Tải bản đầy đủ

Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Tây chi nhánh Cần Thơ

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI :
Hoạt động tiền tệ tín dụng Ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự
ổn định và phát triển kinh tế quốc gia. Người ta sẽ không thể thiết lập một nền kinh
tế hiệu quả chừng nào chưa xây dựng được một chính sách tài chính – tiền tệ, một
hệ thống Ngân hàng có khả năng đảm bảo việc thu hút và phân bổ có hiệu quả
nguồn tài chính.
Trước đây, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng kinh tế kém phát
triển của nước ta là sự thiếu vốn trầm trọng, nhưng cái thiếu lớn nhất là sức huy
động vốn, chất lượng của công tác cho vay vốn, thiếu thị trường vốn cùng với môi
trường pháp lý phù hợp và các điều kiện cần thiết nhất để động viên thu hút các
nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế. Vốn có nhiều nhưng cần phải tìm ra được
phuowgn thức huy động và “lôi” vốn ra khỏi những nơi nắm giữ nó. Quản lý và sử
dụng tốt vốn huy động, cũng như khả năng cho vay vốn để đáp ứng nhu cầu vốn đối
với nền kinh tế và nhu cầu của khách hàng là một vấn đề đang được chú ý quan tâm,
sự khơi thông các dòng vốn đang là nhiệm vụ quan trọng trong việc hoạch đính
chính sách kinh tế.
Mặt khác, để có thể tồn tại và phát triển, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư với tốc
độ nhanh, ổn định hòa nhập với sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới, các
Ngân hàng Thương mại Việt Nam phải quan tâm nhiều hơn nữa đến công tác huy

động vốn và cho vay vốn.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, chúng ta không thể thực hiện thành công
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nếu không huy động được nhiều nguồn vốn,
sử dụng hiệu quả và cho vay vốn thu lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu khác. Vấn
đề hình thành thị trường vốn ngày càng trở nên bức xúc đối với nền kinh tế, nòng
cốt của thị trường này phải là các ngân hàng Thương mại. Vì thế ngành ngân hàng
1


đảm đương nhiệm vụ nặng nề là tiếp tục đổi mới tuân thủ những nguyên tắc của cơ
chế thị trường và các thông lệ quốc tế nhằm huy động và cho vay có hiệu quả đáp
ứng vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế quốc dân.
Từ sau năm 1988 Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Tây – chi nhánh Cần
Thơ thực sự bước vào hoạt động kinh doanh như một ngân hàng thương mại. Chi
nhánh đã xác định vấn đề huy động vốn và cho vay vốn là điều kiện quyết định
kinh doanh của mình trong giai đoạn hiện nay. Trong hoạt động này bên cạnh những
thành công không nhỏ đã đạt được chi nhánh còn gặp phải những khó khăn, hạn chế
cần phải tháo gỡ đồng thời đưa ra những giải pháp hữu hiệu để không ngừng hoàn
thiện. Một trong những vấn đề đó là “làm thế nào để có đủ vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế và cho vay vốn phục vụ kinh doanh sản xuất...”. Những giải pháp
tăng cường hoạt động huy động vốn và cho vay vốn đang là vấn đề có tính thời sự,
cấp bách hiện nay ở các Ngân hàng thương mại nói chung và Chi nhánh Cần Thơ
nói riêng. Đứng trước yêu cầu của công cuộc đổi mới và những thách thức của thời
đại, bài toán về hoạt động có hiệu quả của công tác huy động vốn và cho vay vốn,
nhằm bù đắp thiếu hụt vốn đầu tư là vấn đề quan tâm hàng đầu trong hoạt động của
các Ngân hàng thương mại. Xuất phát từ thực tiễn trên, em đã chọn đề tài “Phân
tích tình hình huy động vốn và cho vay tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương
Tây chi nhánh Cần Thơ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :
1.2.1 Mục tiêu chung :
Đề tài nghiên cứu tình hình huy động vốn và cho vay vốn của Ngân hàng
Thương mại cổ phần Phương Tây - Chi nhánh Cần Thơ. Trên cơ sở đó đề xuất một
số giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và
cho vay của Ngân hàng, qua đó giúp cho Ngân hàng ngày càng phát triển bền vững
hơn.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể :

2


- Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay vốn của NHTMCP Phương
Tây
- Đánh giá tình hình huy động vốn và cho vay vốn của Ngân hàng TMCP
Phương Tây - Chi nhánh Cần Thơ qua 3 năm 2008-2010.
- Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn và
cho vay vốn của Ngân hàng TMCP Phương Tây - Chi nhánh Cần Thơ.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
1.3.1 Không gian :
- Đề tài thực hiện thông qua phòng tín dụng Ngân Hàng TMCP Phương Tây.
- Trụ sở chính : 127 Lý Tự Trọng, Phường An Phú, Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.
1.3.2 Thời gian :
Vì thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên số liệu được sử dụng cho luận văn
từ năm 2008 - 2010
Luận văn được thực hiện trong thời gian từ 21/02/2011 đến 02/05/2011.
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu :
Đề tài chủ yếu tập trung phân tích các số liệu liên quan đến hoạt động huy
động vốn và cho vay vốn của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Phương Tây chi
nhánh Cần Thơ từ năm 2008 đến năm 2010.

3


CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
2.1.1 Một số cơ sở lý thuyết về hoạt động huy động vốn
a) Khái niệm về hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng
thương mại. Hoạt động này mang lại nguồn vốn giúp ngân hàng có thể thực hiện các hoạt
động khác như: cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ ngắn hạn cho khách hàng... Nghiệp vụ
huy động vốn của ngân hàng thương mại được thực hiện bằng hành vi mở tài khoản để thực
hiện thanh toán cho khách hàng hoặc huy động các loại tiền gửi định kỳ có lãi.
Trong giai đoạn sơ khai của hoạt động ngân hàng, những nghiệp vụ này chỉ
đơn thuần là hoạt động cất giữ các tài sản có giá nhắm mục đích đảm bảo an toàn, và
lúc này, người phải trả phí là người gửi tiền chứ không phải là các ngân hàng, các
khoản tiền chỉ được xem đơn thuần là vật được kí gửi chứ hoàn toàn không đóng vai
trò là nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại, tiền lúc này không được xem là
tiền tệ theo đúng nghĩa của nó, vì không có khả năng luân chuyển, không sinh ra
được lợi nhuận. Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp vụ ngân hàng phát triển, vị
thế đó bị đảo ngược, ngân hàng là người phải trả phí (lãi suất – giá cả của tín dụng),
4


và nguồn tiền được kí gửi thay đổi vai trò của nó, trở thành nguồn vốn khả dụng và
lớn nhất của các ngân hàng thương mại hiện nay. Chính vì vậy, trái ngược với quá
khứ, ngân hàng là người phải đi nài nỉ khách hàng gửi tiền. Nếu trước đây, ngân
hàng là người bị động trong quan hệ này thì hiện nay, hầu hết tất cả các ngân hàng
đều có các chính sách, phương thức để lôi kéo nguồn tiền gửi này và chính vì vậy
các phương thức huy động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng
hơn. Có thể nói, hiện nay, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động hết
sức quan trọng và liên quan đến sự sống còn của các ngân hàng thương mại.
Xuất hiện khá lâu đời và không ngừng phát triển, thay đổi cùng với sự phát
triển của các ngân hàng thương mại, nội hàm của khái niệm hoạt động huy động vốn
đã có những thay đổi rất đáng kể, cả về quy mô và các hình thức thể hiện. Hơn nữa,
gần như không tìm được một định nghĩa hoàn thiện về hoạt động này cũng như
không có được sự thống nhất hoàn toàn giữa các quan điểm. Đặc biệt, là sự khác
biệt trong cách hiểu khi đề cập vấn đề này dưới các khía cạnh khác nhau.
Phổ biến nhất là việc sử dụng thuật ngữ này trong các khía cạnh không
chuyên, đặc biệt là ngôn ngữ thường nhật của xã hội và báo chí. Khái niệm huy
động vốn được sử dụng ở đây đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại có
thể nói là hẹp và không rõ ràng nhất, trong nhiều trường hợp có sự không thống nhất
trong nội hàm của bản thân khái niệm. Nhưng nhìn chung khái niệm này được dùng
chủ yếu đề cập đến một hoạt động đặc trưng nhất của các ngân hàng thương mại đó là nhận tiền gửi và dưới các hình thức cơ bản nhất, cụ thể là nhận tiền gửi tiết
kiệm và các loại tiền gửi có và không có kì hạn khác.
Một cách không chính thức, dưới khía cạnh kinh tế cũng có khá nhiều cách
tiếp cận với riêng khái niệm này, tuy cũng khá tương đồng nhau và phạm vi thường
rộng hơn khái niệm được đề cập ở trên nhưng nội hàm của chúng thường không
đồng nhất. Cách tiếp cận thông thường nhất hiện nay trong các nghiên cứu của các
chuyên ngành kinh tế, tài chính ngân hàng là tiếp cận khái niệm huy động vốn từ
nguồn gốc của các nguồn vốn. Chẳng hạn, nguồn vốn được chia thành vốn tự có,
5


vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận, vốn khác. Chính vì vậy, hoạt động huy
động vốn của ngân hàng thương mại lúc này bao gồm cả việc khởi tạo nguồn vốn
ban đầu cho sự hình thành vốn điều lệ và cả việc tạo lập nguồn vốn cấp 2 (một bộ
phận của nguồn vốn tự có) của ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, khi nhắc đến nghiệp vụ huy động vốn của các ngân hàng thương mại,
một số tài liệu chuyên ngành đôi lúc cũng có cách tiếp cận hẹp hơn. Chẳng hạn, trong
một số giáo tài liệu giảng dạy của các trường khối kinh tế tài chính khi đề cập đến các
hình thức của ngiệp vụ huy động vốn thường chỉ bao gồm: Hình thức tiền gửi thanh toán,
hình thức tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, các hình thức tiền gửi đặc biệt khác. Có
thể xem đây là một cách tiếp cận thiên về tính kinh tế và mang nặng tính nghiệp vụ
nhưng thiết nghĩ đôi lúc có khả năng gây tâm lí thiên lệch đối với các chủ thể tiếp nhận.
Vẫn biết rằng khi tiếp cận từ khía cạnh này, quan điểm của nhà nghiên cứu đang cố nhấn
mạnh tính lợi nhuận trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Có nghĩa rằng, nếu
loại trừ các hình thức khác (ví dụ như các khoản vay trong thị trường liên ngân hàng)
trong việc đảm bảo nguồn vốn, đảm bảo khả năng thanh khoản của các ngân hàng
thương mại, vô hình chung đã bỏ qua một trong những kênh quan trọng nhất trong việc
đảm bảo sự hoạt động bình thường, an toàn của các ngân hàng.
Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về hoạt động huy động vốn như sau: “Hoạt
động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là hoạt động mà trong đó các
ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự
vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật”.
b) Ý nghĩa của hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả. Và ngân
hàng sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ khác như: thanh toán,
chiết khấu, chi trả séc…
Như vậy, công tác huy động vốn có tác dụng quyết định đến các nghiệp vụ tín
dụng, thanh toán của ngân hàng thương mại. Với mục tiêu đạt được lợi nhuận cao
6


trong việc kinh doanh tiền tệ, do đó, ngân h àng phải phối hợp chiến lược huy động
vốn và các chiến lược khác với nhau. Trong cơ chế thị trường ngày nay, công tác
huy động vốn giữa các ngân hàng thương mại có sự cạnh tranh rất gay gắt. Mỗi
ngân hàng đều đua nhau tăng lãi suất huy động để thu hút nguồn vốn từ người dân.
Do nguồn vốn là một phần cho sự sống còn nên các ngân hàng đều có một chiến
lược thu hút vốn riêng bằng nhiều giải pháp khác nhau. Vì vậy có thể nói công tác
huy động vốn có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại của ngân hàng.
c) Các hình thức huy động vốn
 Vốn tiền gửi
Tiền gửi là số tiền của khách hàng tại ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không
kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được
hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền. Tiền
gửi huy động của ngân hàng được chia theo nhóm khách hàng.
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế: Là tiền gửi từ các doanh nghiệp hoặc từ các
đơn vị kinh tế khác. Nhóm khách hàng này thường gửi tiền ở ngân hàng để thuận
tiện cho việc kinh doanh và giao dịch của họ. Tuy nhiên, cũng có những lúc họ gửi
tiền vào ngân hàng với mục đích sinh lời ở dạng tiền gửi có kỳ hạn. Do đó, nhóm
khách hàng này thường gửi tiền vào ngân hàng dưới các hình thức sau:
+ Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán): Là loại tiền gửi mà khi gửi vào,
khách hàng gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước cho
ngân hàng, và ngân hàng phải thỏa mãn yêu cầu đó của khách hàng. Do đây là
nguồn vốn không ổn định nên ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất thấp.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi tiền vào ngân
hàng có sự thỏa thuận về các loại thời hạn với ngân hàng để chọn một loại thời hạn
gửi tiền thích hợp. Khách hàng gửi tiền theo thời hạn chỉ được rút tiền ra khi đến
hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các ngân hàng
thường cho phép khách hàng được rút tiền ra trước thời hạn nhưng không được

7


hưởng lãi suất, hoặc chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn, thông thường là lãi
suất tiền gửi không kỳ hạn.
- Tiền gửi của cá nhân và hộ gia đình: Là một bộ phận thu nhập bằng tiền của cá
nhân và hộ gia đình gửi tại ngân hàng. Tiền gửi của nhóm khách hàng này bao gồm:
+ Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền của cá nhân và hộ gia đình được gửi vào
tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo
qui định của ngân hàng nhận gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo qui định của pháp
luật về bảo hiểm tiền gửi. Đây là hình thức huy động tiền gửi theo kiểu truyền thống
của ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm được chia làm hai loại: Tiết kiệm có kỳ hạn và tiết
kiệm không có kỳ hạn.
+ Tài khoản tiền gửi cá nhân: Là loại tiền gửi mà từng cá nhân mở tài khoản
tại ngân hàng để sử dụng cho việc thanh toán không dùng tiền mặt như ký séc, hoặc
sử dụng cho các loại thẻ thanh toán. Vì vậy, tài khoản tiền gửi cá nhân cũng góp
phần tăng cường nguồn vốn cho các ngân hàng thương mại, khi đời sống vật chất
của người dân được nâng lên nên càng có nhiều cá nhân mở tài khoản tiền gửi.
+ Tiền gửi khác: Ngoài hai loại tiền gửi trên, tại các ngân hàng thương mại
còn có các khoản tiền gửi như: Tiền gửi vốn chuyên dùng, tiền gửi của các tổ chức
tín dụng khác, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước...
 Vốn huy động bằng các chứng từ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định, điều
kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua. Ở
Việt Nam, khi các ngân hàng thương mại cần huy động số vốn lớn trong thời gian
ngắn thì ngân hàng có thể phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu ngân hàng
có mục đích, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi.
- Giấy tờ có giá ngắn hạn: Là giấy tờ có giá có thời hạn đến một năm bao gồm
kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.

8


- Giấy tờ có giá dài hạn: Là giấy tờ có giá có thời hạn từ trên một năm trở lên
kể từ khi phát hành đến hết hạn, bao gồm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và
các giấy tờ có giá dài hạn khác.
 Nguồn vốn đi vay
Trong những trường hợp cần vốn gấp với số lượng lớn hoặc cần thiết để bù
đắp những thiếu hụt tạm thời thì buộc ngân hàng thương mại phải đi vay của các
ngân hàng khác hoặc của ngân hàng Trung ương. Nguồn vốn đi vay bao gồm:
- Vay của các tổ chức tín dụng: Tình trạng thiếu vốn hay thừa vốn của một
ngân hàng ở một thời điểm nào đó là hiện tượng hết sức bình thường. Vì có những
lúc nguồn vốn huy động vào ít, không đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của ngân
hàng thì buộc ngân hàng phải đi vay các ngân hàng khác. Ngược lại trường hợp huy
động nhiều nhưng hạn chế đầu ra, tức ngân hàng thừa ngân quỹ, khi đó ngân hàng
có thể cho các ngân hàng khác vay để hạn chế thiệt hại chi phí trả lãi. Ưu điểm đối
với nguồn vốn đi vay là giúp ngân hàng tận dụng được nguồn vốn lớn trong thời
gian ngắn nhưng có nhược điểm là phải trả lãi suất cao hơn vốn huy động.
- Vay của ngân hàng Trung ương: Trong vai trò là người điều hành chính sách
tiền tệ của quốc gia. Ngân hàng Trung ương cũng thực hiện nghiệp vụ cho vay đối
với các ngân hàng trung gian trong vai trò điều tiết lượng cung ứng tiền. Vì vậy, khi
có nhu cầu, các ngân hàng thương mại sẽ được ngân hàng Trung ương cho vay vốn.
Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng trung gian vay dưới các hình thức sau:
+ Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng: Là hình thức tái cấp vốn của Ngân hàng
Trung ương cho các ngân hàng thương mại đã cho vay đối với khách hàng.
+ Chiết khấu các chứng từ có giá trị ngắn hạn.
+ Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố các chứng từ có giá.
Ngoài các hình thức cho vay trên, Ngân hàng Trung ương còn thực hiện cho
vay bổ sung thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại . Trong trường hợp
đặc biệt, khi được chính phủ chấp thuận, Ngân hàng Trung ương còn cho vay đối
với các tổ chức tín dụng tạm thời mất khả năng thanh toán.
9


- Nguồn vốn hình thành trong thanh toán: Từ việc tổ chức thực hiện thanh
toán trong doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng có thể huy động được bộ phận vốn
đáng kể từ những quy định ký quỹ trong thanh toán. Trong quá trình thực hiện thanh
toán qua ngân hàng giữa các khách hàng, ngân hàng thương mại huy động được vốn
tiền tệ nhàn rỗi dưới các hình thức sau: Do chênh lệch giữa thời điểm trích tài khoản
của người phải trả và thời điểm ghi có cho người thụ hưởng;
Trong quá trình thanh toán, có một số hình thức thanh toán phải lưu ký tiền
vào tài khoản riêng, ví dụ: Séc bảo chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán ký quỹ…
- Nguồn vốn khác: Ngoài ra, ngân hàng có thể tận dụng các nguồn vốn do ủy
thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc của nước ngoài để đầu tư cho các chương
trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
2.1.2. Một số cơ sở lý thuyết về hoạt động cho vay vốn
a) Khái niệm về hoạt động cho vay vốn
Cho vay vốn là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng và đóng vai
trò là một hoạt động quan trọng trong quá trình vận hành của các tổ chức tín dụng.
Theo khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “Cho
vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho
khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
b) Ý nghĩa của hoạt động cho vay vốn
Thứ nhất, đối với ngân hàng thì hoạt động cho vay vốn này nhằm mục đích
giúp ngân hàng có thể thu lợi nhuận từ tiền lãi khi cho vay và đầu tư vào mục đích
khác đem lại nhiều lợi ích cho đơn vị mình.
Thứ hai, đối với Chính phủ thì hoạt động này chính là một công cụ nhằm điều
tiết nền kinh tế. Trong thời kỳ khủng hoảng lạm phát như hiện nay thì hoạt động cho
vay vốn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Khi nền kinh tế thừa vốn, mức lạm phát cao
thì Chính phủ có thể thông qua các ngân hàng nhà nước thu hút tiền về để điều chỉnh

10


lại nền kinh tế, như vậy mức lạm phát sẽ hạn chế đi, giúp cân bằng mức sống của
người dân cũng như của thị trường.
Thứ ba, đối với nền kinh tế thì hoạt động cho vay vốn đã đáp ứng được nhu
cầu của xã hội nói chung của các cá nhân, tổ chức muốn mở rộng kinh doanh mà
thiếu vốn. Đồng thời hoạt động này còn nhằm giúp khách hàng có đủ vốn để hoạt
động hiệu quả trong suốt chu kỳ kinh doanh.
c) Các phương thức cho vay
Theo quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước các tổ chức tín dụng được
phép thỏa thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay:
- Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng
và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Theo phương thức này thì ngân hàng và
khách hàng sẽ xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn
nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Đây là phương thức cho vay theo
hạn mức tín dụng, nhưng ngân hàng sẽ cam kết dành cho khách hàng số hạn mức tín
dụng đã định, không vì tình hình thiếu vốn để từ chối cho vay. Vì ngân hàng phải
bớt các món vay của khách hàng khác để giữ cam kết về hạn mức tín dụng nên
khách hàng phải trả một mức phí cho việc duy trì hạn mức dự phòng. Đó là số chênh
lệch giữa hạn mức tín dụng với số thực vay.
- Cho vay theo dự án: Đây là phương thức cho vay trung và dài hạn, ngân
hàng phải thẩm định dự án trước khi cho vay. Tuy nhiên, trong cho vay ngắn hạn
ngân hàng vận dụng bổ sung phương thức cho vay theo dự án sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn thì ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với vốn gốc được chia ra để trả theo nhiều kỳ hạn
trong thời hạn cho vay.

11


- Cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp
thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để
thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền tại máy rút tiền tự động hoặc điểm
ứng tiền mặt và đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân thủ theo các quy định của Chính phủ
và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán.
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức tín
dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vay
hợp vốn thực hiện theo quy định của qui chế cho vay và qui chế đồng tài trợ của các
tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
d) Phân loại nợ
Căn cứ vào thực trạng tài chính của khách hàng và/hoặc thời hạn thanh toán
nợ gốc và lãi vay, tổ chức tài chính quy mô nhỏ thực hiện phân loại nợ theo năm
(05) nhóm như sau:
 Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày.
 Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến dưới 30 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu.
 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày;
12


- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo
thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
 Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến dưới 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới
90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
 Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá
hạn hoặc đã quá hạn
2.1.3. Các chỉ số đánh giá hoạt động huy động vốn và cho vay của ngân hàng
a) Chỉ số đánh giá hoạt động huy động vốn
Vốn huy động
Tổng nguồn vốn
Chỉ số này có ý nghĩa là giúp các nhà phân tích xác định khả năng và quy mô
- Chỉ số 1 =

thu hút vốn từ nền kinh tế của ngân hàng thương mại.
- Chỉ số 2:
Số dư từng loại tiền gửi
Tỷ trọng % từng loại tiền gửi =

x 100
Tổng vốn huy động
13


Đây là chỉ số xác định cơ cấu vốn huy động của ngân hàng. Mỗi loại tiền gửi
có những yêu cầu khác nhau về chi phí, thanh khoản… do đó, việc xác định rõ cơ
cấu vốn huy động sẽ giúp ngân hàng hạn chế những rủi ro có thể gặp phải và tối
thiểu hóa chi phí đầu vào cho ngân hàng.
b) Chỉ số đánh giá hoạt động cho vay
 Doanh số cho vay
Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng cho khách hàng
vay trong một thời gian nhất định bao gồm vốn đã thu hồi hay chưa thu hồi.

 Doanh số thu nợ
Mọi khoản cho vay đều phải thu nợ theo đúng thời hạn và kỳ hạn nợ đã ghi
trong sổ vay vốn hoặc khế ước, khách hàng được quyền trả nợ trước hạn.
 Dư nợ
Là chỉ tiêu phản ánh số nợ mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu được vào
một thời điểm nhất định. Để xác định được dư nợ, ngân hàng sẽ so sánh giữa hai chỉ
tiêu doanh số cho vay và doanh số thu nợ.
 Nợ xấu
Nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 theo quyết định
số 493/2005/NHNN (22/04/2005) và có sửa đổi bổ sung theo quyết định
số18/2007/NHNN (25/04/2007). Nợ nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4: nợ nghi
ngờ và nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn. Nợ xấu ngày càng cao thì đó chính là biểu
hiện của rủi ro tín dụng.
 Chỉ số đánh giá hoạt động cho vay
Dư nợ
X 100%
Tổng nguồn vốn
Đây là chỉ tiêu đánh giá mức độ tập trung nguồn vốn vào hoạt động tín dụng của ngân
- Chỉ số 1=

hàng , tỷ lệ này càng cao thì kết luận ngân hàng tập trung vốn tốt cho hoạt động tín dụng.
14


- Chỉ số 2 =
Chỉ

Dư nợ
Tổng vốn huy động

tiêu này xác định hiệu quả

đầu tư của một đồng vốn huy động. Nó giúp cho người phân tích so sánh khả năng cho
vay của ngân hàng với nguồn vốn huy động.
- Rủi ro tín dụng (%)
Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thực hiện
được nghĩa vụ tài chính của mình đối với ngân hàng. Hay nói cách khác rủi ro tín
dụng là rủi ro xảy ra khi xuất hiện những biến cố không lường trước được do
nguyên nhân chủ quan hay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân
hàng một cách đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, từ đó tác động xấu đến hoạt động
và có thể làm cho ngân hàng bị phá sản.
Nợ xấu
X 100%
Tổng dư nợ
Chỉ số này càng thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng càng an toàn hay
Rủi ro tín dụng =

ngân hàng cho vay càng có hiệu quả, thu hồi được vốn, lãi và tránh được rủi ro mất vốn.
- Hệ số thu nợ (%)
Doanh số thu nợ
X 100%
Doanh số cho vay
Chỉ số này phản ánh trong một thời kỳ nào đó, từ một đồng doanh số cho vay
Hệ số thu nợ =

thì ngân hàng sẽ thu hồi được bao nhiêu đồng vốn. Hệ số thu nợ càng lớn được đánh
giá càng tốt.
- Vòng quay vốn tín dụng (Vòng)
Vòng quay vốn tín dụng =

Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quân

Trong đó
Dư nợ bình quân =

Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ
2

15


Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian thu hồi nợ
vay nhanh hay chậm.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính, phòng tín dụng của Ngân
hàng TMCP Phương Tây qua ba năm ( 2008 – năm 2010)
- Tổng hợp các thông tin từ tạp chí Ngân hàng, Báo chí Ngân hàng, những tư
liệu tín dụng tại Ngân hàng, sách báo về Ngân hàng.
2.2.2. Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng phương pháp mô tả, phân tích, so sánh tương đối và tuyệt đối các số
liệu để đánh giá kết quả hoạt động huy động vốn và cho vay.
- Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối: là kết quả của phép trừ giữa trị số
của kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu kinh tế.
∆y = y1 - yo
Trong đó:
yo : chỉ tiêu năm trước
y1 : chỉ tiêu năm sau
∆y : là phần chệnh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước
của các chỉ tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến động của các
chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề ra biện pháp khắc phục.
- Phương pháp so sánh bằng số tương đối: là kết quả của phép chia giữa trị số
của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế.

∆y =

y1 – yo
yo

X 100%

Trong đó:
yo : chỉ tiêu năm trước.
16


y1 : chỉ tiêu năm sau.
∆y : biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này dùng để làm rõ tình hình biến động của các chỉ tiêu kinh tế
trong thời gian nào đó. So sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữa các năm và so
sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu. Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp
khắc phục.
CHƯƠNG 3
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
PHƯƠNG TÂY
3.1 KHÁI QUÁT NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHƯƠNG TÂY
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần Phương
Tây
Ngân hàng Miền Tây (Western Bank) tiền thân là Ngân hàng Cờ Đỏ, được
thành lập từ cuối năm 1988 tại Thành phố Cần Thơ. Sau gần 20 năm hoạt động liên
tục có hiệu quả, Western Bank đã được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà Nước
Việt Nam chuyển đổi thành ngân hàng đô thị vào đầu năm 2007 và vốn điều lệ của
Western Bank sẽ nâng lên 1000 tỷ đồng vào năm 2008 . Hiện nay mạng lưới hoạt
động của Western Bank đã phát triển rộng khắp cả nước. Western Bank đang từng
bước khẳng định vị trí của mình trên thị trường tài chính Việt Nam và là ngân hàng
đầu tiên trong hệ thống ngân hàng Việt Nam ứng dụng những công nghệ hiện đại
nhất vào hoạt động như: công nghệ bảo mật bằng dấu vân tay, máy kiểm xuất tiền tự
động TCD (Teller Cash Dispenser), hệ thống ATM, hệ thống ebanking...Western
Bank không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ và cho ra những sản phẩm
phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Sự hài hòng và tin tưởng
của khách hàng là mục tiêu hàng đầu của Western Bank. sau hơn 3 năm chuyển đổi
mô hình với sự nỗ lực của toàn thể nhân viên ngân hàng, Western Bank:
17


- Đã có bước tăng trưởng về tài chính, nhân sự và mạng lưới hoạt động với
tốc độ tăng bình quân hàng năm là 2 lần, cụ thể:
+ Vốn điều lệ đạt 1.000 tỷ đồng, tổng tài sản đạt hơn 10.000 tỷ đồng
tính đến 31/12/2009
+Vốn điều lệ đạt 3.000 tỷ đồng vào đầu năm 2011
+Đạt hơn 75 điểm giao dịch tại 21/63 tỉnh thành trên cả nước
+Hơn 600 cán bộ công nhân viên trẻ (hơn 90% dưới 40 tuổi) và tất cả
nhân viên giao dịch đều trải qua quá trình đạo tạo nghiệp vụ và kỹ năng của ngân
hàng
- Là ngân hàng duy nhất hiện nay sử dụng công nghệ vân tay trong giao dịch
ngân hàng.
- Là ngân hàng duy nhất có trang web riêng dành cho sinh viên.
- Là ngân hàng sử dụng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính của Ernst &
Young Việt Nam khi mới chuyển đổi mô hình (2007) và liên tiếp trong các năm tiếp
theo với ý kiến chấp nhận toàn phần.
- Là Ngân hàng kết thống thành công với 3 Hệ thống liên minh Thẻ gồm:
Banknet, VNBC, Smartlink
- Đạt được những thành tựu từ đánh giá của các cơ quan hữu quan:
+Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xếp hạng A trong 3 năm liền (2009,
2008, 2007)
+Đứng thứ 1 trong tổng số 22 ngân hàng thương mại tại Việt Nam về
mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông
(ICT Index 2007)
+Nhận giải thưởng “Cúp vàng thương hiệu chứng khoán uy tín” trong 3
năm liền (2010, 2009, 2008) và “Công ty Cổ phần hàng đầu Việt Nam” năm 2009.
+Nhận giải thưởng "Thương Mại dịch vụ Tiêu biểu Việt Nam" 2 năm
liền (2010, 2009)
+Được Cấp Chứng thư Thẩm định Tín nhiệm Doanh nghiệp 2010
18


Sự thành công của Western Bank, cũng đã được ngân hàng Thế Giới (World
Bank) đánh giá cao và liên tục nhiều năm liền nhận được sự tài trợ từ World Bank
cho quỹ phát triển nông thôn, nâng cao năng lực thể chế và tài chính vi mô. Hướng
đến sự phát triển bền vững, Western Bank chọn công ty kiểm toán quốc tế cho hoạt
động của mình bắt đầu từ năm tài chính 2007 và gần đây nhất ngày 08 tháng 02 năm
2010, Sở Giao Dịch chứng khoán TPHCM đã ký công văn số 226/SGDHCM-NY về
việc chấp thuận nguyên tắc việc niêm yết 100.000.000 cổ phiếu của Ngân hàng
TMCP Phương Tây- Western Bank.
3.1.2 Chức năng hoạt động của Ngân hàng TMCP Phương Tây
Thực hiện chỉ đạo của Thống Đốc ngân hàng Nhà Nước Việt Nam và Tổng
giám đốc Ngân hàng TMCP Phương Tây, nhằm thực hiện thắng lợi các Nghị quyết
của Bộ chính trị của Chính Phủ trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tổ chức thu phí tiền mặt, góp phần cùng với ngân hàng Nhà nước điều hòa
lưu thông tiền tệ trên địa bàn.
Giúp nền kinh tế của nước nhà ngày càng phát triển, nhất là các đơn vị sản
xuất kinh doanh xuất nhập khẩu đủ vốn thu mua nguyên liệu sản xuất góp phần thúc
đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu của đất nước.
Các sản phẩm và dịch vụ chính của Ngân hàng là:
- Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn
- Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển, vay vốn các tổ chức tín dụng khác
- Cho vay ngắn, trung, dài hạn đối với các thành phần kinh tế và cá nhân
- Góp vốn liên doanh theo pháp lệnh hiện hành
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng
- Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế
Là ngân hàng nông thôn vừa chuyển đổi sang Ngân hàng đô thị và có tiềm lực
tài chính không lớn mạnh bằng các NHTM lâu đời nên khách hàng chủ yếu của
Ngân hàng TMCP Phương Tây chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thành phần
19


kinh tế cá thể và hộ kinh doanh. Đặc biệt chú trọng đến các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu, các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh lâu dài và các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản.
3.2. BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG TMCP PHƯƠNG TÂY
3.2.1. Cơ cấu tổ chức
Bất kỳ một tổ chức nào nếu có một bộ máy quản lý được cơ cấu hợp lý, biết
phối hợp và phát huy hiệu quả nhất các nguồn lực sẵn có thì sẽ mang lại cho tổ chức
đó nguồn sức mạnh tổng hợp nhằm tận dụng được những cơ hội và giảm thiểu được
những rủi ro đến từ môi trường bên ngoài. Với ý nghĩa quan trọng đó, Ngân hàng
TMCP Phương Tây luôn chú trọng xây dựng cơ cấu tổ chức toàn hệ thống ngân
hàng sao cho đạt được hiệu quả cao nhất.
Bộ máy tổ chức quản lý của ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Tây
được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của ngân hàng thương mại cố
phần Phương Tây

20


Đại Hội đồng
cổ đông
Hội đồng
quản trị

Chủ tịch Hội
đồng quản trị

Ban Kiểm
soát

Ban điều hành
(Tổng Giám
đốc)
Phó Tổng Giám đốc

Khối kinh
doanh

Khối hỗ trợ

3.2.2. Chức năng của các phòng ban
a) Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị của Western Bank gồm các thành viên sau:
- Ông: Lại Hiền Trí (Chủ tịch HĐQT)
- Ông: Đinh Ngọc Sơn (Thành viên HĐQT – Tổng giám đốc)
- Ông: Nguyễn Nguyên Cầu (Thành viên HĐQT)
- Ông: Chung Anh Quang (Thành viên HĐQT)
-Bà: Lâm Thị Chinh (Thành viên HĐQT )
Các thành viên này đều tham gia vào HĐQT nhưng không tham gia điều hành
trực tiếp. Hội đồng họp định kỳ hàng quý để thảo luận các vấn đề liên quan đến hoạt
động của ngân hàng. Hội đồng có vai trò xây dựng chiến lược tổng thể và định
21


hướng hoạt động lâu dài cho Ngân hàng, ấn định mục tiêu tài chính giao cho ban
điều hành. Hội đồng chỉ đạo và giám sát hoạt động của ban điều hành thông qua một
số hội đồng và ban chuyên môn do Hội đồng thành lập như Ban kiểm tra-Kiểm soát
nội bộ, Hội đồng tín dụng, Hội đồng quản lý tài sản nợ và tài sản có…
b) Ban kiểm soát
Ban kiểm soát bao gồm các thành viên sau:
- Ông: Nguyễn Quan Quận (Trưởng Ban kiểm soát)
- Bà: Phan Thiên Hương (Thành viên Ban kiểm soát)
- Ông: Nguyễn Văn Đông (Thành viên Ban kiểm soát)
- Bà: Sú Ngọc Bích (Thành viên Ban kiểm soát)
Hoạt động chủ yếu của Ban kiểm soát là kiểm tra việc thực hiện các kế
hoạch, chỉ thị, quy định của HĐQT, Tổng giám đốc, theo dõi phúc tra chi nhánh
trong việc sửa chũa những sai phạm, thực hiện kiến nghị của các đoàn thanh tra,
kiểm tra tại chi nhánh.
c) Ban điều hành
Ban điều hành gồm có Tổng giám đốc điều hành chung và các Phó Tổng
giám đốc phụ tá cho Tổng giám đốc. Ban điều hành có chức năng cụ thể hóa chiến
lược tổng thể và các mục tiêu do HĐQT đề ra bằng các kế hoạch và phương án kinh
doanh, tham mưu cho HDQT các vần đề về chiến lược, chính sách và trực tiếp điều
hành mọi hoạt động của Ngân hàng.
d) Khối kinh doanh
- Trung tâm nghiệp vụ: Thẩm định, xét duyệt, kiểm tra cho vay phục vụ sản
xuất nông nghiệp, công thương nghiệp, tiêu dung và các tiểu dự án…Thu hồi vốn và
lãi cho vay kể cả xử lý những khoản nợ khó đòi, phối hợp với các phòng chức năng
khác để phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng, thực hiện vai trò tham mưu cho Ban
giám đốc trong kế hoạch phát triển.
- Trung tâm phát triển kinh doanh: Tiếp thị, mở rộng thị trường và giới thiệu các
sản phẩm của Western Bank.
22


e) Khối hỗ trợ
- Trung tâm Kế toán Tài chính: Thực hiện nguyên tắc, chế độ kế toán thống kê,
thanh toán liên ngân hàng, kiểm tra kinh doanh vàng, đá quý, các khoản thu nhập và
chi phí, tổng hợp các biểu mẫu báo cáo, bảng cân đối kế toán và làm việc với cơ
quan thuế
- Trung tâm Nguồn lực và Quản lý mạng lưới
+ Phỏng vấn tuyển dụng nhân viên và thực hiện hợp đồng lao động theo kế
hoạch được Western Bank hội sở duyệt hàng năm.
+ Tổng hợp kế hoạch của từng phòng ban, soạn thảo các văn bản, thông báo,
quyết định, công văn…tiếp nhận và phân công tác công văn từ Hội sở, NHNN và
các nơi khác gửi đến.
- Trung tâm công nghệ thông tin: Quản lý mạng vi tính, các chương trình và các
phần mềm tín dụng của toàn hệ thống, Giải quyết các thắc mắc về ứng dụng công
nghệ thông tin cho các chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc, triển khai và
quản lý mạng lưới máy ATM, ứng dụng công nghệ để tạo ra các sản phẩm dịch vụ
luôn hiện đại.
3.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của WesternBank Cần Thơ qua 3 năm (20082010)
Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Tây – chi nhánh Cần Thơ là một NHTM
hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Nó cũng giống như các tổ chức hoạt
động sản xuất kinh doanh khác là luôn có mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận . Lợi nhuận là
yếu tố cụ thể để phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của một tổ chức sản xuất kinh
doanh nói chung và của các NHTM nói riêng, nó là hiệu số giữa tổng thu nhập và chi phí
trong kỳ. Trong những năm qua để gia tăng con số lợi nhuận chi nhánh đã thực hiện tốt
việc quản lý các khoản mục tài sản có nhất là các khoản cho vay, đa dạng hóa các sản
phẩm dịch vụ, tiết kiệm chi phí. Dưới sự lãnh đạo của Ban giám độc và sự phấn đấu không
ngừng của tập thể cán bộ nhân, WesternBank Cần Thơ đã đạt được những kết quả đáng kể,
Bảng 01: Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hang giai đoạn 2008-2010
23


ĐVT: Triệu đồng.
Năm

2008

2009

2010

2009/2008
Số tiền
tăng (giảm)

2010/2009
%
Số tiền
%
tăng (giảm) tăng
tăng (giảm)
Chỉ tiêu
(giảm)
1.Thu nhập
269.6
480.6
789.6
211.02
78,2
309.03
64,3
08
28
64
0
7
6
0
+ Thu từ hoạt động tín
243.
398.
781.
155.15
63,7
382.42
95,9
dụng
470
628
048
8
3
0
3
+Thu nhập ngoài hoạt
26.
82.
8.
55.86
213,7
(73.384
(89,49
động tín dụng
138
000
616
2
2
)
)
- Thu từ hoạt động dịch
5.
63.
5.
57.97
1.106,1
(57.612
(91,14
vụ
241
212
600
1
1
)
)
- Thu khác
20.
18.
3.
(2.10
(10,0
(15.772
(83,95
897
788
016
9)
9)
)
)
2. Chi phí
131.5
320.4
722.2
188.92
143,6
401.81
125,3
49
78
91
9
2
3
8
+ Chi phí lãi
80.
234.
582.
154.70
193,1
347.48
147,9
094
796
282
2
5
6
9
+ Chi phí ngoài lãi
51.
85.
140.
34.22
66,5
54.32
63,4
455
682
009
7
2
7
1
- Chi dịch vụ NH
2.
3.
(1.07
(53,1
2.11
223,7
016
944
056
2)
7)
2
3
- Chi phí tiền lương
20.
36.
59.
16.28
80,7
22.95
62,9
162
448
399
6
8
1
7
- Chi dự phòng RR
4.
25.
(3.92
(89,6
24.93
5.480,6
383
455
392
8)
2)
7
6
- Chi khác
24.
47.
52.
22.94
92,1
4.32
894
835
162
1
5
7
9,05
3. Lợi nhuận trước thuế
138.0
160.1
67.3
22.09
16,0
(92.777
(57,93
59
50
73
1
0
)
)
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm của phòng Kế toán NHTMCP Phương Tây Cần Thơ)

Qua bảng số liệu trên ta thấy hàng năm cùng với việc mở rộng hoạt động kinh doanh của
mình thì các số liệu về tình hình thu chi trong kỳ của doanh nghiệp cũng tăng lên. Ta có biểu đồ
biểu hiện tổng thu nhập và chi phí của Chi nhánh qua các năm như sau:

24


Biểu đồ 3.1: Biểu đồ biểu hiện sự biến động của tổng thu nhập và tổng chi phí giai
đoạn 2008 - 2010
Dựa vào bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 ta có một số nhận xét như sau:
a.. Về thu nhập:
Nhìn chung trong giai đoạn 2008 – 2010 tổng mức thu nhập của Ngân hàng đều tăng

giữa các năm, cụ thể năm 2009 so với năm 2008 đã tăng được 78.27% còn năm 2010 so
với năm 2009 tăng được 64.3%, như vậy tốc độ tăng trưởng trung bình trong 3 năm về thu
nhập của Chi nhánh là 71.28%, có thể thấy đây là một con số khá cao,. nó đã thể hiện một
phần tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của toàn bộ Chi nhánh. Trong tổng nguồn thu
của cả 03 năm của Chi nhánh thì ta thấy chủ yếu là nguồn thu từ hoạt động tín dụng. Như
trong bảng 3.1 đã đưa ra năm 2009 thu nhập trong lĩnh vực này tăng 63.73% so với năm
2008, năm 2010 thì con số tăng này đạt 95.93% so với năm 2009 tức là tốc độ tăng trưởng
trung bình của khoản thu nhập này đạt 79.83%. Việc tăng mạnh khoản doanh thu này giữa
các năm đã khẳng định đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng. Ngoài
ra, ngược lại với việc tăng đều đặn của thu nhập từ hoạt động tín dụng thì thu nhập từ các
hoạt động ngoài tín dụng như thu nhập từ dịch vụ ngân hàng, thu từ kinh doanh ngoại tệ,
thu từ hoàn nhập dự phòng xử lý rủi ro, thu khác...lại có giai đoạn tăng và giai đoạn giảm,
cụ thể năm 2009 thì các khoản thu nhập này có xu hướng tăng hơn so với năm 2008 với tỷ
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×