán hàng mới ở nước ngoài và trong một số trường
hợp các cơ sở sản xuất này đã xác lập được vị trí chắc chắn của mình trong mạng
13


lưới sản xuất toàn cầu. Sự phát triển nhanh mạnh của ngành công nghệ điện tử
thông tin trên thế giới đã buộc các nước Đông Á, trong đó có Đài Loan, phải linh
hoạt trong việc đầu tư vào các doanh nghiệp điện tử thông tin của nước này, đa
dạng hóa sản xuất các loại sản phẩm, mở rộng mạng lưới cung cấp linh kiện và
gia công hàng hóa cho các hãng nước ngoài, đồng thời phải dung hóa lợi ích giữa
các OEM và các nhà sản xuất theo hợp đồng, từ đó nắm bắt các bí quyết công
nghệ và các kỹ năng quản lý, dần dần nâng cấp ngành CNTT của nước mình dưới
sự hỗ trợ chính sách tích cực của chính phủ.
3.2. Các chính sách và biện pháp phát triển CNTT của chính quyền Đài
Loan để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
3.2.1. Phát triển cơ sở hạ tầng cho chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Tính đến thời điểm năm 2011, Đài Loan có khoảng 19 viện nghiên cứu công
nghệ do nhà nước thành lập, trong đó có 8 viện nghiên cứu có chức năng thiết kế
chính sách công nghiệp, công nghệ, và 11 viện nghiên cứu có chức năng thực
hiện công nghiệp, công nghệ.Trong số các viện nghiên cứu đó, có các viện
chuyên về chức năng nghiên cứu công nghệ thong tin như Viện nghiên cứu công
nghệ công nghiệp, Viện nghiên cứu CNTT, Công viên khoa học Hsinchu.
3.2.2. Chính sách liên quan đến tự do hoá thương mại và mở cửa kinh tế:
Cùng với khu chế xuất Cao Hùng, các khu chế xuất khác đã được Đài Loan thiết
lập để phục vụ xuất khẩu, tập trung đầu tư R&D, sản xuất các sản phẩm CNTT
giá trị cao, thử nghiệm và đóng gói các chip điện tử, các module LCD và các sản
phẩm công nghệ quang điện tử học. 3 khu chế xuất Nantze, Kaohsiung và
Taichung là địa điểm thu hút FDI lớn nhất ở Đài Loan. Cho đến nay, ở Đài Loan
có tất cả 8 khu chế xuất, được xây dựng ở miền Trung và miền Nam Đài Loan.
3.2.3. Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tham gia hiệu quả vào
chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT
Theo thống kê của Bộ quan hệ kinh tế, vào năm 2010 Đài Loan có khoảng 1,24
triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 97,77% tổng các doanh nghiệp của Đài Loan.
Để hỗ trợ cho sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính quyền Đài Loan đã lập
ra một số quỹ như Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và Quỹ phát triển quốc
gia. Ở Đài Loan hiện nay có khoảng 140 trung tâm ươm tạo và 81% trong số đó
thuộc về các trường đại học. Đài Loan cũng có hai quỹ đầu tư mạo hiểm là Angel
Fund và Quỹ Phát triển Quốc gia để đầu tư đối ứng cho các startup trong lĩnh vực
internet cùng với các quỹ đầu tư quốc tế.
3.2.4. Phát triển nguồn nhân lực cho CNTT
Đài Loan trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển CNTT đã rất thành công
trong đầu tư phát triển nguồn nhân lực trình độ cao một cách có hệ thống và nghiêm
14


túc. Trong quá trình công nghiệp hóa, Đài Loan đã sớm dành nguồn lực để đầu tư
phát triển nguồn nhân lực đáp ứng quá trình chuyển giao công nghệ, để từ đó nhảy
lên nấc thang công nghệ cao hơn so với nhiều nước đang phát triển khác. Quá trình
phát triển kinh tế của Đài Loan nói chung và của ngành CNTT nói riêng có mối
liên hệ chặt chẽ với giáo dục và dạy nghề trong các ngành công nghệ cao. Theo số
liệu của Bộ giáo dục Đài Loan (2012), Đài Loan tính đến năm 2012 có 155 trường
dạy nghề bậc cao, 14 trường đại học bậc thấp và 77 trường đại học nghiên cứu. Sự
phát triển vượt bậc của hệ thống dạy nghề và giáo dục đại học ở Đài Loan đã sản
sinh ra các thế hệ kỹ sư CNTT đủ năng lực đáp ứng chiến lược phát triển ngành
của quốc gia.
3.3. Quá trình tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu ngành CNTT của
Đài Loan
3.3.1. Trước thập niên 1980:
Vào thập niên 1960, ở Đài Loan đã đầu thành lập các doanh nghiệp điện tử
tiêu dùng theo hình thức thu hút đầu tư nước ngoài, chủ yếu là làm gia công cho
các hãng sản xuất của Mỹ có trụ sở tại Đài Loan, trong đó các doanh nghiệp vừa
và nhỏ của Đài Loan làm hạt nhân cung cấp các kinh liện lắp ráp để phục vụ xuất
khẩu sang Mỹ.
Sang thập niên 1970, do Đài Loan thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu,
nên các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất được chú trọng phát
triển, nên hầu hết các lĩnh vực công nghiệp điện tử ở Đài Loan vẫn do các doanh
nghiệp nước ngoài nắm giữ. Trong giai đoạn này, trên 50% các doanh nghiệp
điện và điện tử ở Đài Loan là doanh nghiệp nước ngoài, chiếm 2/3 kim ngạch
xuất khẩu của Đài Loan. Năm 1973, Viện Kỹ thuật công nghiệp được thành lập
và năm 1974, Viện công nghiệp điện tử được thành lập, nằm trong ITRI, tập
trung nghiên cứu sản phẩm bán dẫn. Năm 1978, nhà máy vi mạch đầu tiên được
thành lập tại ITRI và năm 1979 ITRI phát triển thành công con chíp vi mạch
thương mại cho đồng hồ và bắt đầu đặt hàng cho các nhà công nghiệp trong nước
sản xuất, thúc đẩy tiến trình sản xuất đồng hồ điện tử trong nước. Với các sản
phẩm này, Đài Loan bắt đầu chính thức bước chân vào CCƯTC ở giai đoạn sản
xuất gia công toàn cầu (CM) và sản xuất thiết bị gốc (OEM). Trong giai đoạn
này, cách thức tham gia của các doanh nghiệp Đài Loan là: một nhà sản xuất các
sản phẩm CNTT của Đài Loan tiến hành sản xuất và lắp ráp sản phẩm phù hợp
với những yêu cầu chi tiết và chính xác về sản phẩm do bên đặt hàng yêu cầu.
3.3.2. Từ thập niên 1980 đến nay:
Đầu thập niên 1980, ngành CNTT Đài Loan phát triển mạnh các sản phẩm
OEM. Trong giai đoạn này, sản xuất và xuất khẩu hàng hóa CNTT của Đài Loan
15


chủ yếu liên quan đến hàng hóa trung gian như vi mạch điện tử, đóng gói và kiểm
định sản phẩm vi mạch điện tử, màn hình tinh thể lỏng,... Nhìn chung trong suốt
thập kỷ 1980, các doanh nghiệp Đài Loan tập trung tham gia CCƯTC dưới hình
thức OEM, trở thành các nhà chế tạo gia công theo đơn đặt hàng.
Trong thập niên 1990, chính phủ Đài Loan đã nỗ lực đầu tư cho CNTT,
chuyển sự phát triển của ngành này từ giai đoạn tập trung sản xuất sang giai đoạn
tập trung đầu tư, dẫn đến sự phát triển nhanh mạnh của ngành CNTT từ năm
1992. Lúc này, Đài Loan đã trở thành nước sản xuất CNTT lớn thứ 3 trên thế
giới, trong đó việc tập trung đầu tư cho CNTT chủ yếu là loại màn hình TFTLCD. Từ năm 1996, nắm bắt được nhu cầu rất lớn trên thị trường về máy tính
bảng và màn hình monitor kết nối mạng, Đài Loan đã tập trung thu hút vốn FDI
và sự chuyển giao công nghệ của Nhật bản để sản xuất ồ ạt các loại sản phẩm
này, trở thành nước cung cấp TFT-LCD lớn trên toàn thế giới. Vào năm 1999,
lần đầu tiên Đài Loan vượt Nhật Bản về sản lượng notebook. Cùng với đó, Đài
Loan cũng tập trung vốn đầu tư cho ngành CNTT phần cứng và luôn ở vị trí dẫn
đầu về thị phần thế giới trong các sản phẩm như bàn phím máy tính, monitors,
scanner, graphich cards và modems. Tuy nhiên, ngành CNTT phần cứng ở Đài
Loan trong giai đoạn này vẫn tập trung vào sản xuất máy tính xá nhân, vì vậy
Đài Loan đã nâng cấp rất chậm chạp các hoạt động có giá trị gia tăng cao của
ngành CNTT phần cứng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việc làm nhà cung ứng cho các hãng lớn trên thế giới đã giúp các doanh
nghiệp Đài Loan nắm bắt được những công nghệ mang tính đa dạng và bí quyết
quản lý. Trong giai đoạn này, Đài Loan đã cố gắng nâng cấp ngành CNTT của
mình từ nhà sản xuất thiết bị gốc lên nhà thiết kế gốc theo đơn đặt hàng. Trong
quá trình tham gia ODM, các hãng CNTT Đài Loan đang cố gắng giữ vị trí tiên
phong về công nghệ, chuyển dần sang giai đoạn thiết kế, tiếp thị và xây dựng
thương hiệu.
Từ năm 2000 đến nay, Đài Loan đã dần nâng cấp ngành CNTT của mình lên
trở thành những nhà sản xuất thương hiệu gốc, nghĩa là sản phẩm CNTT của
Đài Loan đã dần đến tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhờ có chuyển động
vượt lên trên trong chuỗi giá trị tạo ra cho người tiêu dùng cuối cùng, nên các
hãng Đài Loan đã được người tiêu dùng dễ dàng chấp nhận thương hiệu về máy
tính cá nhân, smartphone và thiết bị ngoại vi khác bởi các sản phẩm giá rẻ hơn
so với các sản phẩm nhãn hiệu nước ngoài và chất lượng sản phẩm của các công
ty Đài Loan tương đối tốt. Tuy nhiên, các hãng CNTT cũng chịu phải những
thách thức không nhỏ trong vấn đề xúc tiến thương hiệu bởi giới tiêu dùng đã
quen với các thương hiệu cũ như HP, Samsung, Apple v.v… Do vậy, các doanh
16


nghiệp CNTT của Đài Loan đã tập trung đều tư vào R&D và đầu tư vào các kênh
thị trường chính để tránh sự cạnh tranh thương hiệu với các hãng nước ngoài
khác, đồng thời có thể định vị được thương hiệu của mình trên thị trường thế giới.
3.4. Đánh giá việc tham gia chuỗi cung ứng ngành CNTT của Đài Loan
3.4.1. Thành công
Thứ nhất, Đài Loan ở vị trí cao trong CCƯTC ngành CNTT. Ngành CNTT
Đài Loan hiện nay đang có vị trí quan trọng trong CCƯTC. Đài Loan đang là
nhà sản xuất máy tính xách tay số 1 thế giới với sản lượng trung bình hằng tháng
hơn 14 triệu đơn vị sản phẩm. Đài Loan đang nỗ lực trở thành người khổng lồ
công nghệ cao của thế giới. Tính đến cuối năm 2013, tổng giá trị sản lượng thiết
kế vi mạch toàn cầu đạt 81,36 tỷ USD thì Đài Loan đạt 16,32 tỷ USD, đứng thứ
hai trên thị trường thế giới về thiết kế vi mạch toàn cầu. Trong khâu đóng gói và
kiểm định vi mạch, Đài Loan đứng thứ nhất toàn cầu với doanh thu đạt 4,35 tỷ
USD năm 2013. Trong khâu dịch vụ sản xuất chất bán dẫn, Đài Loan đứng thứ
nhất thế giới với doanh thu đạt 25,5 tỷ USD. Ngoài ra, Đài Loan cũng đứng thứ
hạng cao trong CCƯTC ở lĩnh vực sản xuất hệ vi điện cơ (Micro Electro
Mechanical Systems – MEMS), LED và nhiều sản phẩm khác. Các doanh nghiệp
CNTT Đài Loan đã tập trung đầu tư R&D, tham gia quản lý chuỗi cung ứng
xuyên biên giới, các dịch vụ hậu cần và các dịch vụ sau bán hàng.
Thứ hai, Đài Loan tham gia sâu vào chuỗi cung ứng ODM và OEM cả
trong sản phẩm CNTT phần cứng và phần mềm
Trong vài năm trở lại đây, các sản phẩm CNTT của Đài Loan luôn đạt tốc độ
tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu. Nhiều sản phẩm có giá trị xuất khẩu
cao và chiếm vị trí quan trọng trên thị trường thế giới, đặc biệt là các sản phẩm
notebook và netbook (NB PC), tablet, bo mạch chủ (motherboard – MB), máy
chủ (server) và màn hình tinh thể lỏng (LCD MTR). Năm 2014, hàng notbook
và netbook chiếm 84,9% thị phần thế giới, hàng bo mạch chủ chiếm 85%, máy
chủ chiếm 85,9% và LCD MTR chiếm 66,5% thị phần thế giới. Trong lĩnh vực
công nghệ phần mềm, các doanh nghiệp Đài Loan gần đây đã thiết kế và tung ra
thị trường thế giới các thiết bị dịch vụ viễn thông mạng LTE 4G, được các nhà
tiêu dùng trên toàn thế giới ưa chuộng. Đài Loan đã trở thành nhà cung cấp các
thiết bị smartphone có giá cả và chất lượng cạnh tranh trên thế giới theo mô hình
cung ứng ODM và OEM, đồng thời đã mở rộng thương hiệu của các sản phẩm
LTE 4G ra toàn thế giới.
Sự chiếm lĩnh thị phần của nhiều sản phẩm CNTT phần cứng và phần mềm
của Đài Loan trên thị trường toàn cầu đã đưa Đài Loan có một vị trí ngày càng
quan trọng trong chuỗi cung ứng CNTT toàn cầu.
17


Thứ ba, các khâu liên kết trong CCƯTC ngành CNTT Đài Loan đều đảm
bảo thông suốt và hiệu quả
Để tham gia sâu vào CCƯTC, các doanh nghiệp thông tin lớn của Đài Loan
đã mở rộng mạng lưới sản xuất ở khắp nơi trên thế giới, từ đó hình thành nên
mối quan hệ mật thiết giữa sản xuất và tiêu dùng cuối cùng. Chẳng hạn hãng
Acer hiện nay đang có các công ty con ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình là ở
Mỹ, Trung Cận Đông, Trung Quốc, Mỹ Latinh.
Thứ tư, mức độ hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành CNTT tương đối hiệu
quả, sản phẩm đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Thông qua quan hệ hợp đồng cung ứng với các công ty sở hữu nhãn hiệu và
đứng đầu mạng sản xuất khắp thế giới, các OEM và ODM Đài Loan dần dần trở
nên hiểu rõ người tiêu dùng cuối cùng (khách hàng của các công ty đứng đầu
mạng). Một số công ty Đài Loan bắt đầu chủ động đề xuất các thiết kế sản phẩm,
tổ chức các dây chuyền sản xuất, đóng gói và kế hoạch logistics. Đài Loan tiếp
tục tiến sâu vào CCƯTC nhờ dây chuyền đóng gói sản phẩm. Trong số 10 doanh
nghiệp đóng gói CNTT lớn nhất trên thế giới, có mặt 4 hãng Đài Loan là ASE,
SPIL, PTI, ChipMOS.
Trong số 20 hãng thiết kế hàng đầu thế giới về CNTT, Mỹ có 11 hãng (đứng
vị trí đầu bảng), tiếp theo là Đài Loan (5 hãng), châu Âu (2 hãng), Singapore (1
hãng), Trung Quốc (1 hãng). 5 hãng thiết kế sản phẩm CNTT lớn nhất của Đài
Loan là Media Tek, Novatek, Reatek, Avago và MStar.
Thành công của Đài Loan trong việc tham gia chuỗi cung ứng CNTT toàn
cầu nhờ vào 3 đặc trưng cơ bản: 1) tạo ra các sản phẩm chi phí thấp và trở thành
nhà cung cấp chiến lược cho các doanh nghiệp nước ngoài; 2) sử dụng các kênh
công nghệ khác nhau để trở thành sản phẩm make in Taiwan; 3) chấp nhận sự có
mặt của các công ty xuyên quốc gia trong các ngành công nghiệp chiến lược.
3.4.2. Hạn chế
Thứ nhất, Đài Loan tham gia chuỗi cung ứng chủ yếu là các sản phẩm
CNTT phần cứng, đang gặp phải sự cạnh tranh với các nước khác, đặc biệt là
Trung Quốc: Khi tham gia chuỗi cung ứng ở công đoạn OEM và ODM, ngành
CNTT chủ yếu quan tâm đến hai loại hình kinh doanh, đó là tận dụng lợi thế về
giá và kiểm soát số lượng sản phẩm. Vì vậy, khi tham gia chuỗi cung ứng sản
phẩm ra thị trường bên ngoài, các sản phẩm CNTT của Đài Loan gặp phải một
số thách thức như: mất nhiều thời gian chờ đợi, sản phẩm xuất đi mang tính chất
lặp đi lặp lại (không có tính mới) và buộc phải duy trì những lợi thế về giá cả.
Mặc dù các sản phẩm CNTT của Đài Loan có lợi thế to lớn liên quan đến thiết
kế sản phẩm và chế tạo, nhưng những thách thức này đã khiến sản phẩm của Đài
18


Loan phải cạnh tranh với một số đối thủ, đặc biệt là Trung Quốc – nơi có các sản
phẩm CNTT cùng loại với giá rẻ hơn rất nhiều. Đây cũng chính là lý do trong
thời gian gần đây các doanh nghiệp CNTT của Đài Loan đã chọn Trung Quốc là
cơ sở sản xuất của Đài Loan ở nước ngoài, tăng cường FDI vào Trung Quốc
trong các lĩnh vực CNTT, đưa Trung Quốc trở thành địa bàn gia công các sản
phẩm CNTT cho Đài Loan nhằm tận dụng lợi thế về nhân công và đất đai ở
Trung Quốc.
Thứ hai, hiệu ứng Bullwhip trong chuỗi cung ứng ngành CNTT Đài Loan:
Hiệu ứng Bullwhip (hiệu ứng cái roi da) cho rằng, thông tin nhu cầu không chính
xác chuyển tải từ một thành phần trong chuỗi cung ứng đến một thành phần khác
có thể dẫn tới lãng phí to lớn: mức độ dự trữ lớn quá mức, dịch vụ khách hàng
tồi, mất doanh số, kế hoạch sản xuất không chính xác, vận tải không hiệu quả.
Tại Đài Loan, do gặt hái được nhiều thành quả trong phát triển CNTT và thứ
hạng cao trong CCƯTC về sản phẩm này trong một thời gian dài, nên những dự
báo mức cầu về sản phẩm CNTT trên thị trường thế giới trở nên không chính xác.
Trong mấy năm trở lại đây, sản xuất các sản phẩm CNTT phần cứng của Đài
Loan liên tục giảm do xuất khẩu giảm, hàng tồn kho lớn hơn, ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của Đài Loan trong CCƯTC. Đặc biệt, sự nổi lên của Trung
Quốc với các sản phẩm công nghệ giá rẻ và hàng chất lượng công nghệ cao hơn
của Hàn Quốc đang khiến các doanh nghiệp CNTT Đài Loan gặp khó khăn khi
tham gia chuỗi cung ứng.
Thứ ba, yếu kém trong việc xây dựng thương hiệu và nâng cao chất lượng
sản phẩm: Khi tham gia vào chuỗi OBM, hầu hết các doanh nghiệp của ngành
CNTT Đài Loan đều phụ thuộc vào ODM và OEM để phát triển thương hiệu ra
toàn cầu và họ phải dựa vào hình thức kinh doanh B2B, nghĩa là giao dịch thương
mại điện tử trực tiếp giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Mặc dù Đài Loan đã
cố gắng xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối
cùng bằng hình thức linh hoạt B2B2C, nhưng so với các đối thủ cạnh tranh khác
trên thị trường như các tập đoàn CNTT của Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, khả
năng cạnh tranh của các sản phẩm CNTT về chất lượng vẫn gặp nhiều vấn đề.
* Nguyên nhân của hạn chế
Thứ nhất, trong CCƯTC ngành CNTT, các doanh nghiệp Đài Loan tập trung
nhiều vào các khâu đổi mới công nghệ và tạo thương hiệu sản phẩm, chưa có sự
liên kết và tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng.
Thứ hai, các doanh nghiệp trong ngành CNTT của Đài Loan phần lớn là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hạn chế của các doanh nghiệp này là không đủ tiềm
lực để tiếp thu công nghệ mới hoặc đưa quy trình sản xuất sản phẩm lên quy trình
19


công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới với các chi nhánh mạng lưới doanh nghiệp
rộng khắp trên toàn cầu như các doanh nghiệp lớn thường làm.
Thứ ba, các doanh nghiệp CNTT của Đài Loan hiện nay đang phải đối mặt
với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt, không chỉ từ Trung Quốc, mà còn từ
các nền kinh tế mới nổi khác trong khu vực châu Á.
Thứ tư, do những bất đồng mang tính lịch sử giữa Đài Loan và Trung Quốc
đại lục, Đài Loan rất khó khăn trong việc tham gia các hiệp định thương mại tự
do (FTA) song phương và khu vực.
Chương 4
TRIỂN VỌNG THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG TOÀN CẦU
NGÀNH CNTT CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH
4.1. Sự tham gia của ngành CNTT của Việt Nam trong chuỗi cung ứng
toàn cầu
4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển CNTT của Việt Nam
Từ đầu thập niên 1990 Việt Nam đã bắt đầu phát triển ngành điện tử. Từ một
số ít các xí nghiệp lắp ráp điện tử dân dụng, liên doanh với các công ty điện tử
Nhật Bản như SONY, NATIONAL, SANYO… của những năm 1990, đến cuối
năm 2008 Việt Nam đã có 909 doanh nghiệp sản xuất lắp ráp và kinh doanh các
mặt hàng này. Chủng loại sản phẩm, phương thức sản xuất kinh doanh được đa
dạng hóa với tốc độ cao, điển hình ở các mặt hàng điện tử dân dụng, điện tử công
nghiệp và máy tính.
Từ hình thức nhập khẩu SKD sang nhập khẩu IKD, các doanh nghiệp trong
nước đã hình thành ý tưởng chiến lược xây dựng thương hiệu riêng cho các sản
phẩm điện tử sản xuất tại Việt Nam. Các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử như
Viettronic Thủ Đức, Biên Hòa, Đống Đa, Tân Bình, Hanel là những minh chứng
thực tiễn cho sự phát triển này.
Những năm gần đây, ngành điện tử Việt Nam chiếm vị trí quan trọng trên thị
trường khu vực và thế giới. Đầu những năm 1990 toàn ngành chỉ có khoảng 50
doanh nghiệp điện tử, thì hiện nay đã có khoảng 500 doanh nghiệp, thu hút khoảng
250.000 lao động và đáp ứng được nhu cầu trong nước về các sản phẩm điện tử,
CNTT – viễn thông thông dụng với tốc độ tăng 20-25%/năm. Từ năm 2005 trở lại
đây, ngành liên tục đứng top 10 trong số các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu
cao nhất của Việt Nam.Tuy nhiên, sản phẩm điện tử thông tin của Việt Nam vẫn
chủ yếu là linh kiện, phụ kiện, nằm ở vị trí thấp trong CCƯTC.
4.1.2. Vị trí của ngành CNTT Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Trong CCƯTC, ngành CNTT của Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát
20


triển so với các nước khác trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, Philippines,
trước đó nữa là Hàn Quốc, Đài Loan. Trong chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp
của Việt Nam đang nằm ở tầng/lớp gia công, lắp ráp sản phẩm, sản xuất linh kiện
của các sản phẩm điện tử phức tạp. So với các ngành công nghiệp khác của Việt
Nam, việc tham gia CCƯTC của ngành CNTT Việt Nam dường như ở những
cấp thấp hơn, chủ yếu là EMS (dịch vụ sản xuất điện tử) và OEM (sản xuất linh
kiện, thiết bị theo hợp đồng. Dưới các nhà sản xuất này là các nhà sản xuất, cung
ứng vật liệu cơ bản sử dụng trong sản xuất linh kiện, thiết bị. Ngành đang bị chi
phối bởi các doanh nghiệp FDI, gồm có Samsung, Canon, Microsoft, LG,
Intel….Các nhà máy FDI trong ngành CNTT đầu tư vào Việt Nam để giảm chi
phí sản xuất theo kênh: các doanh nghiệp FDI nhập khẩu hầu hết các linh kiện
cần thiết cho sản xuất, sau đó đã chuyển dần sang sử dụng nguồn các yếu tố đầu
vào tại địa phương để đơn giản hoá hoạt động logistics đầu vào.
Tuy nhiên, do doanh nghiệp nội địa trong ngành CNTT của Việt Nam yếu
kém, nên các doanh nghiệp FDI trong ngành này chiếm tới 90-95% giá trị kim
ngạch xuất khẩu và 60% nhu cầu tiêu dùng trong nước. Các doanh nghiệp vừa
và nhỏ trong nûớc có giá trị gia tâng thấp. Các công ty FDI không sử
dụng nguồn cung trong nûớc mà chủ yếu nhập khẩu phụ tùng, linh kiện để
lắp ráp. Họ chủ yếu sử dụng lao động và đất thuê giá rẻ.
Như vậy có thể thấy, mặc dù ngành CNTT Việt Nam trong nhiều năm gần
đây đã đạt tốc độ tăng trưởng rất nhanh, có những đóng góp lớn cho xuất khẩu,
là ngành đem lại giá trị ngoại tệ cao và thu hút lực lượng lớn lao động trong nước,
được đánh giá là biểu tượng của sự hội nhập kinh tế Việt Nam, nhưng các doanh
nghiệp nội địa Việt Nam trong ngành CNTT gần như đứng ngoài chuỗi cung
ứng. Các doanh nghiệp nội địa chỉ cung ứng được ở khâu sản xuất bao bì, thùng
carton, ốc vít và đóng gói, khó tham gia sâu hơn vào các khâu cung ứng có giá
trị gia tăng cao.
4.1.3. Thuận lợi và khó khăn của ngành CNTT Việt Nam khi tham gia
chuỗi cung ứng toàn cầu
* Thuận lợi
Thứ nhất, Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong khu vực có nền công
nghiệp phát triển nhanh và năng động, trong đó có ngành CNTT. Đây là một
thuận lợi lớn bởi vị trí địa lý là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt
động của chuỗi cung ứng.
Thứ hai, lợi thế về lao động và tài nguyên cho ngành CNTT.
Thứ ba, Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tạo đà thuận lợi
cho việc tham gia vào CCƯTC ngành CNTT.
21


* Khó khăn
Một là, doanh nghiệp nội yếu thế, chỉ có thể tham gia ở các vị trí thấp trong
CCƯTC.
Hai là, Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào các hợp đồng gia công ngành
CNTT trong CCƯTC. Do chưa tự cung cấp được nguyên liệu cho chính mình,
phải nhập khẩu từ bên ngoài, nên Việt Nam phụ thuộc vào chính nguồn cung đó.
Năng lực sản xuất của ngành còn nhiều hạn chế.
Ba là, trình độ công nghệ của ngành CNTT Việt Nam còn thấp, có khoảng
cách công nghệ quá xa so với các nước trong khu vực, vì vậy rất khó tham gia
sâu hơn vào CCƯTC.
4.2. Bài học kinh nghiệm từ Đài Loan
Bài học 1: Chính phủ có những chính sách hỗ trợ hợp lý trong phát triển
CNTT.
Một điểm cần lưu ý là các công ty Đài Loan không được bảo hộ trước các tập
đoàn nước ngoài vì Chính phủ đưa ra chiến lược tạo môi trường cạnh tranh lành
mạnh giữa các công ty nội địa và nước ngoài. Hơn nữa, các viện nghiên cứu
CNTT ở Đài Loan không phải là tổ chức Nhà nước, mà chỉ nhận sự hỗ trợ của
Nhà nước về mặt cơ chế, chính sách, cơ sở hạ tầng và tài chính. Nhà nước cũng
không bao cấp toàn bộ, hằng năm có hỗ trợ một phần kinh phí thường xuyên (dựa
vào kết quả hoạt động) và cấp kinh phí nghiên cứu thông qua các nhiệm vụ
nghiên cứu (tài trợ theo cơ chế cạnh tranh). Đồng thời, các viện nghiên cứu cũng
phải tìm nguồn thu khác từ khu vực công nghiệp, từ bản quyền sáng chế của họ...
Bài học rút ra từ Đài Loan là khi chính phủ hỗ trợ tích cực cho các viện nghiên
cứu và các công viên công nghệ phát triển CNTT, nhân tài là một tài sản vô giá.
Bài học 2: Năng lực học hỏi của người lao động và hệ thống giáo dục tốt đã
giúp ngành CNTT Đài Loan tiếp thu tốt chuyển giao công nghệ và nắm vững bí
quyết công nghệ của các công ty xuyên quốc gia.
Bài học 3: Chất lượng, giá thành và dịch vụ là những trụ cột chính để các
sản phẩm CNTT Đài Loan tham gia thành công CCƯTC. Chất lượng là yếu tố
tiên quyết. Các doanh nghiệp CNTT Đài Loan đã phải tiến hành hàng loạt các
thử nghiệm chất lượng khắt khe. Về đầu tư, lợi thế với dải sản phẩm đa dạng
trong chuỗi cung ứng CNTT đoàn cầu, các doanh nghiệp CNTT Đài Loan đã
cung cấp các sản phẩm với giá thành hợp lý nhất.
Bài học 4: Khuyến khích các doanh nghiệp CNTT Đài Loan phát triển thương
hiệu sản phẩm. Để xây dựng thương hiệu toàn cầu thành công, một số doanh
nghiệp CNTT Đài Loan đã phải thông qua những người có khả năng tạo ra xu
hướng tiêu dùng nhằm quảng bá sản phẩm. Do một thời gian dài làm thuê cho
22


các hãng CNTT lớn của nước ngoài, các doanh nghiệp CNTT Đài Loan đã biết
chọn lựa các sản phẩm riêng biệt, vừa lòng khách hàng cả về giá cả và chất lượng,
tạo ra sự khác biệt của sản phẩm CNTT Đài Loan giữa hàng trăm sản phẩm
CNTT trên thị trường thế giới.
Bài học 5: thận trọng trong phát triển thương hiệu để tránh những đứt gãy
đáng tiếc trong CCƯTC.Đài Loan đã gặp phải những đứt gãy đó khi đánh giá
không đúng tiềm năng thị trường thế giới về CNTT phần cứng, dẫn đến hiệu ứng
Bullwhip trong CCƯTC. Để tránh sự đứt gãy không đáng tiếc này, việc phát triển
các thương hiệu toàn cầu của các doanh nghiệp CNTT Đài Loan đã diễn ra hết
sức thận trọng . Do công nghệ trong ngành điện tử thay đổi rất nhanh, nên các
công ty xuyên quốc gia sẵn sàng chuyển giao những công nghệ không còn mới
nhất cho các nước đang phát triển để tập trung sức vào công nghệ mới. Bài học
rút ra là: cần cân nhắc về chiến lược đặt chuỗi cung ứng của mình như thế nào
để kiểm soát rủi ro và đạt được trạng thái cân bằng về lợi nhuận tiềm năng cho
các bên. Các giải pháp này bao gồm từ việc xác định chiến lược cơ bản về cung
ứng cho thị trường đến việc quyết định các chiến thuật phù hợp. Mặt khác, các
các doanh nghiệp CNTT Đài Loan dù có tiềm lực về tài chính dồi dào tới đâu
cũng khó tự mình xây dựng hoàn toàn riêng biệt một hệ thống chuỗi cung ứng,
mà cần phải hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài khác.
4.3. Kiến nghị chính sách cho Việt Nam
Thứ nhất, chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành CNTT.
Để thực hiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành CNTT, cần
thực hiện 4 nhóm giải pháp sau đây:
- Rà soát kỹ lưỡng và bổ sung các chính sách, giải pháp phát triển công nghiệp
hỗ trợ ngành CNTT, trong đó ưu tiên rà soát và bổ sung các chính sách, giải pháp
về thuế, đất đai, thủ tục hành chính nhập khẩu linh kiện, hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ
tiêu thụ sản phẩm, xúc tiến đầu tư…
- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, thành lập các khu công nghiệp, các trung tâm
giao dịch chuyên về công nghiệp hỗ trợ ngành CNTT, tạo đầu mối, chương trình
liên kết và thông tin giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước với các doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ.
- Xác định sản phẩm công nghiệp hỗ trợ tiêu biểu của ngành CNTT, để từ đó
tập trung đầu tư có trọng tâm nhằm nâng cao hàm lượng chất xám, khoa học công nghệ vào các lĩnh vực, nhóm sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và giá trị gia
tăng cao. Nhà nước cần đầu tư mạnh mẽ cho danh mục các sản phẩm hỗ trợ
ngành CNTT…
- Xác định các phân khúc sản phẩm, thị trường và khách hàng phù hợp để
23


tham gia hiệu quả CCƯTC của các doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, tập trung phát triển nguồn nhân lực cho ngành CNTT.
- Cần tư duy trên quan điểm vừa toàn diện, vừa phân đoạn lao động theo các
trình tự trong chuỗi sản xuất và cung ứng phù hợp với xu hướng phát triển của
khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Cần xây dựng và hoàn thiện các chính
sách, tiêu chuẩn tiên tiến cho nguồn nhân lực chất lượng cao trong từng phân
đoạn của chuỗi cung ứng ngành CNTT; Kiểm tra, đánh giá đúng chất lượng
nguồn nhân lực.
- Xây dựng một cơ cấu ngành hợp lý trong ngành CNTT, để từ đó xác định
những ưu tiên trong phát triển nguồn nhân lực. Trong mỗi phân đoạn, sẽ có những
biện pháp phát triển nguồn nhân lực một cách bài bản và cụ thể.
- Cần sắp xếp, phân đoạn, bổ sung, hoàn thiện các cơ sở đào tạo ở các cấp
trong đào tạo nguồn nhân lực ngành CNTT (đào tạo nghề, cao đẳng, đại học, sau
đại học). Gắn đào tạo lý thuyết với thực hành, nghiên cứu khoa hoc, đặc biệt là
lòng say mê nghiên cứu khoa học.
- Cần rà soát chọn các viện, trường đại học có năng lực, quy mô phù hợp để
tổ chức gắn kết chương trình đào tạo với thực tiễn sử dụng lao động của doanh
nghiệp ngành CNTT; vận dụng, khai thác có hiệu quả sự trợ giúp của các tổ chức
xúc tiến thương mại, tổ chức nghiên cứu, phát triển khoa học kỹ thuật của nước
ngoài như JETRO, JICA (Nhật Bản), KATECH (Hàn Quốc), INSA LYON
(Pháp),...
- Xây dựng các viện nghiên cứu, ứng dụng và các tổ chức trong lĩnh vực
CNTT.
- Cần áp dụng mô hình đào tạo liên kết 3 bên: doanh nghiệp - viện, trường cơ quan quản lý nhà nước để đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao theo yêu cầu
của doanh nghiệp.
- Tích cực hợp tác nghiên cứu, thu hút chuyên gia nước ngoài chuyển giao,
hỗ trợ phát triển CNTT.
Thứ ba, phát triển các cụm liên kết ngành CNTT.
- Nhà nước cần có biện pháp quy hoạch tổng thể phát triển ngành CNTT, từ
đó xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, công viên công nghệ trọng
điểm để thu hút sự quy tụ, đầu tư của các doanh nghiệp, tạo ra sự liên kết, nâng
cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp CNTT.
- Hình thành các cụm công nghiệp điện tử (cluster): Hình thành các cụm công
nghiệp điện tử thúc đẩy sự quy tụ, đầu tư của các doanh nghiệp nhằm tạo ra sự
liên kết, nâng cao hiệu quả hoạt của các doanh nghiệp điện tử. Cần nghiên cứu
xây dựng chính sách, hỗ trợ thành lập cụm công nghiệp điện tử.
24


Thứ tư, chủ động phát triển mạnh các liên kết sản xuất trong nước và quốc tế
để kiểm soát được hoạt động của chuỗi cung ứng.
- Các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm thông tin thị trường, ngành hàng
tiềm năng và các chuẩn mực quốc tế, trên cơ sở đó định hướng và xây dựng kế
hoạch phát triển dài hạn, tập trung hình thành một mảng sản xuất chuyên biệt
trong ngành công nghiệp điện tử toàn cầu.
- Các doanh nghiệp cần đẩy mạnh liên kết cả theo chiều ngang và chiều dọc.
- Tăng cường vai trò của các tổ chức ngành hàng trong ngành CNTT để kết
nối liên kết doanh nghiệp.
- Chủ động liên kết các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước
ngoài để sản xuất linh kiện, chi tiết, sản phẩm trung gian…
Thứ năm, coi trọng vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chú trọng xây
dựng quảng bá hình ảnh doanh nghiệp để tăng cường mức độ tín nhiệm trong
giao dịch với các nhà cung ứng.
- Khuyến khích và có chính sách ûu đãi đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đầu tû đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, không ô nhiễm
môi trûờng.
- Tích cực cải tiến quy trình sản xuất và hoàn thiện các tiêu chuẩn trong cung
ứng sản phẩm, linh kiện cho các nhà máy có vốn FDI như Samsung, Itel, LG…
- Hỗ trợ xây dựng và nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Xây dựng các chiến lược chủ động về nguồn cung nguyên liệu, thiết bị, linh
kiện và sản phẩm khác cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp các doanh nghiệp
vừa và nhỏ tận dụng hiệu quả nguồn nguyên vật liệu trong nước, hạn chế nhập
khẩu, từng bước tự túc nguyên liệu trong nước, đồng thời hạn chế và giảm thiểu
hàng tồn kho, hàng lỗi sản phẩm khi tham gia chuỗi cung ứng.
Thứ sáu, phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ công nghiệp CNTT
- Phát triển các cảng hàng không tại các vùng, cụm liên kết ngành công nghiệp
CNTT cần được quan tâm.
- Hệ thống cấp điện ổn định cũng rất cần thiết đối với ngành công nghiệp
CNTT.
KẾT LUẬN
Thứ nhất, tham gia CCƯTC là một nhiệm vụ cần thiết đối với mỗi quốc gia
để có thể nâng cấp vị trí và thứ hạng nền kinh tế của quốc gia đó cũng như các
sản phẩm chủ lực của mỗi quốc gia trên thị trường quốc tế. Để tham gia CCƯTC,
các quốc gia đều sử dụng rất nhiều loại biện pháp và chính sách khác nhau, tuỳ
từng ngành/sản phẩm) bởi việc tham gia CCƯTC không hề đơn giản.Nó đòi hỏi
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×