Tải bản đầy đủ

Đề cương chi tiết môn triết học

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC
Câu 1: Phân tích các vấn đề cơ bản của triết
học ,ccs trường phái triết học chủ yếu và các hình
thức biểu hiện của chúng trong lịch sử triết học
I, Vấn đề cơ bản của triết học
 Vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề giữa tư
duy và tồn tại, ý thức và vật chất, “tâm’ và “vật

 Nội dung vấn đề cơ bản của triết học gồm hai
mặt trả lời cho hai câu hỏi:
1)Giữa vật chất( tồn tại, tự nhiên)và ý thức
( tư duy, tinh thần), cái nào có trước cái
nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
2)Con người có thể nhận thức được thế giới
hay không ??/?
II, Các trường phái triết học chủ yếu
 Chủ nghĩa duy vật triết học
1)Thế giới quan duy vật cho rằng giữa vật
chất và ý thứ thì vật chất là cái có trước ý
thức là cái có sau,v ật chất quyết định ý
thức. Thế giới vật chất tồn tại khách quan

độc ập với ý thức con người, không do ai
sang tạo ra và không ai có thể tiêu diệt
được
2)Các hình thái cơ bản của chủ nghĩa duy
vật
 Hình thái lịch sử đầu tiên của CNDV là
CNDV chất phác ngây thơ thời cổ
đại.Quan điểm CNDV thời này nhìn
chung đúng đắn song còn ,mang tính
chất ngây thơ do các nhà khoa học cụ
thể chư phát triển


Ví dụ: Hê-ra-clit có câu nói : “Không
ai tắm hai lần trên cùng một dòng
sông ”
 CNDV siêu hình là hình thái đặc trưng
nổi trội của CNDV hế kỉ XVII-XVIII:cách
xem xét thế giới theo kiểu máy móc
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư duy
triết học. Đại diện cho thời kì này là
Hốp xơ, Hôn bách..
 CNDV biện chứng:đại diện là Mac và
Ăngen.thời kì của sự phát triển khoa
học với nhiều phát minh lớn đầu thế
kỉ XIX tạo cơ sở nhận thức vững chắc
cho sự phát triển tư dy biện chứng
 Chủ nghĩa duy tâm:
1)ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức
quyết định vật chất
2)Các hình thức của CNDT
 CNDT khách quan: với các đại biểu
platôn, heegen…cho rằng cái thực thể
tinh thần có trước lại chính là cảm giác
, là cái tồn tại sẵn trong con người
 CNDT chủ quan :Béc li,Hium,..cho rằng
cái thực thể tinh thần có trước là
chính cảm giác là cái tồn tại sẵ có
trong con người
 Nhị nguyên luận : vật chất và ý thức đều là
những nguyên bản đầu tiên của thế giới chúng
tồn tại không phụ thuộc vào nhau nhưng cuối
cùng các nhà nhị nguyên cũng rơi vào CNDT
III,


 Triết học duy vật ; con người có khả năng nhận
thức thế giới và do mặt thứ 1 quyết định nên sự
nhận thức đó là sự phản ánh thê giói vào bộ óc
con người
 Triết học duy tâm : Con người … nhưng đó là sự
tự nhận thức về tinh thần tư duy
 Vấn đề cơ ban của triết học :quan niệm có tính chất
bản thể luận, quan niệm chính trị xã hội đạo đức tôn
giáo nhất là phương đông

Câu 2 ; Phân tích định nghĩa vật chất của Lê nin
và rút ra ý nghĩa của định nghĩa
 Những quan điểm trước Mác:
 Cổ đại : vật thể+nguyên tử=> đã đồng nhất
về một dạng cụ thể
 Ví dụ ; Talets mọi sự vật sinh ra từ nước và đều
tan biến từ nước , Heraclit –lửa,..
 Những phát minh khoa học ; tia X
 Nêu định nghĩa vật chất lê nin;
- Vật chất là
 Một phạm trù triết học
 Được đem lại cho con người cảm giác
 Được cảm giác chép lại chụp lại, phản ánh
tồn tại k lệ thuộc vào cảm giác
 Phân tích
1. Vật chất là một phạm trù triết học : xác định góc
độ của viêc xem xét một phạm trù rộng khái
quát nhất không hiểu theo ý nghĩa hẹp như các
vật chất khác thường dung trong lĩnh vực khoa
học , đời sống




2. Dùng để chỉ thực tại khách quan đc đem lại cho
con nguoi cam giac
 Vật chất là vô cùng vô vàn những thuộc tính
khác song mỗi dạng, mỗi vật chất đều có
thuộc tính ấy
 Đó cũng là tính chất để phân biệt cái gì
thuộc vật chất cái gì không thuộc vật chất
cả tự nhiên và xã hội’
 Vì vậy tất cả những gì độc lập ý thứ của con
người đều là những dạng vật chất khác nhau
 Như thế quy luật lkinh tế xã hội quan hệ sản
xuất, không tồn tại vật thể, không có khối
lượng cấu trúc lí hóa nhưng k lệ thuộc ý
muốn cảm giác con người
3. Được cảm giác của chúng ta chép lai chụp lại
phán ánh tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
 Vc tồn tại độc lập với ý thức con người .Sự
tồn tại đó kp là trưu tượng mà là hiện thực
cụ thể cảm tính
 Vc tác động con người => những cmr giác
đem lại cho con người sự nhận thức phản
ánh về chúng
 Như vậy dù thế giới vật chất đa dạng nhưng
chỉ có cái con người nhạn thức được chứ k
thể k nhận thức được
Ý nghĩa
1)Giải quyết hai mát triết học nhưng đứng trên
lập trường CNDVBC
2)Bác Bỏ…
3)Phương pháp luận cho các nhà khoa học
nghiên cứu

Câu 3: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật
chất và ý thức, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa


phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và
thực tiễn. (6,0 điểm)
Bài làm
Quan niệm mácxít:
Vật chất là cái có tính thứ nhất, ý thức là cái có tính
thứ 2. Vật chất quyết định ý thức nhưng ý thức cũng có
tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất.
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực
tại khách quan được đem đến cho con người trong cảm
giác, được cảm giác chúng ta chép lại chụp lại, phản
ánh tồn tại không kệ thuộc cảm giác
Ý Thức là hình ảnh chủ quan thế giới khách quan
được sáng tạo theo mục đích và nhu cầu của con người
1.Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức:
- Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất
sinh ra ý thức.
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức.
- Sự phát triển của ý thức con người từ thấp đến cao
phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất vật chất, của
những điều kiện vật chất xã hội.
- Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã
hội được biểu hiện ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính
trị, đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa tồn tại
xã hội và ý thức xã hội. Trong xã hội, sự phát triển của
kinh tế quy định sự phát triển của văn hoá ; đời sống
vật chất thay đổi thì sớm muộn đời sống tinh thần cũng
thay đổi theo.
2.Tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại
của ý thức với vật chất.


- Tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở : sự
phản ánh sáng tạo, chủ động.
- Thực chất sự tác động trở lại của ý thức đối với
vật chất : phải thông qua hoạt động thực tiễn của con
người.
- Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày
càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại
thông tin, kinh tế tri thức, khoa học đã trở thành LLSX
trực tiếp. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, vai trò của tri
thức khoa học, của tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân
văn là hết sức quan trọng.
- Ý thức không chỉ có tác động tích cực mà còn có
tác động tiêu cực ; những tư tưởng phản động làm cản
trở sự phát triển của lịch sử ; những tư tưởng duy tâm
tôn giáo làm hạn chế năng lực thực tiễn của con người ;
những tư tưởng bá quyền đế quốc gây ra những cuộc
chiến tranh tàn khốc.
Mối quan hệ giữa vật chất- ý thức là mối
quan hệ biện chứng, nếu tuyệt đối hoá mặt nào
đều dẫn tới sai lầm, hoặc là rơi vào CNDV thô
thiển, tầm thường, siêu hình (nếu quá đề cao vật
chất), hoặc là rơi vào CNDT (nếu quá đề cao ý
thức).
3. Ý nghĩa phương pháp luận.
Từ giải quyết đúng đắn, khoa học mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức trên quan điểm thực tiễn chúng ta
rút ra quan điểm khách quan trong nhận thức và cải
tạo thế giới với những yêu cầu sau :
- Trong hoạt động nhận thức cũng như cải tạo thực
tiễn bao giờ cũng phải xuất phải từ những điều kiện,


hoàn cảnh thực tế. Mọi mục tiêu đặt ra cho hoạt động
của con người cũng đều phải xuất phát từ những tiền
đề vật chất hiện có. Khi điều kiện kinh tế còn thấp mà
đề ra mục tiêu quá cao là không tưởng vì sẽ không thể
thực hiện được. Ngược lại, mục tiêu đề ra quá thấp so
với điều kiện kinh tế hiện có lại làm hạn chế khả năng
của con người, không thúc đẩy được việc khai thác
những tiềm năng hiện có.
- Phải luôn tôn trọng các quy luật khách quan.
Thực tế lịch sử cho thấy, mỗi khi làm trái quy luật, con
người đều phải trả giá. Bài học thời bao cấp đã cho
thấy, không thể lấy nguyện vọng tốt đẹp làm mục tiêu
mà phải xuất phát từ hiện thực và phải tuân theo quy
luật khách quan.
- Phải chống chủ nghĩa chủ quan dưới mọi hình
thức như chủ nghĩa duy tâm chủ quan, những biểu hiện
của bệnh chủ quan duy ý chí, chủ quan nóng vội.
- Luôn phát huy tính tích cực của ý thức.
Câu 4 : Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp
luận cho hoạt động nhận thức và thực tiễn. (3,0
điểm).
Bài làm
1.Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Liên hệ- theo quan điểm DVBC là sự phụ thuộc, sự
quy định lẫn nhau và tác động qua lại lẫn nhau giữa các
sự vật hay giữa các nhân tố tạo thành sự vật.
Phép biện chứng
vật hiện tượng muôn
chất liên hệ với nhau
thuộc nhau, tác động,

duy vật khẳng định rằng mọi sự
hình muôn vẻ trong thế giới vật
chằng chịt, giữa chúng luôn phụ
chuyển hoá lẫn nhau.


Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng liên hệ với sự
vật hiện tượng khác. Không có sự vật hiện tượng nào
nằm ngoài mối liên hệ. Trong thời đại ngày nay không
một quốc gia nào không có quan hệ, không có liên hệ
với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội.
Chính vì thế, hiện nay, trên thế giới đã và đang xuất
hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt đời
sống xã hội. Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề
toàn cầu như: đói nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường
sinh thái, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chiến tranh
và hoà bình.v.v.
Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật hiện tượng
trong thế giới còn nhìn thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ
của nó. Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra
các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp:
- Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
- Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
- Mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản
chất
- Mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên
- Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp.
Trong đó quan trọng nhất là những mối liên hệ bên
trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản. Các mối
liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận
động và phát triển của sự vật. Những mối liên hệ bên
trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Mối liên hệ
bên ngoài mặc dù rất quan trọng song nó chỉ thực sự có
ý nghĩa khi thâm nhập được vào bên trong và phải
thông qua mối liên hệ bên trong.


Dĩ nhiên sự phân biệt các mối liên hệ chỉ có ý nghĩa
tương đối. Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá
lẫn nhau…
2.Ý nghĩa phương pháp luận.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận
của quan điểm toàn diện- một quan điểm phương pháp
luận cơ bản trong nhận thức khoa học và trong hoạt
động cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội .
Quan điểm toàn diện có một số yêu cầu cơ bản sau
đây :
Một là, muốn nhận thức đúng đắn sự vật phải xem
xét tất cả các mặt, các yếu tố tạo thành nó và các mối
liên hệ giữa sự vật ấy với các sự vật, hiện tượng khác.
Đó là một nguyên tắc cơ bản để nhận thức của con
người có thể tránh được những sai lầm.
Hai là, phải nhìn nhận sự vật như một chỉnh thể,
phải phân biệt giữa cái chính và cái phụ, đánh giá đúng
vị trí, vai trò của từng nhân tố, từng mối liên hệ, tránh
xem xét một cách dàn đều, ‘‘bình quân’’.
Ba là, trong hoạt động thực tiễn, quan điểm toàn
diện đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp,
nhiều phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay
đổi sự vật.
Vận dụng một cách đúng đắn quan điểm toàn diện
là một trong những nguyên nhân thành công trong cách
mạng Việt Nam. Thời kì đổi mới, Đảng ta đã chủ trương
đổi mới toàn diện, đồng thời cũng xem đổi mới kinh tế
là trọng tâm. Do đó, Việt Nam đã ‘‘khắc phục khủng
hoảng kinh tế- xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất
và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và
củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới
các mặt khác của đời sống xã hội’’.


Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến
diện, một chiều chỉ ‘‘thấy cây mà không thấy rừng’’, chỉ
thấy lợi ích trước mắt mà không thấy lợi ích lâu dài, chỉ
thấy những lợi ích cục bộ mà không tính đến lợi ích toàn
xã hội. Điều đó sẽ dẫn đến sai lầm trong suy nghĩ và
hành động.
Trong nhận thức và thực tiễn cấn phải có những
quan điểm lịch sử- cụ thể, quan điểm lịch sự cụ thể yêu
cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải gắn với điều
kiện lịch sử ra đời tồn tại và phát triển của sự vật.
Câu 5 : Phân tích nguyên lý về sự phát triển, trên
cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho
hoạt động nhận thức và thực tiễn. (3 điểm)
Bài làm
1.Nguyên lý về sự phát triển
Theo quan điểm DVBC, phát triển là một phạm trù
triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn.
Phát triển là một quá trình không chỉ biến đổi về
chất mà còn biến đổi về lượng. Nguyên nhân của sự
biến đổi đó nằm ở trong sự vật. Sự phát triển thường đi
theo con đường quanh co phức tạp nhưng là một
khuynh hướng tất yếu, khách quan, độc lập với ý thức
của con người.
Sự phát triển diễn ra một cách phổ biến ở tất cả
các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Giới tự nhiên đã phát triển từ vô cơ đến
hữu cơ, từ vật chất chưa có sự sống đến
các loài thực vật, động vật, đến con
người.


- Xã hội loài người đã phát triển từ chế độ
công xã nguyên thuỷ qua các chế độ
chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN đến
XHCN.
- Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở
khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc,
đầy đủ, đúng đắn hơn đối với tự nhiên và
xã hội.
Sự phát triển mang tính kế thừa : sự ra đời của cái
mới không bao giờ là sự phủ định sạch trơn, xoá bỏ
hoàn toàn cái cũ mà luôn có sự kế thừa những yếu tố,
những mặt tiến bộ, phù hợp của cái cũ.
2.Ý nghĩa phương pháp luận.
Cũng như nguyên lí về mối liên hệ phổ biến,
nguyên lí về sự phát triển là một nguyên tắc tổng quát
của phép biện chứng và đồng thời là cơ sở lí luận của
quan điểm phát triển- một quan điểm phương pháp
luận khoa học trong nhận thức và thực tiễn.
Quan điểm phát triển có một số yêu cầu cơ bản
sau đây :
Một là, khi xem xét, đánh giá sự vật, phải đặt nó
trong sự vận động, phát triển và phải thấy rõ xu hướng
phát triển tất yếu của nó.
Hai là, phải phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và tạo
điều kiện cho nó phát triển.
Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc
phương pháp luận đối lập với tư tưởng bảo thủ, trì trệ,
định kiến.
Bảo thủ, trì trệ, định kiến là những quan điểm siêu
hình, chủ quan đối lập với khoa học. Do đó, nó không


chỉ phản ánh sai lệch sự vật mà còn cản trở sự phát
triển.
Trong nhận thức và thực tiễn cấn phải có những
quan điểm lịch sử- cụ thể, quan điểm lịch sự cụ thể yêu
cầu khi nhận thức sự vật hiện tượng phải gắn với điều
kiện lịch sử ra đời tồn tại và phát triển của sự vật.

Câu 8: Phân tích quy luật chuyển hóa từ những
sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về
chất và ngược lại, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận cho hoạt động nhận thức và
thực tiễn. (5 điểm).
Bài làm
1.Phạm trù chất và lượng.
a.Chất
- Định nghĩa : Chất là phạm trù triết học dùng để
chỉ tính quy luật khách quan vốn có của sự vật hiện
tượng, là sự thống nhất các thuộc tính làm cho ‘‘nó là
nó’’ và phân biệt nó với những cái khác.
- Thuộc tính là những tính chất không thể tách rời
sự vật, không có tính chất đó thì sự vật không thể tồn
tại, không thể tưởng tượng được. Chẳng hạn khi ta nói
phản ánh là thuộc tính của mọi dạng vật chất ; lao động
là thuộc tính của con người ; đồng hoá, dị hoá là thuộc
tính của mọi sinh vật.
Ví dụ : Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 ở
nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công
nhân, một mặt, đánh đuổi bọn thực dân xâm lược,
giành lại quyền độc lập cho dân tộc, mặt khác, đánh đổ


sự thống trị của giai cấp phong kiến, giành quyền dân
chủ cho nhân dân. Vì vậy, cuộc cách mạng ấy, về chất,
là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, khác về
chất so với những cuộc cách mạng khác.
- Các sự vật khác nhau thường được tạo bởi những
nhân tố khác nhau. Chẳng hạn, nước (H20), vôi sống
(CaO), muối ăn (NaCl) là những chất khác nhau do các
nhân tố tạo thành chúng khác nhau.
Tuy vậy, cũng có khi cùng một loại nguyên tố
nhưng do cách sắp xếp khác nhau nên cũng tạo thành
những chất khác nhau.
Ví dụ :Than chì và kim cương đều do cácbon tạo
thành. Sự khác nhau về chất của chúng là do cách sắp
xếp khác nhau của nguyên tố này tạo nên.
b.Lượng
- Định nghĩa : Lượng là một phạm trù triết học
dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, thể hiện quy mô, trình độ phát triển, tốc độ vận
động của một vật (một chất).
- Lượng có 2 loại :
 Loại 1 : Có thể xác định một cách cụ thể bằng
những công cụ đo lường, đặc biệt là các lượng tự nhiên.
Ví dụ :
o Đối với mỗi phân tử nước (H 20), lượng là số nguyên
tử tạo thành nó, tức 2 nguyên tử Hiđrô (H) và một
nguyên tử Ôxi (O).
o Đối với mỗi quốc gia, lượng là dân số, diện tích
lãnh thổ của nước ấy.
 Loại 2 : Có những lượng chỉ có thể xác định một
cách trừu tượng, đặc biệt là các lượng xã hội.


Ví dụ : Ý thức chính trị, năng lực công tác, trình độ
học vấn của một cá nhân chỉ có thể xác định dựa vào
những tiêu chí xác định.
Tính chính xác của các lượng tự nhiên thường cao
hơn các lượng xã hội.
2.Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng.
Lượng và chất là 2 mặt khác nhau của một quá
trình. Ranh giới giữa chúng chỉ là tương đối. Có những
cái trong quan hệ này được xem là lượng, trong quan hệ
khác lại là chất.
a.Lương đổi dẫn đến chất đổi
- Mọi sự biến đổi về chất bao giờ cũng bắt đầu từ sự
biến đổi về lượng. Song trong một giới hạn nào đó,
lượng biến đổi vẫn chưa làm chất biến đổi ngay. Chẳng
hạn, trong khoảng từ 0oC đến 100oC, dù nhiệt độ của
nước có thay đổi thế nào nước vẫn là nước lỏng. Khoảng
giới hạn đó được gọi là độ.
- Vậy, độ là khoảng giới hạn mà ở đó lượng và chất
thống nhất với nhau, nghĩa là mọi sự biến đổi về lượng
chưa làm cho chất biến đổi căn bản
- Điểm nút là điểm mà ở đó bất kì một sự biến đổi
nào về lượng cũng tạo ra sự biến đổi về chất (của sự
vật). Điểm nút (của một chất) chính là 2 đầu của độ.
Ví dụ : Những điểm như 0oC hay 100oC đối với nước
lỏng được gọi là điểm nút.
- Bước nhảy là quá trình chất cũ chuyển
thành chất mới. Quá trình này diễn ra tại
điểm nút. Bước nhảy có nhiều loại :
 Xét về mặt thời gian, có thể phân chia thành
bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần. Bước nhảy
đột biến là những bước nhảy diễn ra trong thời gian


ngắn. Bước nhảy dần dần là những bước nhảy diễn ra
trong thời gian dài, trong đó những chất mới hình thành
và những cái cũ được đào thải từng bước.
 Về mặt quy mô, có thể chia thành bước nhảy
toàn bộ và bước nhảy cục bộ. Bước nhảy toàn bộ là sự
thay đổi căn bản về chất của cả sự vật. Bước nhảy cục
bộ là sự thay đổi về chất của một bộ mặt, một bộ phận
hay một số yếu tố nào đó của sự vật.
b.Chất đổi dẫn đến lượng đổi.
- Khi chất cũ mất đi và chất mới ra đời bao giờ một
kết cấu vật chất mới cũng tạo điều kiện làm cho lượng
mới biến đổi với tốc độ nhanh hơn và với quy mô lớn
hơn.
- Tuy nhiên, trong mỗi một chất, lượng chỉ có thể
biến đổi đến một giới hạn nhất định và khi lượng đã đến
điểm nút nó lại tạo tiền đề cho sự biến đổi về chất tiếp
theo.
c.
Quá trình lượng đổi dẫn đến chất đổi và
ngược lại tạo nên những sự phát t riển theo chu
kì, vừa tiệm tiến, vừa nhảy vọt, vừa liên tục, vừa đứt
đoạn. Đó là quy luật vận động, phát triển của tự nhiên,
xã hội và tư duy.
3.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
- Khi xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng
chúng ta cần chú ý cả hai mặt lượng và chất, không
được tuyệt đối hoá mặt nào trong mối quan hệ giữa
chúng.
- Vì mọi sự biến đổi đều bắt đầu từ sự biến đổi về
lượng nên trong các hoạt động trước hết cần phải chú ý
đến sự tăng trưởng và tích luỹ về lượng, tránh tư tưởng
nôn nóng, đốt cháy giai đoạn.


- Tuy nhiên, trong mỗi một chất, lượng chỉ có thể
biến đổi đến một giai đoạn nhất định. Vì vậy, khi chất
đã tỏ ra lỗi thời, không còn phù hợp phải có những
hành động mang tính cách mạng nhằm xoá bỏ chất cũ,
hình thành chất mới làm cho sự phát triển liên tục, hạn
chế sự quanh co, phức tạp, kéo dài,chống tư tưởng bảo
thủ, trì trệ, thiếu tinh thần cách mạng.
- Một chiến lược nguy hiểm nhất của bọn đế quốc
hiện nay là ‘‘Diễn biến hoà bình’’. Thực chất của ‘‘Diễn
biến hoà bình’’ là tác động liên tục và lâu dài nhằm
từng bước làm suy giảm lòng tin vào lí luận cách mạng
và vào Đảng cộng sản. Thông qua sự biến đổi về lượng
chúng muốn làm thay đổi về chất đội ngũ cán bộ và cả
chế độ xã hội. Vì vậy, phải có tinh thần cảnh giác cao
đối với âm mưu này.

Câu 9 : Phân tích quy luật thống nhất và đấu
tranh của các mặt đối lập, trên cơ sở đó rút ra ý
nghĩa phương pháp luận cho hoạt động nhận thức
và thực tiễn. (5 điểm).
Bài làm
1.Khái niệm
- Mặt đối lập là những mặt (những yếu tố, những
bộ phận) có thuộc tính hoặc có khuynh hướng vận động
ngược chiều nhau, tồn tại trong cùng một sự vật hay hệ
thống sự vật, tác động qua lại với nhau tạo nên sự vận
động và biến đổi của sự vật đó.
Ví dụ:
 Mỗi sinh vật đều có mặt đồng hoá và dị hoá.
Đồng hoá là quá trình trao đổi chất làm cho các tế bào
nảy sinh, còn dị hoá thì ngược lại.


 Mọi hoạt động kinh tế đều có mặt sản xuất và
tiêu dùng. Hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm, hoạt
động tiêu dùng lại triệt tiêu sản phẩm.
Do các mặt đối lập không tồn tại tách rời nên
những mặt đối lập thường làcặp mặt đối lập.
- Mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ sự tác động
qua lại, liên hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập, hay nói
cách khác là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập.
2.Nội dung quy luật.
a.Sự thống nhất của các mặt đối lập
- Các mặt đối lập có khuynh hướng loại trừ, phủ
định nhau nhưng lại thống nhất với nhau với tư cách là
những bộ phậntạo thành sự vật và hệ thống sự vật.
- Sự thống nhất giữa các mặt đối lập có thể hiểu
theo 2 nghĩa:
 Theo nghĩa rộng hay nghĩa chung nhất, sự thống
nhất của các mặt đối lập là sự kết hợp với nhau, sự
nương tựa vào nhau và bổ sung cho nhau, làm tiền
đềtồn tại cho nhau. Không có mặt đối lập này thì không
có mặt đối lập kia và ngược lại
 Nghĩa hẹp : sự thống nhất của các mặt đối lập
được hiểu là sự đồng nhất, phù hợp, tác động ngang
nhau.
Ví dụ:
+ Mỗi sinh vật có quá trình đồng hoá thì phải có
quá trình dị hoá, nếu chỉ có một quá trình thì sinh vật
sẽ chết.
+ Trong hoạt động kinh tế, nếu không có sản xuất
thì không có sản phẩm để tiêu dùng; ngược lại, nếu
không có tiêu dùng thì sản xuất mất lí do để tồn tại.


- Sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ là tạm thời,
thoáng qua do các mặt đối lập luôn có khuynh hướng
biến đổi trái ngược nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau nên
trong quá trình vận động triển khai chúng luôn có xu
hướng phá vỡ sự cân bằng và chuyển sang trạng thái
đấu tranh giữa các mặt đối lập.
b.Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập.
- Do bản chất của các mặt đối lập nên chúng luôn
đấu tranh với nhau.
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập là sự bài trừ,
phủ định nhau, là sự triển khai của các mặt đối lập.
Ví dụ:
o Sự đấu tranh giữa các điện tích âm và điện tích
dương trong mỗi nguyên tử.
o Sự đấu tranh giữagiai cấp thống trị và giai cấp
bị trị trong các xã hội có đối kháng giai cấp.
o Sự đấu tranh giữa lối sống có văn hoá với lối
sống phi văn hoá trong các quan hệ gia đình,
cộng đồng và xã hội
- Các hình thức đấu tranh hết sức đa dạng, vì
vậykhông nên hiểu theo nghĩa đen của từ này là tiêu
diệt, đụng độ, va chạm, dùng sức mạnh diệt trừ nhau.
- Đấu tranh là động lực của sự phát triển.
 Phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, là quá trình loại bỏ cái
cũ, cái lỗi thời, hình thành cái mới, cái tiến bộ hơn
 Tuy nhiên, cái cũ, cái lỗi thời bao giờ cũng có tính
bảo thủ cao. Còn cái mới thường non nớt khi mới ra đời.
- Vì vậy, chỉ có đấu tranh mới loại bỏ được cái lỗi
thời và tạo điều kiện cho cái tiến bộ nảy sinh.
Lênin nói: Đấu tranh cũng giống như vận động,
phát triển là tuyệt đối.


c. Sự chuyển hoá của các mặt đối lập.
- Sự chuyển hoá của các mặt đối lập là kết quả tất
yếu của sự thống nhất và đấu tranh của chúng.
- Có 3 hình thức chuyển hoá:
 Hình thức thứ nhất: chuyển hoá từng mặt, từng
khía cạnh của mặt đối lập này sang mặt đối lập khác.
 Hình thức thứ 2: chuyển cả mặt đối lập này thành
mặt đối lập khác
 Hình thức thứ 3: chuyển cả 2 mặt đối lập thành
những mặt đối lập mới.
d.Phân loại mâu thuẫn.
- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên
ngoài.
- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không
cơ bản.
- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ
yếu.
- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn
không đối kháng (trong xã hội)
3.Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
- Do mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và biến
đổi nên muốn nhận thức bản chất của sự vậttrước hết
phải nhận thức mâu thuẫn của nó.
- Quá trình nhận thức mâu thuẫn cũng là quá trình
phân tích mâu thuẫn. Phân tích mâu thuẫn là xác định
rõ loại hình của mâu thuẫn, trình độ phát triển của mâu
thuẫn để từ đó tìm ra phương thức giải quyết thích hợp.
Chỉ khi phân tích rõ được mâu thuẫn mới có thể định ra
đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn. Nhận định
không đúng về mâu thuẫn sẽ dẫn đến những quyết
định và hành động sai lầm.


- Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn còn phải tuỳ
thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Phải
tránh tư tưởng nôn nóng, máy móc khi giải quyết mâu
thuẫn.
Ví dụ: Dưới thời Pháp thuộc, xã hội Việt Nam có hai
mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với chủ
nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu
là nông dân, với giai cấp địa chủ phong kiến. Tính chất
của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến
đang đặt ra hai yêu cầu: một là, phải đánh đuổi thực
dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do
cho nhân dân; hai là, xoá bỏ chế độ phong kiến, giành
quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho
nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc
là nhiệm vụ hàng đầu.
- Vận dụng những hiểu biết trên đây vào cuộc sống
hằng ngày, chúng ta cần phải biết phân tích những
mâu thuẫn trong nhận thức, trong rèn luyện phẩm chất
đạo đức. Phải biết phân biệt đâu là đúng, đâu là sai, cái
gì là tiến bộ, cái gì là lạc hậu đểnâng cao nhận thức
khoa học, phát triển nhân cách. Biện pháp thường
xuyên để giải quyết mâu thuẫn trong cuộc sống tập thể
là phải tiến hành phê bình và tự phê bình, tránh thái độ
xuê xoa, ‘‘dĩ hoà vi quý’’, không dám đấu tranh chống
lại những cái lạc hậu, tiêu cực.
Câu 10: Phân tích vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương
pháp luận. (3,0)
Bài làm
1.Khái niệm
- Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có
mục đích, mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm
cải tạo tự nhiên và xã hội.


- Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác
và sáng tạo thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn.
- Thực tiễn có 2 đặc trưng cơ bản
o Hoạt động vật chất của con người nhằm cải tạo
biến đổi tự nhiên xh
o Hoạt động thực tiễn có tính lịch sử xh
-Thực tiễn có ba hình thức:
o Hoạt động sản xuất vật chất: tạo ra của cải vật
chất.Đây là hoạt động quyết định sự tồn tại
phát triển loài người trong thời kì lịch sử
o Hoạt động chính trị xã hội:Nhằm biến đổi quan
hệ xã hội và chế độ xã hội
o Thực nghiệm khoa học con người chủ động tạo
những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành
tựu khoa học công nghệ vào nhận thức và cải
tạo thế gioi
2.Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
 Thực tiễn là cơ sở của nhận thức:
 Thông qua hoạt động thực tiến con người tác động
vào thế giới khách quan buộc thế giới bộc lộ những
thuộc tính cho con người nhận thức . Thông qua
các hoạt động thực tiễn cho các giác quan phát
triển
 Ví dụ : Muốn biết gỗ gì thì chặt gỗ đê bộc lộ bản
chất thuộc tính của nó

 Thực tiễn là động lực của nhận thức
 Hoạt động thực tiễn con người đặt nhu cầu nhiệm
vụ phương hướng nhận thức
 Thực tiễn tạo điều kiện vật chất nối dài năng lực
con người(máy móc công cụ nhận thức)
 Ví dụ thể hiện qua tốc độ GDP tăng…


 Không có thự tiễn thì không có lí luận.thực tiễn
càng phong phú đa dạng bao nhiêu thì nhận thức
khoa học lí luận càng phát triển phong phú bấy
nhiêu
 Thực tiễn là mục đích của nhận
thức ,lí luận
 Thông qua hoạt động thực tiễn con người biến đổi
thế giới và cải tạo thế giới phát triển trí tuệ
 Chủ tịch hcm đã từng nói :Lí luận mà không liên hệ
thực tiên là lí luận suông
 Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lí
 Chỉ có thông qua thực tiễn con người mới có thế
kiểm nghiệm được sự phát triển của hiện thực
3, Ý nghĩa phương pháp luận
 Trong quá trình nhận thức phải luôn thấy rõ vai trò
hoạt động thực tiễn, không xa rời thực tiên
 Tránh sai lầm chủ quan duy ý chí
Câu 11 : Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lí
luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận
1.Thực tiễn
- Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có
mục đích, mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm
cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Thực tiễn có 2 đặc trưng cơ bản
o Hoạt động vật chất của con người nhằm cải tạo
biến đổi tự nhiên xh
o Hoạt động thực tiễn có tính lịch sử xh
-Thực tiễn có ba hình thức:
o Hoạt động sản xuất vật chất: tạo ra của cải vật
chất.Đây là hoạt động quyết định sự tồn tại
phát triển loài người trong thời kì lịch sử


o Hoạt động chính trị xã hội:Nhằm biến đổi quan
hệ xã hội và chế độ xã hội
o Thực nghiệm khoa học con người chủ động tạo
những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành
tựu khoa học công nghệ vào nhận thức và cải
tạo thế gioi
2.Lí luận
-Lý luận là hệ thống những tri thức, được khái
quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những
mối quan hệ bản chất tất nhiên mang tính quy luật
của các sự vật hiện tượng trong thé giới và được
biểu đạt bằng hệ thống, nguyên lí, quy luật, phạm
trù
-Lí luận có ba đặc trưng cơ bản
o Lý luận có tính khái quát, tính logic chặt
chẽ,tính hệ thống
o Cơ sở của lý luận là những tri thức kinh
nghiệm thực tiễn
o Lí luận xét về bản chất có thể phản ánh được
bản chất hiện tượng
3.Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
o Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận.
Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người
tác động vào sự vật, làm cho sự vật bộc lộ thuộc
tính, tính chất, quy luật. Trên cơ sở đó, con người
có hiểu biết về chúng. Nghĩa là thực tiễn cung cấp
« vật liệu » cho nhận thức. Không có thực tiễn thì
không thể có nhận thức. Chính việc đo đạt ruộng
đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hi Lạp - La Mã
cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago... ra đời.
o Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi
nhận thức phải trả lời. Nói cách khác, thực tiễn là


người đặt hàng cho nhận thức giải quyết. Trên cơ
sở đó, nhận thức phát triển.
o Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan cho con
người. Chẳng hạn, thông qua các hoạt động sản
xuất, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật... những cơ
quan cảm giác như thính giác, thị giác... được rèn
luyện. Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo
ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng
đắn hơn.
o Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc
cho con người nhận thức hiệu quả hơn như kính
thiên văn, máy vi tính... đều được sản xuất, chế
tạo trong sản xuất vật chất. Nhờ những công cụ
máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính
xác hơn, đúng đắn hơn. Trên cơ sở đó, thúc đẩy
nhận thức phát triển.
o Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận. Nhận
thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống,
nhu cầu tồn tại. Ngay từ tưở mông muội, để sống,
con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, tức là
để sống, con người phải nhận thức. Nghĩa là ngay
từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức
của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn.
o Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý
nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn
phục vụ con người. Nói khác đi, chính thực tiễn là
tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức - kết quả
của nhận thức.
o Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì
chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận
thức sớm muộn sẽ mất phương hướng.


o Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của
nhận thức, lý luận. Theo triết học duy vật biện
chứng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của
chân lý. Bởi lẽ chỉ có thông qua thực tiễn, con
người mới vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa
được tư tưởng. Thông qua quá trình đó, côn người
có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm. Phải
hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện
chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có
tính tương đối. Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực
tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn
khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý,
bác bỏ sai lầm. Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản
thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển.
Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng
phải thay đổi cho phù hợp. Nghĩa là những tri thức
đã đạt được trước đây, hiện nay vẫn phải được
kiểm nghiệm thông qua thực tiễn.
- Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:
o Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo
thực tiễn. Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri
thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to
lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người. Lý
luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của
con người góp phần làm biến đổi thế giới khách
quan và biến đổi chính thực tiễn.
o Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục,
động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành
phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông
đảo quần chúng.
o Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt
động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động,
tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm,
vòng vo.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×