Tải bản đầy đủ

Báo cáo tốt nghiệp về cải cách thủ tục hành chính

MỞ ĐẦU

Cải cách thủ tục hành chính (TTHC) là một công việc thuộc nội dung cải
cách thể chế hành chính, trong đó cải cách thể chế hành chính là một trong bốn nội
dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC). Tuy nhiên, cải cách
TTHC lại được đặt ra trước CCHC, được xem như là khâu đột phá của CCHC vì
cải cách TTHC là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa Nhà nước và công
dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp,
cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế.
Đặt trong bối cảnh của cả nước, việc cải cách thủ tục hành chính thuế là
yêu cầu bức thiết được đặt ra trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính đối với
sự phát triển, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, trong
nhiều năm qua, ngành Thuế đã đẩy mạnh thực hiện lĩnh vực này. Kết quả ban
đầu trên toàn ngành cho thấy đã có nhiều biến chuyển mạnh mẽ, tuy nhiên trước
yêu cầu của sự phát triển, cải cách thủ tục hành chính thuế cần tiếp tục được
thực hiện triệt để hơn nữa.
Cùng với sự phát triển của toàn Ngành, trong những năm qua, công tác
cải cách TTHC ở Cục Thuế tỉnh Đăk Nông đã đạt được những kết quả bước
đầu, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và người dân
trong vấn đề nộp thuế. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều TTHC đang trở thành rào

cản đối với hoạt động kinh doanh và đời sống nhân dân, gây tốn kém, lãng
phí và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. T THC ở nhiều nơi,
nhiều bộ phận còn rườm rà, chồng chéo, khó khăn trong thực hiện. Sự công
khai, minh bạch trong TTHC ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa thực hiện đầy đủ.
Việc ban hành TTHC có lúc, có nơi còn tuỳ tiện, giải quyết thủ tục vẫn còn
hiện tượng cửa quyền, hạch sách, chậm trễ theo lối "dân cần, quan không
vội”. Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” nhiều nơi hoạt động còn mang
nặng tính hình thức. Có thể nói, tính cần thiết của việc đẩy mạnh cải cách
1


TTHC không chỉ nhìn từ khía cạnh kinh tế, là tiết kiệm tiền của, là xây dựng
môi trường pháp lý để các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư yên tâm làm ăn,
phát triển; mà còn nhìn từ khía cạnh xã hội, là tạo điều kiện thuận lợi cho
người dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước.
Nhằm đi sâu nghiên cứu tìm hiểu thực tế tại địa phương theo nội dung
chương trình lớp Cao cấp lý luận Chính trị tôi đã chọn vấn đề “Công tác Cải
cách thủ tục hành chính ở Cục Thuế tỉnh Đăk Nông”. Qua đợt nghiên cứu
thực tế kết quả đã được viết làm bài thu hoạch.
Kết cấu của bài thu hoạch gồm:
Mở đầu
Phần thứ nhất: Một số vấn đề cơ bản về cải cách hành chính và thủ tục
hành chính
Phần thứ hai: Thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính ở Cục Thuế
tỉnh Đắk Nông
Phần thứ ba: Nhiệm vụ và giải pháp
Kết luận.

2


Phần thứ nhất

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẢI
CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm, nội dung cải cách hành chính
Thuật ngữ “cải cách” được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ phương
Tây và phương Đông, được hiểu là một quá trình, một hoạt động có
ý thức, có mục đích làm thay đổi, cải biến những cái cũ theo hướng


tốt hơn hoặc thay thế cái cũ bằng cái mới. Cải cách có thể diễn ra ở
những cấp độ, mức độ khác nhau. Có những hoạt động cải cách có
tính chất cách mạng, có những cuộc cải cách chỉ là sự thay đổi ít
nhiều so với ban đầu. Cải cách là thay đổi những bộ phận cũ không
hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan.
Cải cách bao gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến
đổi. Cải cách còn được xem là một biện pháp giải quyết những đòi
hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu
cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định. Với ý nghĩa đó, cải
cách hiện diện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thuật ngữ “Hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là quản lý,
lãnh đạo. Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về thuật ngữ
này, tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu. Tuy có nhiều cách tiếp
cận, nhưng đặc điểm cơ bản của hành chính xuất phát từ việc trong bất kỳ xã hội
nào cũng cần có sự phân công lao động, cần tới sự xác lập những tỉ lệ giữa các
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Như vậy, hành chính theo nghĩa chung
là quản lý công việc, là quản lý xã hội; theo nghĩa riêng, hẹp hơn là công việc
Nhà nước và tổ chức quản lý Nhà nước. Về cơ bản, hành chính là tổng thể
những hoạt động nhất định do con người, chủ thể quản lý thực hiện đối với
khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể, bảo đảm cho nó vận động tới một
mục tiêu đã định. Hành chính chính là hoạt động quản lý của con người để tạo ra
3


sự vận hành mang tính hệ thống của xã hội.
Căn cứ vào quan niệm về cải cách và hành chính đã làm rõ ở trên thì
CCHC chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý
hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành, quản lý
các hệ thống. Như vậy, CCHC là hoạt động cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện công
tác quản lý cho tất cả các hệ thống trong xã hội.
Cải cách hành chính có vai trò bảo đảm trật tự xã hội, duy trì sự phát triển
theo hướng của nhà nước; hiện đại hóa mục tiêu chính trị của Đảng cầm quyền,
cải cách hành chính là một trong những nguyên nhân làm thay đổi vượt bậc
trong đời sống xã hội của đất nước.
Cải cách hành chính bao gồm các nội dung: Cải cách thể chế; Cải cách thủ
tục hành chính; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước; Xây dựng và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Cải cách tài chính
công; Hiện đại hóa hành chính.
1.2. Khái niệm, nội dung cải cách thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính: Là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu,
điều kiện do cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết
một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.
Nội dung của TTHC là nêu thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ
quan thực hiện TTHC trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân và tổ
chức; những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện TTHC cần phải nộp hoặc xuất
trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết TTHC trước khi cơ quan
thực hiện TTHC giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức; những
đòi hỏi mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm
khi thực hiện một TTHC cụ thể.
Cải cách TTHC được Chính phủ lựa chọn là khâu đột phá trong các nội dung
của CCHC vì cải cách TTHC là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa Nhà
nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân,
doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế.
4


Trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể cùng một lúc thực hiện
được nhiều nội dung cải cách như: Cải cách tài chính công, cải cách tiền lương, cải
cách tổ chức bộ máy, …; thông qua cải cách TTHC, chúng ta có thể xác định căn
bản các công việc của cơ quan Nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó
chúng ta có thể xây dựng bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ,
công chức hợp lý, đáp ứng được yêu cầu công việc.
Như vậy, có thể coi cải cách TTHC là tiền đề để thực hiện các nội dung
cải cách khác như: Nâng cao chất lượng thể chế; nâng cao trình độ, thay đổi thói
quen, cách làm, nếp nghĩ của cán bộ, công chức; phân công, phân cấp thực hiện
nhiệm vụ giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp của bộ máy hành
chính; thực hiện Chính phủ điện tử, …

5


Phần thứ hai
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở CỤC
THUẾ TỈNH ĐĂK NÔNG

2.1. Vài nét về tỉnh Đắk Nông
Đăk Nông là tỉnh miền núi nằm phía nam Tây Nguyên có đường biên giới
135 km, tiếp giáp với Vương quốc Campuchia, có ví trí chiến lược quốc phòng
quan trọng của đất nước. Diện tích tự nhiên 651.438 ha đất đỏ bazan màu mỡ,
giàu khoáng sản, địa hình nhiều sông suối, tạo sự phát triển đồng bộ về kinh tế
nông, lâm nghiệp, công nghiệp khai khoáng, thủy điện, du lịch và dịch vụ. Dân
số toàn tỉnh trên 510.000 người với 40 dân tộc anh em sinh sống. Có 8 huyện,
thị xã, 71 xã, phường, thị trấn.
2.2. Khái quát về Cục Thuế tỉnh Đắk Nông
Cục Thuế tỉnh Đắk Nông là tổ chức trực thuộc Tổng cục Thuế, có chức
năng tổ chức thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác
của ngân sách nhà nước thuộc phạm vi nhiệm vụ của ngành thuế trên địa bàn
theo quy định của pháp luật.
Cục thuế tỉnh Đắk Nông làm việc theo chế độ thủ trưởng và thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài
khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Cục Thuế tỉnh Đắk Nông thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại
Quyết định số 108/QĐ-BTC ngày 14/01/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy
định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thuế trực thuộc
Tổng cục Thuế.
Về cơ cấu tổ chức: Gồm 11 phòng chức năng(phòng TTHT NTT, phòng
HCQTTV-AC, phòng Tin học, phòng TCCB, phòng KK-KTT, phòng quản lý
6


thuế TNCN, phòng KTT, phòng THNVDT, phòng KTNB, phòng QLN&CCNT,
phòng Thanh tra thuế) và 08 Chi cục Thuế trực thuộc (Chi cục Thuế huyện Tuy
Đức, Đắk Rlấp, Đắk Song, Đắk Glong, Đắk Mil, Cư Jút, Krông Nô và Chi cục
Thuế thị xã Gia Nghĩa).
Lãnh đạo Cục Thuế gồm: 01 Cục trưởng và 03 phó Cục trưởng.
2.3. Thực trạng công tác cải cách thủ tục hành chính ở Cục Thuế tỉnh Đăk
Nông giai đoạn 2016 - 2020
2.3.1. Những kết quả được
* Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện.
- Việc ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực
hiện các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cơ quan Nhà nước cấp
trên liên quan đến công tác cải cách TTHC.
Trên cơ sở bám sát Kế hoạch cải cách hành chính hàng năm của Tổng cục
Thuế và của UBND tỉnh Đăk Nông, Cục Thuế đã ban hành các văn bản chỉ đạo và
tổ chức triển khai thực hiện theo đúng hướng dẫn của Bộ Tài chính và Tổng cục
Thuế liên quan đến công tác cải cách TTHC, cụ thể như sau:
+ Công văn số 534/CT-TTHT ngày 24/02/2016 về việc Thực hiện Kế
hoạch cải cách hành chính của Tổng cục Thuế năm 2016;
+ Công văn số 1082/CT-TTHT ngày 29/3/2016 về việc Thực hiện chuẩn
hóa thủ tục hành chính theo Quyết định số 08/QĐ-TTg ngày 06/01/2015 của
Thủ tướng Chính phủ;
+ Công văn số 1917/CT-TTHT ngày 26/5/2016 về việc Triển khai Quyết
định số 601/QĐ-UBND ngày 22/4/2016 của UBND tỉnh Đăk Nông;
+ Công văn số 2066/CT-TTHT ngày 10/6/2016 về việc Niêm yết địa chỉ
tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính, hành
vi hành chính;
+ Công văn số 2631/CT-THNVDT ngày 29/7/2016 về việc Thực hiện
Quyết định số 1033/QĐ-TCT ngày 08/6/2016;

7


+ Công văn số 3339/CT-THNVDT ngày 30/9/2016 về việc Triển khai thực
hiện các nội dung đã ký kết giữa UBND tỉnh với Phòng TM&CN Việt Nam;
+ Công văn số 3609/CT-HCQT-TV-AC ngày 25/10/2016 về việc Ứng
dụng công nghệ thông tin nhắn tin phục vụ công tác điều hành;
+ Công văn số 3611/CT-TTHT ngày 25/10/2016 về việc Tăng cường triển
khai công tác cải cách hành chính giai đoạn 2016 – 2020;
+ Công văn số 3913/CT-TTHT ngày 15/11/2016 về việc Niêm yết bộ thủ
tục hành chính thuế;
+ Công văn số 4134/CT-TTHT ngày 05/12/2016 về việc Tăng cường công
tác cải cách hành chính, nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh;
+ Kế hoạch số 01/KH-CT ngày 06/01/2017 về Tuyên truyền Kế hoạch cải
cách Quản lý thuế giai đoạn 2016 – 2020;
+ Công văn số 63/CT-TCCB ngày 16/01/2017 về việc Triển khai thực
hiện Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 05/01/2017 của UBND tỉnh;
+ Công văn số 83/CT-TTHT ngày 19/01/2017 về việc Triển khai thực hiện
Kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Đăk Nông năm 2017;
+ Công văn số 140/CT-TCCB ngày 13/02/2017 về việc Triển khai thực
hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đăk Nông;
+ Công văn số 199/CT-THNVDT ngày 27/02/2017 về việc Rà soát văn
bản chính sách, pháp luật thuế;
+ Công văn số 221/CT-TTHT ngày 01/3/2017 về việc Triển khai thực hiện
Kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính của Tổng cục Thuế;
+ Kế hoạch số 05/KH-CT ngày 02/3/2017 về Cải cách hành chính thuế
năm 2017;
+ Công văn số 240/CT-TTHT ngày 06/3/2017 về việc Thực hiện Kế
hoạch cải cách hành chính của Tổng cục Thuế năm 2017;
+ Công văn số 251/CT-TTHT ngày 09/3/2017 về việc Phổ biến Quyết
định 134/QĐ-TCT ngày 25/01/2017 của Tổng cục Thuế;
+ Kế hoạch số 07/KH-CT ngày 27/3/2017 Kế hoạch hành động thực hiện
Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ;
8


+ Công văn số 390/CT-TTHT ngày 12/4/2017 về việc Cải thiện Chỉ số cải
cách hành chính, nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp;
+ Công văn số 484/CT-TCCB ngày 04/5/2017 về việc Tăng cường kỷ
cương, kỷ luật thi hành công vụ;
+ Công văn số 548/CT-TTHT ngày 22/5/2017 về việc Đăng tải văn bản
trên Trang thông tin đện tử Cục Thuế;
+ Công văn số 568/CT-TTHT ngày 26/5/2017 về việc Nâng cao trách nhiệm
của người đứng đầu trong giải quyết một số nhiệm vụ liên quan đến người nộp
thuế;
+ Công văn số 608/CT-TCCB ngày 06/6/2017 về việc Hội nghị triển khai
mở rộng dịch vụ hoàn thuế điện tử và hướng dẫn thay đổi nguyên tắc hạch toán
tờ khai thuế giá trị gia tăng;
+ Công văn số 680/CT-TTHT ngày 21/6/2017 về việc Triển khai thực hiện
Quyết định số 1019/QĐ-UBND ngày 16/6/2017 của UBND tỉnh Đăk Nông;
+ Công văn số 694/CT-TTHT ngày 27/6/2017 về việc Tổ chức đối thoại
doanh nghiệp theo quy định;
+ Công văn số 713/CT-TTHT ngày 03/7/2017 về việc Triển khai thực hiện
Công văn số 2843/TCT-TTHT ngày 27/6/2017 của Tổng cục Thuế;
+ Công văn số 742/CT-TCCB ngày 11/7/2017 về việc Triển khai thực
hiện Thông báo số 958-TB/TU của Tỉnh ủy;
+ Kế hoạch số 17/KH-CT ngày 17/7/2017 về Phát động phong trào thi đua
đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong ngành Thuế tỉnh Đăk Nông giai đoạn
2017 – 2020;
+ Công văn số 785/CT-TTHT ngày 20/7/2017 về việc Đẩy mạnh tuyên
truyền hoàn thuế điện tử;
+ Công văn số 848/CT-TTHT ngày 28/7/2017 về việc Triển khai thực hiện
Quyết định số 1043/QĐ-BTC ngày 05/6/2017 của Bộ Tài chính;
+ Công văn số 909/CT-TTHT ngày 11/8/2017 về việc Tăng cường công
tác hỗ trợ, giải quyết khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp;
9


+ Công văn số 947/CT-TTHT ngày 24/8/2017 về việc Phát động cuộc thi
viết “Tìm kiếm sáng kiến cải cách hành chính” năm 2017;
+ Công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các văn bản liên quan đến
cải cách thủ tục hành chính.
Xác định rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền chính sách pháp
luật thuế đến các tổ chức, cá nhân người nộp thuế (NNT). Trong thời gian qua,
Cục Thuế đã chỉ đạo các Phòng chức năng thuộc Cục và Chi cục Thuế các
huyện, thị xã tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền,
hỗ trợ người nộp thuế; tích cực phối hợp với các cơ quan như: Báo Đăk Nông,
Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Đảng ủy Khối các
cơ quan tỉnh, Sở Tư pháp… xây dựng các Chuyên mục, Chuyên trang về công
tác phát động thi đua hoàn thành nhiệm vụ công tác thuế; triển khai tuyên
truyền, hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tiếp tục thực hiện khai thuế, nộp
thuế, hoàn thuế điện tử; cập nhật, phổ biến kịp thời các văn bản chính sách thuế
mới được sửa đổi, bổ sung, các TTHC liên quan đến thuế …
Tổ chức phổ biến, tập huấn về các chính sách, pháp luật thuế mới được
ban hành cho doanh nghiệp và thực hiện Hội nghị đối thoại, lắng nghe ý kiến
NNT theo quy định. Tại Hội nghị các câu hỏi của doanh nghiệp điều được trả lời
một cách thỏa đáng, đồng thời cơ quan Thuế ban hành văn bản trả lời cụ thể và
đăng tải trên Trang thông tin điện tử (Webiste) của Ngành theo quy định. Công
tác hỗ trợ, giải đáp kịp thời những vướng mắc của NNT đã góp phần tạo môi
trường thông thoáng trong quá trình hoạt động, sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp trên địa bàn, đồng thời động viên NNT chấp hành tốt nghĩa vụ nộp
thuế. Các cuộc điện thoại gọi đến nhờ tư vấn, hỗ trợ điều được nhấc máy kịp
thời, các câu trả lời đạt chất lượng, đem lại sự hài lòng cho NNT.
Kết quả trong 06 tháng đầu năm 2018, Cục Thuế đã phối hợp với Đài Phát
thanh và Truyền hình tỉnh thực hiện được 54 Chuyên mục “Thuế và cuộc sống”
phát trên sóng truyền hình và trên sóng phát thanh; phối hợp với Báo Đăk Nông
đăng tải trên Chuyên trang “Thuế Nhà nước” và tuyên tuyền qua các hình thức
khác như: Đài phát thanh của huyện, thị xã, Bản tin của Ban Tuyên giáo Tỉnh
10


ủy... với các tin, bài được đăng; hỗ trợ trực tiếp tại cơ quan Thuế cho hơn 500
lượt tổ chức, cá nhân, hỗ trợ bằng văn bản cho 71 tổ chức, cá nhân; tổ chức 11
buổi tập huấn, đối thoại với NNT với hơn 1.200 người tham gia. Thông qua các
buổi tập huấn, đối thoại, các doanh nghiệp đã cùng cơ quan Thuế trao đổi tìm ra
những chỗ chưa hợp lý từ các chính sách, pháp luật thuế khi áp dụng vào thực
tế, từ đó có những kiến nghị để sửa đổi bổ sung cho hoàn thiện.
- Công tác kiểm tra giám sát, sơ kết, tổng kết, hội nghị, hội thảo đối với
công tác cải cách thủ tục hành chính.
Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho công chức và người
lao động tại cơ quan Thuế các cấp nhằm nâng cao nhận thức chính trị và trách
nhiệm trong thực thi công vụ; thường xuyên giám sát việc thực hiện các quy
trình, TTHC ở các đơn vị trực thuộc. Xử lý nghiêm các sai phạm, đảm bảo kỷ
cương, kỷ luật của Ngành, có biện pháp xử lý đối với công chức, người đứng
đầu đơn vị trong việc không thực hiện đúng các quy trình, giải quyết các TTHC
thuế gây chậm chễ, khó khăn cho NNT. Chú trọng công tác kiểm tra nội bộ, tăng
cường kiểm tra công vụ để giám sát công chức thuế trong quá trình thực thi
nhiệm vụ, góp phần nâng cao công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết
kiệm chống lãng phí.
* Công tác cải cách thủ tục hành chính.
- Việc ban hành quyết định quy định các bộ TTHC liên quan đến người
dân và doanh nghiệp.
Ngày 30/6/2016, Bộ Tài chính có Quyết định số 1500/QĐ-BTC về việc
công bố TTHC được chuẩn hóa trong lĩnh vực Quản lý thuế thuộc thẩm quyền
giải quyết của Bộ Tài chính. Trong đó: 12 TTHC thuộc thẩm

quyền giải quyết

của Tổng cục Thuế; 165 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục Thuế;
123 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Chi cục Thuế.
Ngày 05/6/2017, Bộ Tài chính có Quyết định số 1043/QĐ-BTC về việc
công bố Danh mục TTHC có thể thực hiện qua dịch vụ bưu chính công ích thuộc
phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của Bộ Tài chính.
11


Trên cơ sở chỉ đạo của cấp trên, thời gian qua Cục Thuế tỉnh Đắk Nông đã
thực hiện nghiêm túc việc chuẩn hóa các TTCH thuộc thẩm quyền giải quyết của
Cục Thuế và của Chi cục Thuế trực thuộc.
- Việc công khai, minh bạch TTHC và duy trì, cập nhật cơ sở dữ liệu
Quốc gia về TTHC.
Thực hiện Quyết định số 1500/QĐ-BTC ngày 30/6/2016 của Bộ Tài chính
về việc công bố TTHC được chuẩn hóa trong lĩnh vực Quản lý thuế, Tổng cục
Thuế đã thực hiện niêm yết Bộ TTHC thuế được chuẩn hóa trên Website của
ngành Thuế tại Chuyên mục “Thủ tục hành chính thuế”, đồng thời cập nhật trên
Website của Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Bên cạnh đó
Cục Thuế cũng đã niêm yết tại Trung tâm hành chính công tỉnh Đăk Nông và bộ
phận “Một cửa” của Văn phòng Cục Thuế và 8 Chi cục Thuế trực thuộc.
- Việc rà soát, kiểm tra, cắt giảm các TTHC.
Xác định CCHC là một trong những nhiệm vụ then chốt góp phần thực
hiện hiệu quả công tác quản lý thuế, hàng năm Cục Thuế đã xây dựng các kế
hoạch trong đó có lồng ghép các nhiệm vụ CCHC. Đồng thời, Cục Thuế tiếp tục
chỉ đạo các đơn vị thuộc Cục Thuế thực hiện đồng bộ 6 nhóm nhiệm vụ chính
của CCHC, đó là: Cải cách thể chế; Cải cách TTHC; Cải cách tổ chức bộ máy
hành chính Nhà nước; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức; Cải cách tài chính công; Hiện đại hóa nền hành chính.
Thời gian qua, Cục Thuế tỉnh Đắk Nông đã cùng với ngành Thuế cả nước
rà soát, tham gia góp ý để Tổng cục Thuế trình Bộ Tài chính ban hành mới 07
TTHC, bãi bỏ 92 TTHC. Nhờ đó, số TTHC giảm từ 385 xuống còn 300 TTHC
đã được chuẩn hóa.
- Việc tiếp nhận kiến nghị, phản ánh của công dân, tổ chức, doanh nghiệp
về TTHC.
Thực hiện nghiêm túc việc niêm yết nội dung, địa chỉ tiếp nhận phản ánh,
kiến nghị của tổ chức, cá nhân về quy định hành chính theo Công văn số
448/TCT-PC ngày 05/02/2015 của Tổng cục Thuế, Công văn 2687/UBND-NC
12


ngày 08/6/2016 của UBND tỉnh Đăk Nông; tiếp nhận và giải quyết kịp thời các
phản ánh, kiến nghị về TTHC đúng theo thời gian quy định.
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động cung cấp dịch vụ công.
Thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện
tử, 6 tháng đầu năm 2018 Cục Thuế tiếp tục triển khai cung cấp và hỗ trợ sử
dụng 10 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, gồm hàng loạt các website: Tra
cứu thông tin người nộp thuế, hỏi đáp chính sách thuế, dịch vụ hỗ trợ nộp tờ
khai thuế TNCN online, tra cứu hóa đơn, dịch vụ hỗ trợ kê khai hồ sơ khai thuế
qua mạng, dịch vụ hỗ trợ kê khai báo cáo hóa đơn qua mạng, dịch vụ hỗ trợ kê
khai báo cáo biên lai phí, lệ phí qua mạng, dịch vụ hỗ trợ kê khai báo cáo tài
chính qua mạng, dịch vụ nộp thuế qua mạng...
Cơ quan thuế đã tổ chức việc tiếp nhận, giải quyết các TTHC cho NNT
theo cơ chế “một cửa” trên cơ sở hệ thống quy trình nghiệp vụ theo cơ chế “một
cửa” nhận/trả hồ sơ với phần mềm ứng dụng hỗ trợ nhận trả hồ sơ hành chính
thuế và giám sát việc giải quyết TTHC của cơ quan Thuế các cấp (ứng dụng
QHS, TMS), tách bạch được khâu tiếp nhận thủ tục hồ sơ với khâu giải quyết hồ
sơ; đảm bảo việc thống nhất về hồ sơ thủ tục và giám sát được thời gian thực
hiện giải quyết TTHC thuế.
Kết quả đạt được đến nay hệ thống khai thuế qua mạng đã được triển khai
tại Văn phòng Cục Thuế và 8/8 Chi cục Thuế trực thuộc; có 100% doanh nghiệp
đã thực hiện đăng ký kê khai, nộp thuế điện tử, với tỷ lệ nộp tờ khai đúng hạn
đạt trên 95%.
- Việc khảo sát đánh giá mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Để đo lường mức độ hài lòng của NNT đối với dịch vụ của cơ quan Thuế,
năm 2017, Tổng cục Thuế tiếp tục phối hợp với Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) triển khai đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với
cải cách TTHC thuế theo 5 khía cạnh, đó là: Tiếp cận thông tin chính sách, pháp
luật và TTHC thuế; Thực hiện các TTHC thuế; Thanh, kiểm tra và giải quyết khiếu
nại thuế; Sự phục vụ của công chức thuế; Kết quả giải quyết công việc.
13


Đối tượng tham gia khảo sát là các doanh nghiệp đang hoạt động ở 63
tỉnh, thành phố, được lựa chọn ngẫu nhiên phân tầng theo các tiêu chí là loại
hình doanh nghiệp, thời gian thành lập doanh nghiệp và lĩnh vực hoạt động...
Đánh giá cho thấy, sự hài lòng của doanh nghiệp năm 2017 là 80%, so với cuộc
khảo sát năm 2016 là 75%, tất các các chỉ số thành phần đều tăng.
Mặc dù, sự hài lòng của NNT đã tăng lên đáng kể, song tiến trình cải cách
TTHC thuế vẫn tồn tại một số hạn chế như: Văn bản hướng dẫn về thuế còn “ôm
đồm” các chính sách xã hội, quản lý kinh tế… cũng như tập trung quá nhiều vào
việc “đóng” các kẽ hở nhỏ, ngăn chặn các doanh nghiệp lợi dụng sự thông
thoáng của việc thành lập doanh nghiệp để gian lận thuế.
Công tác giải quyết các TTHC thuế của NNT theo cơ chế “một cửa” được
ngành Thuế triển khai thực hiện từ năm 2007 theo Quyết định số 78/2007/QĐ-BTC
ngày 18/09/2007 của Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế hướng dẫn, giải đáp
vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các TTHC thuế của NNT
theo cơ chế “một cửa”. Trên cơ sở đó, Cục Thuế tỉnh Đăk Nông đã triển khai thực
hiện đầy đủ, nghiêm túc việc giải quyết các TTHC cho NNT trên địa bàn tỉnh theo
đúng thủ tục, đảm bảo thời gian và trình tự hành chính theo đúng các quy trình, quy
chế do Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế ban hành. Việc thực hiện cơ chế “một cửa”,
“một cửa liên thông” trong việc giải quyết TTHC thuế trên địa bàn tỉnh thời gian
qua đã tạo điều kiện thuận lợi, giảm phiền hà cho người dân và doanh nghiệp; tăng
cường sự công khai, minh bạch về các thủ tục, hồ sơ giấy tờ, phí, lệ phí, thời gian
giải quyết công việc đồng thời nêu cao trách nhiệm thực thi công vụ của công chức
thuế, được NNT đánh giá cao.
Nhằm tiếp tục tháo gỡ những rào cản về TTHC, cải thiện môi trường đầu tư
kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngày 25/03/2015 Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg về Quy chế thực hiện cơ
chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa
phương, trong đó yêu cầu các cơ quan Nhà nước tiếp tục triển khai thực hiện cơ
chế “một cửa”, phối hợp thực hiện “một cửa liên thông” và ứng dụng công nghệ
14


thông tin trong giao dịch với người dân, doanh nghiệp theo cơ chế “một cửa điện
tử”.
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và UBND
tỉnh, Cục Thuế tỉnh Đăk Nông đã thường xuyên tập trung chỉ đạo việc thực hiện
cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC thuế tại Văn
phòng Cục và 8/8 đơn vị Chi cục Thuế trực thuộc trên địa bàn tỉnh.
Tại Văn phòng Cục Thuế và Chi cục Thuế các huyện, thị xã đều đã bố trí
địa điểm, nơi tiếp đón NNT tại vị trí thuận lợi, dễ tìm, riêng biệt; có biển tên,
biển chỉ dẫn đầy đủ; có trang bị bàn ghế, máy tính, ghế ngồi chờ… và các
phương tiện làm việc phù hợp, đồng thời lựa chọn và bố trí những công chức
thuế có năng lực chuyên môn, có tinh thần thái độ phục vụ tốt, có kỹ năng giao
tiếp để làm việc ở bộ phận “một cửa” … để tiếp nhận, hướng dẫn TTHC cho
NNT nhanh chóng, kịp thời; từ đó tạo sự văn minh, chuyên nghiệp của cơ quan
Thuế và công chức thuế trong giao dịch với NNT.
Phối hợp chặt chẽ với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh để thực hiện “một cửa
liên thông” trong việc cấp mã số doanh nghiệp, rút ngắn thời gian cấp mã số
doanh nghiệp xuống còn tối đa không quá 08 giờ (Theo quy định là 03 ngày làm
việc) và có thông báo kịp thời đối với những doanh nghiệp vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực thuế.
Kết quả giải quyết các công việc tại bộ phận “một cửa”, “một cửa liên
thông” từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/6/2018 như sau:
+ Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cấp mã số thuế cho 310 doanh
nghiệp, trong đó mã 10 số 260 doanh nghiệp, mã 13 số 50 doanh nghiệp.
+ Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ trả đúng hạn tại bộ phận “một cửa” đạt
trên 98,1%.
Như vậy có thể thấy rằng việc triển khai thực hiện công tác cải cách
TTHC trong những năm gần đây, đã có những chuyển biến tích cực, góp phần
trong việc ổn định và phát triển kinh tế - văn hóa xã hội tỉnh nhà. Việc đưa vào
thực hiện cơ chế “một cửa” để giải quyết công việc của tổ chức, công dân ở các
cấp, các ngành đã tạo được dư luận tốt, được sự đồng tình của đông đảo tổ chức,
15


công dân. Qua theo dõi đã rút ra một số kết quả tích cực cụ thể: Về cơ bản đã
giảm bớt được một số thủ tục không cần thiết mà trước đây quy định, giảm được
phiền hà, tốn kém thời gian, công sức của tổ chức và công dân khi có yêu cầu
giải quyết công việc liên quan đến lĩnh vực thuế. Đổi mới cách thức, quy trình
giải quyết các thủ tục hành chính, tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ
quan Thuế với tổ chức và công dân, cũng như tinh thần, thái độ phục vụ của đội
ngũ cán bộ, công chức. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được công tác cải
cách TTHC trong ngành Thuế tỉnh Đắk Nông vẫn còn bộc lộ những hạn chế, tồn
tại nhất định cần phải được khắc phục:

2.3.2. Về hạn chế, tồn tại:
Một là công tác cải cách TTCH mặc dù đã được đưa vào kế hoạch công
tác hàng năm, nhưng quá trình cải cách còn chậm, chưa đi vào chiều sâu, chưa
đạt được theo mục tiêu, yêu cầu đề ra. Thiếu sự phối hợp thống nhất, đồng bộ
trong cải cách thủ tục hành chính nhất là giữa các cơ quan chuyên môn của địa
phương với các cơ quan đơn vị thuộc ngành dọc quản lý (chưa có sự thống nhất
về biểu mẫu, hồ sơ, thủ tục).
Hai là việc rà soát các TTHC ở một số đơn vị trực thuộc còn mang tính
thụ động chưa thực sự được quan tâm.
Ba là công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, cơ chế
một cửa liên thông thật sự thực hiện chưa đạt yêu cầu đề ra, thực hiện còn mang
nhiều tính hình thức, chất lượng thấp. Việc niêm yết công khai các thủ tục hành
chính còn thiếu khoa học, chưa thuận lợi cho nhân dân tiếp cận; sổ sách theo dõi
công việc của Bộ phận một cửa chưa được thống kê, cập nhật thường xuyên và
kịp thời. Thiếu sự phối hợp giữa Bộ phận một cửa với các phòng chuyên môn
trong giải quyết hồ sơ dẫn đến còn trường hợp trả kết quả cho người dân bị trễ
hẹn.
Bốn là đội ngũ công chức còn thiếu đầu tư về chiều sâu, chưa có những
chuyển biến căn bản trong quá trình tham mưu cho lãnh đạo những nhiệm vụ
16


mang tính chiến lược cao. Một bộ phận cán bộ, công chức làm việc cầm chừng,
thiếu tinh thần trách nhiệm, hiệu quả chưa cao, chưa nhiệt tình tiếp cận với
người dân để giải quyết công việc.
2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Sự chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu các đơn vị chưa thật sự quyết
liệt, còn tình trạng trông chờ, ỷ lại vào cơ quan đầu mối; một số cơ quan, đơn vị
chưa chủ động xây dựng và triển khai Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn,
hàng năm nên lúng túng trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ.
Một bộ phận công chức thuế chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện về vai trò của
công tác cải cách TTHC nên còn tỏ thái độ thờ ơ trước nhu cầu giải quyết công việc
ngày càng cao của người dân, doanh nghiệp, dẫn đến kết quả thực hiện, giải quyết
TTHC vẫn còn tình trạng chậm trễ.
Việc thực hiện kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra công tác cải cách TTHC chưa
được giám sát chặt chẽ; ngoài ra, việc xử lý các trường hợp và hành vi sai phạm
trong thực hiện cải cách TTHC chưa quyết liệt và triệt để.
Đội ngũ công chức thuế ở một số khâu, bộ phận còn hạn chế, yếu kém,
chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới. Nhận thức của một bộ phận đội ngũ
cán bộ, công chức về vai trò, ý nghĩa của công tác cải cách TTHC chậm chuyển
biến.
Cơ sở vật chất Cục Thuế tỉnh Đắk Nông còn hạn chế, chưa đáp ứng được
yêu cầu công việc, đặc biệt là các đơn vị ở cơ sở, vùng sâu, vùng xa. Kinh phí
đầu tư bảo đảm cho việc triển khai, thực hiện các nhiệm vụ cải cách TTHC Nhà
nước và hiện đại hóa nền hành chính, cơ quan hành chính các cấp chưa tương
xứng với yêu cầu đề ra.

17


Phần thứ ba
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

3.1. Nhiệm vụ đặt ra cho công tác cải cách TTHC trong thời gian tới.
Trong thời gian tới, để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng,
Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 20162020 cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất là tiếp tục phát huy và nâng cao trách nhiệm của người đứng
đầu, phổ biến quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính
phủ về cải cách hành chính, cải cách TTHC, làm chuyển biến nhận thức trong
toàn hệ thống ngành Thuế thấm nhuần lời day của Bác Hồ “Cán bộ là công bộc
của dân, phải gần dân, hiểu dân, học dân, trọng dân, hết lòng, hết sức phục vụ
nhân dân”, tiếp tục tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành cải cách TTHC, gắn
kết chặt chẽ công tác cải cách TTHC của ngành với cải cách hành chính của địa
phương để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong cải cách TTHC của ngành.
Thứ hai đẩy mạnh thực hiện đổi mới, sắp xếp và kiện toàn tổ chức bộ
máy hành chính tinh gọn, có hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp thẩm quyền
18


giải quyết công việc gắn kết chặt chẽ với các chính sách tinh giảm biên chế trên
cơ sở triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 18-NQ/TW.
Ba là tập trung xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách pháp luật
về phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, thông tin truyền thông, chú ý cải
cách TTHC ngay trong công tác xây dựng thể chế, rút ngắn thời gian giải quyết
công việc.
Bốn là tăng cường cải cách TTHC liên quan đến thuế, nâng cao chất
lượng hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông nhân rộng mô hình
Trung tâm phục vụ hành chính công hoạt động hiệu quả ở địa phương. Tiếp tục
pháp huy có hiệu quả kênh thông tin tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người
dân, doanh nghiệp.
Năm là tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động trong ngành
Thuế.
3.2. Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra và khắc phụ
cơ bản những tồn tại đã nêu.
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho NNT,
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và cải thiện môi trường kinh doanh quốc gia là nhiệm vụ trọng tâm của ngành
Thuế trong thời gian tới. Với mục tiêu đó có một số giải pháp như sau:
Một là đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông về cải cách thủ tục hành
chính. Truyền thông là một trong những công cụ hữu hiệu nhất trong việc nâng
cao nhận thức của toàn xã hội, vì vậy cần thiết phải đẩy mạnh công tác thông tin
– truyền thông bằng nhiều hình thức khác nhau, thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thông
tin – truyền thông về các nội dung liên quan đến cải cách TTHC, các quy định
về TTHC, các chương trình, kế hoạch cải cách TTHC của ngành Thuế nói chung
và của ngành Thuế tỉnh Đắk Nông nói riêng. Các cán bộ, công chức, người lao
động cũng như các đối tượng tham gia TTHC trong lĩnh vực Thuế cần tích cực
giám sát việc thực hiện TTHC, kịp thời phản ánh, kiến nghị với Bộ Tài chính và
19


các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về những hành vi chậm trễ, gây
phiền hà hoặc thực hiện TTHC không đúng quy định của Luật Quản lý thuế.
Chính việc huy động các đối tượng chịu sự tác động của TTHC tham gia vào
việc xây dựng các quy định hành chính sẽ bổ sung thêm nguồn cho cải cách
TTHC, từ việc đóng góp các sáng kiến cải cách TTHC đến việc giám sát thực
hiện TTHC theo đúng các quy định của pháp luật.
Hai là tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, báo cáo
với đồng chí thường trực tỉnh ủy, thường trực UBND các tỉnh đề xuất các giải
pháp về cơ chế, chính sách, cải cách TTHC; phối hợp giữa các cơ quan liên quan
để khắc phục những tồn tại về quản lý, thu thuế sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền thuê đất.
Ba là toàn ngành huy động các nguồn lực tập trung đẩy mạnh việc thực
hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2018 (thanh tra tối thiểu 1% số DN đang
quản lý thuế và kiểm tra tối thiểu đạt 17% số DN đang quản lý thuế). Chú trọng
thanh tra, kiểm tra đối với các lĩnh vực chuyển giá, thương mại điện tử, các
doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...
Năm là phát động phong trào cải cách TTHC trong toàn cơ quan thuế, rà
soát các quy trình nghiệp vụ, quy chế quản lý, giảm thiểu TTHC, giảm phiền
phức cho NNT, tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 19/NQ-CP của
Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh quốc gia. Trong đó có việc giảm
thời gian thực hiện TTHC thuế của NNT, đơn giản hóa TTHC
Sáu là tổ chức đối thoại thường xuyên với NNT để nắm bắt được những
vấn đề nổi cộm trong thực tế, đồng thời cũng kịp thời tháo gỡ những vướng mắc
những bức xúc của người nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế
trong việc chấp hành pháp luật.
Bảy là đẩy mạnh công tác kê khai thuế qua mạng, theo hướng bên cạnh
việc mở rộng về số lượng cần phải nâng cao về chất lượng, mở rộng hình thức
nộp thuế điện tử, thực hiện chữ ký số trên diện rộng đối với đề án kết nối thông
tin 04 ngành (thuế, hải quan, kho bạc, tài chính). Duy trì củng cố hiệu quả công
nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý thuế thu nhập cá nhận.
20


Tám là triển khai sắp xếp bộ máy, kiện toàn hệ thống pháp chế, thanh tra
thuế các cấp. Đẩy mạnh công tác đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực, bồi dưỡng
kiến thức chuyên ngành cho cán bộ trẻ, có chuyên môn tốt, có năng lực phát
triển.
Chín là đổi mới, nâng cao năng lực đội ngũ công chức thực hiện TTHC.
Đây là một nhiệm vụ và thách thức lớn, bởi vì công chức được coi là một yếu tố
quan trọng để thực hiện được các mục tiêu quốc gia đã đề ra. Để duy trì được
đội ngũ công chức có năng lực và trình độ chuyên môn ngày càng được nâng
cao, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức có ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy cần
phải đổi mới cơ bản công tác đào tạo, bồi dượng công chức nhà nước, xây dựng
một cơ chế tiền lương công chức hợp lý, tương đồng ở mức thỏa đáng với các vị
trí tương ứng.
Trên cơ sở các giải pháp chung kết hợp với kết quả nghiên cứu thực tế
bước đầu có thể rút ra một số kinh nghiệm cải cách TTHC tại Cục Thuế tỉnh
Đắk Nông như sau:
Một là, đổi mới về nhận thức đối với công tác CCHC nói chung và cải
cách TTHC nói riêng. Trước hết, phải có sự chỉ đạo, triển khai thực hiện đồng
bộ của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, phải có quyết tâm cao mới đạt
được kết quả mong muốn, đặc biệt là nhận thức và sự chỉ đạo của người đứng
đầu, vì thực sự đây là một cuộc đấu tranh quyết liệt với sự bảo thủ trì trệ để đi
đến một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh và từng bước hiện đại.
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của các Cấp uỷ đảng đối với nhiệm vụ theo
đúng tư tưởng chỉ đạo: Cải cách TTHC gắn với xây dựng và thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở, đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, phải thật sự trở thành
quyết tâm chính trị của toàn Đảng bộ, quân và dân tỉnh nhà. Gắn cải cách TTHC
với đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền; nâng cao
chất lượng công tác của các cơ quan hành chính Nhà nước theo hướng công khai,
minh bạch, dân chủ, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
Ba là, xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ tinh gọn. Để thực hiện có kết quả
công cuộc cải cách TTHC, yếu tố quyết định hàng đầu chính là tổ chức bộ máy và
21


cán bộ, công chức. Do đó, bộ máy ở các đơn vị trực thuộc phải được tổ chức sắp
xếp gọn nhẹ, hợp lý và thường xuyên được kiện toàn. Cán bộ, công chức phải
thường xuyên được cập nhật kiến thức, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý
luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực thi công vụ.
Bốn là, bảo đảm sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai thực hiện,
bao gồm từ khâu xây dựng chương trình, kế hoạch, xác định mục tiêu, các
nhiệm vụ và giải pháp đến việc tổ chức và kiểm tra thực hiện. Luôn coi trọng
nhiệm vụ cải cách TTHC là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng cần tập trung chỉ
đạo, điều hành. Tạo điều kiện để nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội, doanh
nghiệp giám sát, kiểm tra công tác cải cách TTHC; chú ý lấy ý kiến nhân dân,
đối thoại trực tiếp với nhân dân và doanh nghiệp.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, chính quyền
trong triển khai các nội dung, nhiệm vụ của cải cách TTHC; đồng thời xây dựng
và thực hiện cơ chế giám sát của nhân dân đối với việc thực hiện cải cách TTHC
tại các đơn vị. Qua kiểm tra giám sát, kịp thời nhân rộng các mô hình thực hiện
có hiệu quả; đồng thời phát hiện, xử lý kịp thời những tổ chức, cá nhân có sai
phạm.
Sáu là, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cải
cách TTHC. Trước hết phải coi nhân dân và doanh nghiệp là đối tượng để hướng
dẫn và phục vụ. Phải tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức của đội ngũ
cán bộ, công chức, trước hết là người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước
các cấp về nền hành chính phục vụ nhân dân.
Tám là, Xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư phương tiện, trang thiết bị, nhất
là công nghệ thông tin đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu cải cách TTHC.

22


KẾT LUẬN

Thực tế công tác cải cách TTHC những năm gần đây đã cho thấy quyết
tâm cao của Bộ Tài chính nói chung và ngành Thuế nói riêng trong việc tạo
dựng một môi trường thuận lợi cho cá nhân và doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh, đầu tư. Trong những năm đầu thực hiện Chương trình tổng thể cải cách
hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, Cục Thuế tỉnh Đắk Nông đã có
nhiều mô hình mới trong cải cách TTHC, thể hiện tư duy đổi mới và ý chí quyết
tâm của cả hệ thống chính trị như thành lập đường dây nóng, ban hành Quy định
trách nhiệm công khai xin lỗi trong giải quyết hồ sơ, TTHC cho cá nhân, tổ
chức, thực hiện thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý…; bộ máy hành chính
Nhà nước từ tỉnh đến cơ sở đã có những chuyển biến tích cực, đồng bộ, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả, cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý, điều hành các
hoạt động kinh tế - xã hội; đội ngũ cán bộ, công chức được nâng cao về chất
lượng, đạo đức công vụ; phương thức, quản lý đầu tư được đổi mới nhằm đẩy
nhanh việc tái cơ cấu đầu tư theo hướng đa dạng hóa các hình thức đầu tư; đẩy
mạnh phân cấp trên các lĩnh vực, đặc biệt là phân cấp trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng cơ bản, đổi mới công tác quản lý cán bộ, quản lý tài chính theo hướng ủy
quyền, phân cấp tối đa cho Thủ trưởng các Sở, ngành, địa phương. Qua đó hỗ
23


trợ tích cực cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, nâng cao lòng tin của quần chúng nhân dân với chính quyền cũng như nâng
cao vị thế của Cục Thuế tỉnh Đắk Nông trên cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác CCHC có mặt chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh, đòi hỏi ngày càng cao của công dân,
tổ chức và doanh nghiệp, như: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số
cải cách hành chính (Par Index) của tỉnh có nhiều cải thiện nhưng một số tiêu
chí đánh giá còn thấp, chưa có sự chuyển biến đáng kể như: Tính năng động và
tiên phong của các cấp chính quyền, chi phí không chính thức, chi phí thời gian
thực hiện các quy định của Nhà nước, tính minh bạch. Số lượng các TTHC thực
hiện theo cơ chế một cửa liên thông còn ít; một số cán bộ, công chức khi giải
quyết công việc liên quan đến tổ chức, công dân chưa làm hết trách nhiệm, chưa
tận tình hướng dẫn để các tổ chức và công dân giải quyết theo quy định. Việc
triển khai ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý hành chính ở
một số địa phương, đơn vị kết quả còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của một
nền hành chính hiện đại.
Trong thời gian đến, công tác cải cách TTHC vẫn tiếp tục được Cục Thuế tỉnh
Đắk Nông xác định là nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá của công tác CCHC, là giải
pháp cơ bản góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội,
thúc đẩy sản xuất kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư.
Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự
ủng hộ, giám sát của người dân, doanh nghiệp và sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt
của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, hi vọng rằng công tác
cải cách TTHC của Cục Thuế nói riêng và của tỉnh Đắk Nông nói chung sẽ có
bước đột phá trong thời gian tới, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý
Nhà nước, huy động được mọi nguồn lực cho phát triển, nâng cao năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh./.

24


DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cải cách nền hành chính Việt Nam, thực trạng và giải pháp (2009) –
NXB Chính trị quốc gia Hà nội, Việt Nam.
2. Báo cáo tổng kết công tác thuế tại Cục Thuế tỉnh Đắk Nông năm 2016,
2017 và báo cáo tổng kết công tác thuế 6 tháng đầu năm 2018.
3. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII.
4. Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 tại Hội nghị lần thứ 5, về
đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy
nhà nước;
5. Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về Chương
trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020;
6. Quyết định số 1186/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 ban hành Quy trình về
kiểm tra việc thực hiện hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính và tiếp nhận, giải
quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.
7. Kỷ yếu Hội thảo “cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam dưới góc
nhìn của các nhà khoa học” – Học viện hành chính quốc gia năm 2010.
8. Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, UBND tỉnh
Đắk Nông.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×