Tải bản đầy đủ

Tuyển chọn các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, kháng sâu bệnh hại chính cho vùng tôm lúa của tỉnh Bạc Liêu

BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI THUỘC DỰ ÁN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ NÔNG NGHIỆP VỐN VAY ADB (2009-2011)

Tên đề tài: “TUYỂN CHỌN VÀ PHÁT TRIỂN GIỐNG LÚA NGẮN
NGÀY, NĂNG SUẤT CAO, KHÁNG SÂU BỆNH HẠI CHÍNH CHO
VÙNG LÚA TÔM CỦA TỈNH BẠC LIÊU”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúa là một trong những cây lƣơng thực quan trọng nhất của nƣớc ta hiện nay.
Trong đó đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đóng góp 52% sản lƣợng lƣơng thực và
95% sản lƣợng lúa xuất khẩu của cả nƣớc. Bạc Liêu cũng là một trong những tỉnh của
ĐBSCL, nhƣng Bạc Liêu có những vùng đất rất khó khăn cho sản xuất nông nghiệp,
một năm chỉ có 5 tháng nƣớc ngọt, còn lại là nƣớc mặn. Ngƣời dân ở vùng này thƣờng
phải nuôi tôm một vụ và trồng lúa một vụ. Trong quá trình canh tác còn phụ thuộc vào
nhiều lý do nhƣ thời tiết, giống, vốn, trình độ và tập quán canh tác ...
Đất tôm-lúa của Bạc Liêu có tính đặc thù của những vùng nhiễm mặn ở các tỉnh
ĐBSCL, tôm đƣợc thả nuôi trong mùa khô (từ tháng 01 đến tháng 6 tháng 7 hàng năm
theo phƣơng thức quảng canh cải tiến, khi nguồn nƣớc trên sông bị nhiễm mặn, thông
qua hệ thống điều tiết nƣớc mặn). Sau khi thu hoạch tôm xong, ngƣời dân lợi dụng
nguồn nƣớc mƣa để rửa mặn rồi trồng lúa, năng suất lúa thấp, mới chỉ đạt 3,5-3,6
tấn/ha, trong khi năng suất trung bình cả vùng là trên 4 tấn/ha. Trình độ sản xuất lúa ở

những vùng này cũng còn thấp. Mặc dù giống lúa, lúa giống và kỹ thuật canh tác cũng
đã đƣợc các chƣơng trình nghiên cứu ứng dụng hợp tác các tỉnh khu vực ĐBSCL, Viện
lúa ĐBSCL, một số đề tài về chuyển giao công nghệ giống lúa cho nông dân nhƣ đề tài
nhân giống lúa mới bằng kỹ thụât sạ hàng, mạ ném... và một số kỹ thuật thâm canh tăng
năng suất lúa đƣợc tiến hành từ năm 1998 tới nay. Nhƣng do hạn chế về vốn, phạm vi
đề tài lại quá rộng (các đề tài quốc gia), hoặc các đề tài cấp tỉnh tuy có kết quả đạt yêu
cầu nghiệm thu và có tác dụng tốt với sản xuất, nhƣng việc chuyển giao và áp dụng các
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất của nông dân trong tỉnh còn rất hạn chế.
Mặt khác nhiều ngƣời dân ngay trên mảnh đất của mình cũng không biết làm nhƣ thế
nào để nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập để tự mình xóa đói giảm nghèo, mà cần
phải có sự tác động hƣớng dẫn của những nhà khoa học giúp họ trong sản xuất nông nghiệp
10


thì mới nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất. Xuất phát từ kinh nghiệm và kết quả khảo
sát thực tế, các hoạt động nhƣ hƣớng dẫn cho ngƣời dân biết cách làm thế nào để tăng thu
nhập trên mảnh đất của mình, cách thức để lựa chọn và nhân các hạt giống tốt, cách thức sản
xuất để tăng năng suất lao động và tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích... Thông qua các
hoạt động này, ngƣời nông dân dần dần vƣợt qua khó khăn về thiếu lƣơng thực, không những
đảm bảo an toàn lƣơng thực cho hộ gia đình mà còn dành cho xuất khẩu.
Chính vì vậy việc “Tuyển chọn các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, kháng
sâu bệnh hại chính cho vùng tôm-lúa của tỉnh Bạc Liêu” là việc làm vô cùng cần
thiết và cấp bách, để có cơ sở tác động vào sản xuất thực tế, đồng thời tìm ra giống phù
hợp với vùng đất tôm-lúa nhằm phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho ngƣời sản xuất
lúa ở vùng đất tôm-lúa của tỉnh Bạc Liêu.
Cho tới nay, sau 3 năm nghiên cứu, đề tài đã thực hiện đƣợc các nội dung đúng
tiến độ, đạt đƣợc 100% kế hoạch của đề tài và đã hoàn thành đƣợc mục tiêu của đề tài
đặt ra nhƣ sau:

II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu tổng quát
Tuyển chọn và phát triển đƣợc giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chống chịu với
sâu, bệnh hại chính (rầy nâu, đạo ôn…), thích hợp cho vùng tôm - lúa để tăng thu nhập
cho nông dân vùng đất khó khăn bị nhiễm mặn của tỉnh Bạc Liêu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tuyển chọn đƣợc 1-2 giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chống chịu đƣợc rầy nâu,
bệnh đạo ôn, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá, thích hợp với vùng đất tôm-lúa của tỉnh Bạc Liêu.
- Đề xuất biện pháp kỹ thuật canh tác lúa phù hợp với vùng đất tôm-lúa của tỉnh.
- Xây dựng 02 mô hình, mỗi mô hình 02 ha tại hai vùng sinh thái lúa tôm của tỉnh,
năng suất lúa đạt 4-5 tấn/ha, cao hơn mô hình cũ từ 5-10%.


- Tập huấn 120 ngƣời về biện pháp kỹ thuật canh tác lúa (60 ngƣời/huyện x 2 huyện).
- Hội thảo đánh giá đầu bờ cho 50 ngƣời tham dự và báo cáo kết quả của đề tài.

11


III. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
3.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
3.1.1. Tình hình nghiên cứu về giống lúa cho vùng đất phèn mặn:
Càng ngày nghiên cứu về cây lúa nói chung và nghiên cứu về cây lúa đối với đất
khó khăn nhiễm mặn, phèn nói riêng đƣợc các nhà khoa học quan tâm để tạo ra những
giống lúa thích nghi nhằm phát triển sản xuất từ chiến lƣợc tạo chọn giống chống chịu
mặn đƣợc xem nhƣ là cách làm kinh tế và có hiệu quả nhất để gia tăng sản lƣợng lƣơng
thực ở vùng bị nhiễm mặn nói chung và vùng đất nhiễm mặn tôm - lúa nói riêng (Bùi
Chí Bửu, 2003). Hàng vụ, hàng năm các cơ quan nghiên cứu tuyển chọn giống lúa luôn
phát triển hàng loạt các giống lúa chịu mặn và đây cũng là một trong các chiến lƣợc
chọn giống cho vùng khó khăn từ những thập niên 80 chủ yếu bằng các phƣơng pháp cổ
điển và đến nay đã áp dụng công nghệ sinh học hiện đại để tạo chọn giống kháng phèn
mặn. PGS. TS. Nguyễn Thị Lang và ctv năm (2000) đã kết luận: Phần lớn tính trạng
chống chịu với tính trạng bất lợi do môi trƣờng là tính trạng di truyền số lƣợng QTL
(Quantitative Trait Loci). Từ bản đồ di truyền tính trạng số lƣợng, các tác giả đã xác
định đƣợc gen chống chịu điều kiện thiếu lân ở nhiễm sác thể số 12 và số 9, gen chống
chịu mặn trên 12 nhiễm sắc thể..
PGS. TS. Nguyễn Tấn Hinh (2005) cho biết công tác chọn tạo giống cho vùng khó
khăn (hạn, mặn, phèn, úng…) đƣợc tiến hành từ những năm của thập niên 1970. Cho
đến năm 2000 đã chọn tạo đƣợc nhiều giống lúa chịu hạn (CH2, CH3, CH133, X11, LC
88, LC 90-4…), chịu ngập úng (U14, U17, C10, C15, OM 922), chịu mặn (OM 344,
OM 922, KSB 54, VN91-10, OM 576, OM 1630, CM1…). đƣa vào sản xuất, góp phần
nâng cao năng suất và sản lƣợng lúa của cả nƣớc.
- Viện lúa ĐBSCL mỗi năm hai vụ đều có khảo nghiệm đánh giá để bình chọn các
giống lúa triển vọng để bổ sung vào cơ cấu giống lúa của vùng ĐBSCL nhƣ: OMCS 94,
OM 997-6.. (Lê Thị Dự và ctv, 1995). OM 1706, OM 1270, OM 1633, OM 1630, ... (Lê
Thị Dự và ctv, 1997). Các giống OM 1490, OM 2037, OM 3007, Tép Hành đột
biến…(Chƣơng trình khảo nghiệm, nhiều tác giả, 1999)... và những vụ gần đây nhất
nhƣ vụ Hè Thu 2007 bình chọn đƣợc 9 giống đó là: OM 6162; OM 6073; OM 4900;
OM 5451; OM 4088; OM 5199; OM 5930; OM 2478 (www.skhcn.vinhlong.gov.vn),
Vụ Hè thu 2008, tỉnh bến Tre đã đánh giá đƣợc 10 giống, nhƣng chọn giống thích hợp
cho vùng, cho từng điều kiện sinh thái của từng vùng còn là những bƣớc tiếp theo (Trần
Quốc, 29/9/2008, Hội thảo đánh giá giống lúa vụ Hè Thu 2008, tỉnh Bến
12


Tre,www.bentre.gov.vn)... Nhƣng giống phù hợp ở từng vùng vẫn là công việc phải tiến
hành tiếp tục Ông Trần Quang Giàu, chi cục trƣởng Chi cục BVTV tỉnh Kiên Giang cho
biết, nguyên nhân khiến hàng trăm ha lúa gieo cấy trên nền đất tôm-lúa ở các huyện
vùng U Minh thƣợng bị thiệt hại là do đất bị nhiễm mặn quá cao. Kết quả phân tích của
Đại học Cần Thơ cho thấy, mức độ nhiễm mặn của của các mẫu đất ở đây có EC = 512mS/cm. Trong khi đó ngƣỡng chịu mặn của cây lúa chỉ giới hạn 4 mS/cm trở xuống.
Trƣớc khi tiến hành gieo cấy, hầu nhƣ nông dân chỉ bơm xả vài lần nên không thể rửa
đƣợc độ mặn đã thấm sâu trong lòng đất (trung bình từ 30-40cm). Do đó, khi bộ rễ cây
lúa phát triển đã gặp mặn và bị thối làm cây lúa lụi dần rồi chết (T. 2, Báo NNVN số
200 ngày 06/10/2008).
Những nghiên cứu khảo nghiệm thực tế các giống lúa trên đồng ruộng tại vùng
Đồng tháp Mƣời năm 1998-1999, Nguyễn Đức Thuận và ctv đã có kết luận: Giống lúa
IR62126 có khả năng kháng phèn sắt tốt. Giống VND 425 có khả năng kháng phèn
nhôm tốt, nhƣng không kháng phèn sắt. Giống lúa VND 95 -20 và OM 1704 vừa có khả
năng kháng phèn sắt, vừa có khả nặng kháng phèn nhôm. Một nghiên cứu khác của
Nguyễn Đức Thuận và ctv (2000) cũng có kết luận giống lúa OM 1633 và OM 1723
kháng phèn khá và chống chịu sâu bệnh khá tại vùng Đồng Tháp Mƣời. Điều này cho
thấy một giống lúa thích nghi ở vùng đất này, nhƣng có thể lại không thích nghi ở vùng
đất khác. Chính vậy mỗi địa điểm, mỗi chân ruộng cần tìm những giống lúa thích hợp.
3.1.2. Tình hình nghiên cứu về biện pháp canh tác và mô hình:
a. Nghiên cứu về phân bón: Viện Lúa ĐBSCL đã có những nghiên cứu về phân
bón và kết luận lƣợng lân và kali ít biến động, lƣợng phân đạm thay đổi theo từng vụ,
từng giống lúa và từng vùng canh tác (Phạm Sĩ Tân và ctv năm 1995). Chính vậy sau
khi tìm đƣợc giống lúa mới cho một vùng nào đó, thì nghiên cứu liều lƣợng phân đạm
cho giống lúa mới ở vùng đó là việc làm cần thiết không thể bỏ qua.
b. Nghiên cứu về thuốc bảo vệ thực vật: Càng ngày, càng có nhiều các loại thuốc
bảo vệ thực vật ra đời, có những loại thuốc hóa học cực độc, có tác dụng diệt trừ sâu rầy
nhanh mạnh, mà nông dân ít tiếp cận với các thông tin bên ngoài nên thƣờng lạm dụng
những loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học, cho nên rất ảnh hƣởng đến sức khỏe ngƣời
trực tiếp sản xuất, ngƣời tiêu dùng và ảnh hƣởng đến môi trƣờng sinh thái.
Gần đây có những nghiên cứu về thuốc bảo vệ sinh học, những loại thuốc này là
chế phẩm nấm, vi khuẩn, virus… có tác dụng diệt sâu rầy mà hầu nhƣ không ảnh
hƣởng đến môi trƣờng sinh thái. Thuốc trừ sâu sinh học làm cho sâu, rầy chết từ từ,
13


tạo ổ dịch lây lan, tồn lƣu trong môi trƣờng tự nhiên nhờ các vi nấm gây bệnh bằng
con đƣờng ký sinh tiếp xúc giữa cá thể khỏe với cá thể mang bệnh. Khi bám vào côn
trùng, bào tử nấm sẽ nẩy mầm và thâm nhập vào cơ thể của chúng và phát triển cho tới
khi toàn thân côn trùng bị bao phủ bởi nấm. Nấm sử dụng các chất dinh dƣỡng của
côn trùng, làm cho chúng có triệu chứng nhƣ bị bệnh. Đến khi nấm phát triển mạnh,
côn trùng bị chết, bào tử nấm sẽ phát tán để tiếp tục tìm ký chủ mới. Nếu gặp điều
kiện thuận lợi, các dòng nấm này phát triển sẽ tạo thành một đợt dịch bệnh cho các
loại sâu, rầy làm chúng chết hàng loạt.
Các loại thuốc sinh học có nguồn gốc từ nấm ký sinh để trừ sâu, rầy với các tên
thƣơng phẩm nhƣ Biovip (có nguồn gốc nấm trắng Beauveria sp.), Ometar (có nguồn
gốc nấm xanh Metarhizium sp.), Bemetent (có nguồn gốc nấm trắng Beauveria sp. và
nấm xanh Metarhizium sp), Vimetarzim 95 DP (có nguồn gốc nấm trắng xanh
Metarhizium sp.) Nguyễn Hải Lộc và ctv năm 2010.
Bởi vậy, những nghiên cứu ngay tại những địa phƣơng bằng mô hình thực tế để
cho nông dân ở những vùng canh tác đó mắt thấy, tai nghe để họ tự nguyện sử dụng
thuốc sinh học để trừ sâu rầy cho lúa. Từ đây, góp phần bảo vệ môi trƣờng sinh thái và
bảo vệ nền nông nghiệp bến vững.
Di truyền tính chống chịu mặn đã đƣợc Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long tiến
hành nghiên cứu từ di truyền cơ bản đến ứng dụng, đã chọn tạo ra một vài giống đang
phát triển trong sản xuất. Nhƣng sự thích nghi với từng vùng sinh thái vẫn còn là một
thử thách rất lớn và ngƣỡng chống chịu phải đƣợc xác định rõ (Bùi Chí Bửu, 2003). Một
số giống lúa triển vọng khác có năng suất cao, thậm chí có mùi thơm nhƣ OM 4900,
OM 5672. Nhƣng chúng có phát triển đƣợc ở vùng đất lúa tôm Bạc Liêu không? Phẩm
chất gạo của chúng có giữ đƣợc không thì chƣa có trung tâm khuyến nông nào thực hiện
đƣợc cho vùng sản xuất đặc thù này trong khi kinh phí của địa phƣơng còn hạn hẹp,
chƣa đủ khả năng làm hết mọi việc. Bởi vậy đây là những câu hỏi để mảng đề tài này
nghiên cứu và áp dụng cho vùng đất tôm - lúa của tỉnh Bạc Liêu.
3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc
Để đáp ứng đầy đủ lƣơng thực cho dân số ngày càng tăng trên thế giới, nền nông
nghiệp thế giới đã có những bƣớc ngoặt vĩ đại chuyển từ cách mạng xanh sang cách
mạng gen. Bằng kết hợp giữa lai tạo cổ truyền và kỹ thuật tế bào mà ngƣời ta đã chọn
tạo ra những giống lúa “có dạng hình mới”, có năng suất cao từ 10-15tấn/ha (supper
rice). Ngoài việc cải thiện năng suất lúa và chất lƣợng gạo của giống thì tính chống chịu
với sâu bệnh, chống chịu với điều kiện khó khăn cũng là vấn đề rất đƣợc quan tâm.
14


Trong nông nghiệp, thiệt hại do mặn, lạnh và khô hạn có ảnh hƣởng nghiêm trọng
nhất đối với năng suất cây trồng. Đặc biệt thiệt hại do mặn có thể làm thay đổi hoạt
động sinh trƣởng, phát triển, năng suất và làm chết cây (Boyer, 1982). Trong nhiều năm
qua, ngƣời ta đã cố gắng cải tiến nhiều giống cây trồng có tính chống chịu mặn tốt. Tuy
nhiên chúng ta vẫn chƣa hiểu một cách đầy đủ về bản chất, cơ chế chống chịu mặn
(Mishra và ctv, 1998). Tƣơng tác giữa tính trạng chống chịu mặn với môi trƣờng chƣa
đƣợc hiểu rõ (Akbar 1986). Đối với cây lúa, tính trạng chống chịu mặn là một tiến trình
sinh lý rất phức tạp thay đổi theo các giai đoạn sinh trƣởng khác nhau của cây (Akbar và
Yabuno, 1972, 1975, 1977). Mặn ảnh hƣởng đến hoạt động sinh trƣởng của cây lúa
dƣới mức độ thiệt hại khác nhau ở từng giai đoạn sinh trƣởng phát triển khác nhau
(Maas và Hoffman. 1977).
Nhiều nghiên cứu ghi nhận rằng tính chống chịu mặn xảy ra ở giai đoạn hạt nảy
mầm, sau đó trở nên rất mẫn cảm trong giai đoạn mạ (tuổi 2-3 lá), rồi trở nên chống
chịu trong giai đoạn tăng trƣởng, kế đến nhiễm trong thời kỳ thụ phấn và thụ tinh, cuối
cùng thể hiện phản ứng chống chịu trong thời kỳ hạt chín (Pearson và ctv, 1996). Tuy
nhiên một vài nghiên cứu ghi nhận ở giai đoạn lúa trỗ, không mẫn cảm với ảnh hƣởng
do mặn (Kaddah và ctv, 1975).
Tính trạng bất thụ trên bông lúa khi bị ảnh hƣởng do mặn đƣợc điều khiển bởi một
số gen trội và ảnh hƣởng của môi trƣờng rất lớn (Moeljopawiro và ctv,1981; Akbar và
crv 1985; Gregrio và Senadhira, 1993). Năng suất và tính chống chịu mặn ở giai đoạn
phát dục thể hiện rất khác nhau giữa các giống lúa so với tính chống chịu mặn ở giai
đoạn mạ (Ikehashi và Ponnamperuma, 1978, Akbar và ctv, 1985; Mishra và ctv, 1990).
Các nhà khoa học chọn giống chống chịu điều kiện khó khăn, kháng phèn, kháng
mặn đã nghiên cứu cơ chế kháng phèn, mặn ở các giai đoạn sinh trƣởng khác nhau ở
cây lúa. Tính trạng đƣợc quan tâm nhiều nhất là mức độ tổn thƣơng trên lá ở giai đoạn
mạ, tỉ lệ hạt bất thụ ở giai đoạn phát dục, tỉ số Na+/K+ của chồi thân trong điều kiện môi
trƣờng mặn đã có kết luận: Ảnh hƣởng gây hại do mặn trên cây lúa rất phức tạp, chúng
ta không chỉ quan sát tính trạng, hình thái mà còn phải quan sát tình trạng sinh lý, sinh
hóa và tƣơng tác với môi trƣờng (Akbar và ctv. 1986).
Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thể hiện tình trạng sinh trƣởng và phát
triển của các giống lúa, trong đó có sự đóng góp của các yếu tố gây rối loạn sinh trƣởng
nhƣ ngộ độc sắt gây nên. Thiệt hại về năng suất do ngộ độc sắt gây nên đã đƣợc nhiều
tác giả ghi nhận (Ottow và ctv, 1983; Van Mensvroot và ctv, 1985)
15


Việc chọn lọc giống chống chịu mặn không thể căn cứ trên một tính trạng riêng
biệt và cả quá trình sinh trƣởng mà phải căn cứ trên nhiều tính trạng và từng giai đoạn
sinh trƣởng, Senadhira và ctv (1987) đã ghi nhận giống lúa chống chịu mặn nổi tiếng
Nona Bokra tốt ở giai đoạn mạ và giai đoạn tăng trƣởng, nhƣng giống chuẩn kháng
Pokali đƣợc ghi nhận tốt ở giai đoạn phát dục
Có hai hoặc nhiều gen số lƣợng điều khiển tính chống chịu mặn, liên kết khá chặt
chẽ với môi trƣờng đã đƣợc ghi nhận nhờ phƣơng tiện marker phân tử RFLP (Kurata và
ctv, 1994; McCouch và ctv, 1998). Akbar và ctv (1977); Zang và ctv (1995) đã nghiên
cứu và công bố không có tính đối kháng giữa chống chịu mặn và năng suất, do đó chọn
giống chống chịu mặn là chương trình có tính khả thi rất tốt.
Tính kháng phèn của các giống lúa đƣợc biểu hiện qua khả năng đẻ nhánh của
chúng, giống kháng phèn thƣờng có khả năng đẻ nhánh cao trong điều kiện đất phèn.
Hầu nhƣ không có giống kháng phèn tuyệt đối (vẫn bị ngộ độc phèn ở các mức khác
nhau), giống nào ít bị nhiễm phèn, sau đó sẽ phục hồi trở lại và vẫn cho năng suất
cao. Nhƣ vây tính kháng phèn của giống lúa là một trong những đặc tính giúp cho
các giống lúa kháng phèn có thể đạt đƣợc năng suất cao trong điều kiện phèn nặng
(Fageria và ctv, 1987).
Một số nghiên cứu khác đã cho thấy ngộ độc nhôm, ảnh hƣởng rất lớn đến quá
trình tăng sinh khối và tăng năng suất lúa. Các giống lúa khác nhau ảnh hƣởng của độc
tố nhôm cũng khác nhau. Các giống kháng nhôm có khả năng hút lân mạnh hơn và lân
trong cây có tác dụng giải độc, giúp cây sinh trƣởng và tăng sinh khối mạnh hơn trong
điều kiện phèn nhôm (Fageira và ctv 1987; Chesholm DC, GJ Blair, 1988b). Theo P,R.
Jenníng và ctv, 1979 cho thấy:
- Tính chịu đựng của các giống lúa biến động rất lớn đối với nhiều loại bất lợi của
đất. Trải qua hàng thế kỷ ngƣời ta đã tuyển ra các giống lúa chịu đựng mặn, kiềm, độ
độc của sắt, phèn nặng thiếu kẽm, thiếu lân và đất hữu cơ. Hầu hết các giống này năng
suất còn rất thấp và thiếu đặc tính kháng sâu bệnh quan trọng.
- Thừa muối là một vấn đề khá phổ biến trong các loại đất bất lợi. Nồng độ muối
đã hạn chế hay đình chỉ việc trồng lúa trên hơn 50 triệu ha đất khô hạn, đất ven biển ở
Nam và Đông nam Á. Những vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới ở Châu Phi và Nam Mỹ
cũng có đất mặn. Độ mặn luôn luôn phân bố không đều, nên muốn trắc nghiệm đồng
nhất rất khó. Cần phải trắc nghiệm ở mọi giai đoạn sinh trƣởng của cây lúa và trên
nhiều điểm canh tác khác nhau.
16


- Một giống đƣợc đánh giá là thích hợp ở một vùng nào đó phải đƣợc các nhà khoa
học khảo nghiệm, đánh giá, đồng thời cũng phải tham khảo ý kiến và huấn luyện nông
dân để nhà khoa học nắm điều kiện thực tế của địa phƣơng và ngƣời nông dân sẵn sàng
tiếp thu những cái mới để phát triển đƣợc giống triển vọng phù hợp với đất đai, tập quán
canh tác nơi họ sinh sống và canh tác.
3.3. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng sản xuất tôm - lúa của
Phƣớc Long và Hồng Dân
Phƣớc Long và Hồng Dân là hai trong một số huyện của tỉnh Bạc liêu có vùng sinh
thái vừa mặn vừa ngọt của bán đảo cà Mau. Mô hình sản xuất tôm - lúa đã đƣợc nông
dân Bạc Liêu thực hiện từ những năm 1980. Đến năm 2001, thực hiện chủ trƣơng
chuyển đổi cơ cấu sản xuất của tỉnh, mô hình canh tác tôm - lúa đã đƣợc chú trọng đầu
tƣ và phát triển đáng kể.
Thực tế năm 2001 toàn tỉnh sản xuất theo mô hình tôm-lúa là 5.851 ha; năm 2002
là 9.061 ha; năm 2003 là 15.022 ha; năm 2004 là 19.651 ha; năm 2005 là 16.057 ha và
năm 2006 là 19.167 ha. Năng suất lúa bình quân là 3,78 tấn/ha, năng suất tôm trung
bình 200 kg/ha.
Năm 2007 kết quả thực hiện sản xuất mô hình tôm - lúa, chủ yếu tập trung cho
vùng chuyển đổi trong đó có huyện Hồng dân và Phước Long. Năng suất lúa bình quân
là: 3,85 tấn/ha.
Kế hoạch năm 2008 sản xuất theo mô hình lúa tôm là 19.300 ha. Tuy nhiên do điều
kiện thực tế giá lúa trên thị trƣờng cao nên nông dân một số vùng mở rộng thêm diện tích.
Ông Lƣơng Phƣơng Đông – Trƣởng phòng Nông nghiệp huyện Hồng Dân (Bạc
Liêu) cho biết, năm nay (2008) ngƣời dân đăng ký trồng lúa trên đất tôm tăng trên 2000
ha. Theo con số thống kê của sở NN&PTNT Bạc Liêu, năm 2008 có gần 10.000 ha diện
tích ngƣời dân đăng ký mới sản xuất mô hình Lúa –Tôm. Trong đó, đáng chú ý tại xã
Tân Thạnh, Phong Thạnh Tây B, Phong Thạnh, Phong Tân, ngành nông nghiệp không
khuyến cáo sản xuất lúa do bị ảnh hƣởng của điều tiết nƣớc mặn. Tuy nhiên, ngƣời dân
cũng vẫn đăng ký sản xuất lúa, cho dù khu vực này mỗi năm chƣa đến 4 tháng có nƣớc
ngọt. Nông dân Nguyễn Văn Khởi- xã Ninh Thạnh Lợi vừa đốn bỏ 5 công tràm 2 năm
tuổi để lấy đất nuôi tôm và trồng lúa. Diện tích lúa tôm của Hoà Bình và Đông Hải hiện
có trên 3000ha. Tại vùng Quốc lộ 1A, vùng đƣợc quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản, ƣu tiên
sản xuất theo mô hình chăn nuôi-bán chăn nuôi và quảng canh cải tiến, ngƣời dân
cũng quay lại trồng lúa. Ông Phạm Hoàng Bê-Phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc
17


Liêu cho biết vùng Bắc Quốc lộ 1A là vùng quy hoạch lúa tôm chính của tỉnh. Trong
năm 2008 này, nông dân rất mặn mà với cây lúa. Đứng trƣớc nhu cầu của ngƣời nông
dân, UBND tỉnh Bạc Liêu chỉ đạo cho các ngành của tỉnh, nhất là ngành nông nghiệp
phải tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân sản xuất lúa trên đất tôm, phải cung ứng lúa
giống chịu phèn, mặn, ngắn ngày cho ngƣời dân có nhu cầu sản xuất, khuyến khích
ngƣời dân sản xuất một vụ lúa, một vụ tôm (Nguồn: http://www.vietlinh.com.vn, đọc
ngày 14/10/2008)
Có thể khẳng định đây là mô hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế và có tính bến
vững về môi trƣờng, nếu tuân thủ đúng qui trình kỹ thuật, đúng lịch thời vụ nuôi tôm và
trồng lúa thì mô hình đem lại lợi nhuận khá cao. Tuy nhiên đây là mô hình khó thực
hiện do điều kiện sinh thái đòi hỏi của 2 loại cây trồng và vật nuôi hoàn toàn khác nhau.
Thời gian qua, một số hộ thất bại khi sản xuất theo mô hình này là chƣa áp dụng tốt qui
trình kỹ thuật canh tác cần thiết, cũng nhƣ chƣa tuân thủ một cách nghiêm túc lịch thời
vụ sản xuất đã đƣợc khuyến cáo. Mặt khác, hiệu quả mô hình còn chênh lệch nhiều giửa
các hộ tùy theo mức đầu tƣ và kinh nghiệm của từng hộ, một số nông dân chƣa thấy hết
sự cần thiết của việc cải tạo, gìn giữ và sử dụng lâu dài tài nguyên đất, nƣớc khi sản
xuất theo mô hình này nên rất dễ bị thất bại khi điều kiện sản xuất gặp khó khăn, nhất là
khi cây lúa gặp nắng hạn kéo dài.
Xét về sản phẩm: Đây là mô hình sản xuất thu nhiều loại sản phẩm trên cùng một
đơn vị diện tích, giúp cho ngƣời sản xuất chủ động và đáp ứng đƣợc thị trƣờng tiêu
thụ, giảm rủi ro trong tiêu thụ, thay đổi sản phẩm nhanh theo yêu cầu thị trƣờng, sản
phẩm thu hoạch mang tính sạch do không sử dụng thuốc trừ sâu và ít sử dụng phân bón
và thuốc thú y thủy sản, đáp ứng tốt cho thị trƣờng khó tính.
Xét về môi trường: Mô hình canh tác có tác động tốt đến môi trƣờng sinh thái; tài
nguyên đất đai đƣợc sử dụng theo hƣớng bền vững, lâu dài, các đối tƣợng nuôi trồng có
tác dụng hỗ trợ lẫn nhau để phát triển. Trong thực tế, khi canh tác đƣợc 1 vụ lúa trên
đất nuôi tôm, thì sau đó vụ nuôi tôm sẽ ít rủi ro hơn, nhất là về dịch bệnh.
Xét về hiệu quả kinh tế: Có thể coi đây là một trong những mô hình canh tác có
hiệu quả kinh tế khá cao, doanh thu đạt 48 triệu đồng/ha, lợi nhuận 33 triệu đồng/ha.
3.3.1. Thuận lợi trong sản xuất
- Đƣợc sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền các cấp. Hệ thống cống điều tiết nƣớc
mặn để nuôi tôm và giữ ngọt để trồng lúa cho vùng canh tác này tƣơng đối hoàn chỉnh.
18


- Trong những năm qua, đã có những nghiên cứu của các nhà khoa học, của các
Viện, Trƣờng cho vùng sản xuất tôm - lúa bƣớc đầu đã mang lại hiệu quả giúp hạn chế
rủi ro khi canh tác mô hình này.
- Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, thực hiện mô hình đƣợc đầu tƣ nhiều hơn.
Nông dân từng bƣớc đã thấy đƣợc lợi ích do mô hình mang lại, đó chính là việc ổn định
đƣợc điều kiện môi trƣờng cho nuôi, trồng lâu dài, hiệu quả kinh tế khá cao, ít rủi ro
hơn so với mô hình chỉ độc canh con tôm và từ đó nông dân đã mạnh dạn áp dụng nên
hiệu quả mô hình ngày càng tăng.
- Là hai trong những huyện nông nghiệp nên nông dân có nhiều kinh nghiệm và
ngày càng tiếp thu khoa học kỹ thuật, mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất đặc biệt là công tác giống lúa.
3.3.2. Khó khăn trong sản xuất
- Hệ thống thủy lợi, thủy nông nội đồng có nơi chƣa hoàn chỉnh, nên khi có biến
động về thời tiêt nắng hạn sẽ thiếu nƣớc ngọt bổ sung hoặc dịch bệnh sẽ rất khó xử lý.
- Những năm gần đây thời tiết diễn biến bất thƣờng gây khó khăn cho vụ trồng lúa.
- Kiến thức kỹ thuật và quản lý sản xuất của nông dân trong vùng chƣa đồng đều
nên hiệu quả chung của sản xuất tôm-lúa chƣa cao. Một bộ phận nông dân chƣa thực
hiện nghiêm túc lịch thời vụ nuôi tôm và trồng lúa, còn quan tâm nhiều đến con tôm
nên chƣa chú ý đầu tƣ vào vụ lúa.
- Sản xuất lúa chƣa mang tính hàng hoá, nông dân chủ yếu canh tác theo kinh
nghiệm cổ truyền mà chƣa có một qui trình chuẩn mực để tăng năng suất và chất lƣợng
lúa gạo hàng hoá.
- Phần lớn nông dân sử dụng lúa thƣơng phẩm để gieo trồng nên tỉ lệ lẫn tạp cao
dẫn đến năng suất và chất lƣợng đều giảm.
- Ngƣời dân vẫn có tập quán gieo sạ với mật độ cao, bón phân mất cân đối và phun
thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện, nên ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng lúa gạo.
Xuất phát từ thực tiễn trên, để đảm bảo an ninh lƣơng thực của tỉnh, tăng thu nhập
cho nông dân. Thực hiện chủ trƣơng xóa đói giảm nghèo của Đảng và chính quyền tỉnh
Bạc Liêu. Sở Nông nghiệp và PTNT cùng Trƣờng Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp
Nam Bộ đề xuất đề tài: “Tuyển chọn và phát triển các giống lúa ngắn ngày, năng
suất cao, kháng sâu bệnh hại chính cho vùng tôm-lúa của tỉnh Bạc Liêu” nhằm tìm
ra giống phù hợp với vùng đất tôm-lúa để phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho ngƣời
sản xuất ở vùng đất tôm-lúa của tỉnh Bạc Liêu.
19


IV. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nội dung nghiên cứu
4.1.1. Nội dung 1: Điều tra hiện trạng sản xuất tôm - lúa của hai huyện Phƣớc
Long và Hồng Dân ở vùng sản xuất tôm - lúa của tỉnh Bạc Liêu.
4.1.2. Nội dung 2: Khảo nghiệm (KN) các giống lúa tại 2 vùng sinh thái tôm lúa của tỉnh Bạc Liêu.
- Khảo nghiệm 24 giống lúa tại hai huyện Hồng Dân và Phƣớc Long tỉnh Bạc Liêu
(vụ Xuân và vụ Thu Đông năm 2009)
- Khảo nghiệm 15 giống lúa tại hai huyện Hồng Dân và Phƣớc Long tỉnh Bạc Liêu
năm 2010 gồm có các hoạt động của các vụ trong năm:
+ Vụ Xuân 2010
Thí nghiệm khảo nghiệm 15 giống lúa tại Hồng Dân và Phƣớc Long
Thí nghiệm thanh lọc tính kháng rầy nâu, bệnh đạo ôn và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá của
các giống lúa thí nghiệm (15 giống x 3 lần lặp lại x 3 thí nghiệm)
Phân tích phẩm chất hạt của các giống lúa thí nghiệm 18 giống lúa (có 15 giống
lúa thí nghiệm, 2 giống lúa đối chứng năng suất và một giống đối chứng phẩm chất hạt)
x 3 lần lặp lại x 2 điểm x 10 chỉ tiêu = 1 080 mẫu
+ Vụ Thu Đông 2010:
Thí nghiệm khảo nghiệm 15 giống lúa tại Hồng Dân và Phƣớc Long
Thí nghiệm thanh lọc tính kháng rầy nâu, bệnh đạo ôn và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá của
các giống lúa thí nghiệm (15 giống x 3 lần lặp lại x 3 thí nghiệm)
Phân tích phẩm chất hạt của các giống lúa thí nghiệm 18 giống lúa (có15 giống lúa
thí nghiệm, 2 giống lúa đối chứng năng suất và một giống đối chứng phẩm chất hạt) x 3
lần lặp lại x 2 điểm x 10 chỉ tiêu = 1 080 mẫu
4.1.3. Nội dung 3: Nghiên cứu biện pháp canh tác cho các giống lúa mới đƣợc chọn lọc
- Thí nghiệm liều lƣợng phân đạm cho các giống lúa mới đƣợc chọn
- Thí nghiệm ảnh hƣởng cúa một số loại thuốc hóa học và sinh học để phòng trừ
sâu hại chính cho giống lúa đƣợc chọn.
4.1.4. Nội dung 4: Xây dựng mô hình thử nghiệm giống lúa mới
- Xây dựng mô hình thử nghiệm 2 giống lúa mới tại 2 điểm: Hồng Dân và Phƣớc
Long tỉnh Bạc Liêu (1,0 ha x 2 giống x 2 điểm = 4 ha).
- Tập huấn cho nông dân và cán bộ kỹ thuật địa phƣơng về kỹ thuật canh tác, kỹ
thuật chọn giống và kỹ thuật để giống lúa.
- Hội thảo đầu bờ và hội thảo khoa học tại điểm trình diễn.
20


4.2. Vật liệu nghiên cứu
4.2.1. Vật liệu nghiên cứu năm 2009:
Gồm 24 giống lúa thu thập từ Viện lúa Đồng Bằng sông Cửu long. Các giống lúa
này có thời gian sinh trƣởng từ 95-120 ngày, năng suất trong điều kiện đất đai, khí hậu
thuận lợi và thâm canh tốt từ 5-9 tấn/ha, kháng phèn, mặn để khảo nghiệm ở đất tôm-lúa
tỉnh Bạc Liêu, nhằm tìm ra giống lúa thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu ở vùng
này và 2 giống lúa đối chứng (hai giống lúa đối chứng kháng phèn, mặn. Hiện nay đang
đƣợc trồng ở Phƣớc Long và Hồng Dân (bảng 1).
Bảng 1. Các giống lúa tham gia khảo nghiệm năm 2009
TT

Tên giống

TT

Tên giống

1

AS 996 (ĐC)

8

OM 4218

15

OM 5161

22

OM 6162

2

OM 2395 (ĐC)

9

OM 4244

16

OM 5199

23

OM 6377

3

OM 2478

10

OM 4274

17

OM 5464

24

OM 6511

4

OM 2488

11

OM 4276

18

OM 5490

25

OM 6521

5

OM 2499

12

OM 4900

19

OM 5629

26

OM 6677

6

OM 2818

13

OM 5075

20

OM 5494

7

OM 3995

14

OM 5087

21

OM 5637

TT

Tên giống

TT

Tên giống

4.2.2. Vật liệu nghiên cứu năm 2010
4.2.2.1. Vật liệu khảo nghiệm: Gồm 15 giống lúa đƣợc chọn từ bộ giống lúa khảo
nghiệm năm 2009 và 2 giống lúa đối chứng (bảng 2)
Bảng 2. Các giống lúa tham gia khảo nghiệm năm 2010
TT

Tên giống

TT

Tên giống

TT

Tên giống

TT

Tên giống

1

AS 996 (ĐC)

6

OM 4274

11

OM 2499

16

OM 5464

2

OM 2395 (ĐC)

7

OM 6511

12

OM 2818

17

OM 6162

3

OM 6377

8

OM 5629

13

OM 4900

4

OM 4276

9

OM 5075

14

OM 5087

5

OM 3995

10 OM 2478

15

OM 6677

4.2.2.2. Vật liệu thanh lọc rầy nâu, bệnh đạo ôn, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá:
a. Giống lúa: Gồm có 15 giống lúa và hai giống lúa đối chứng trong bộ giống lúa
đang khảo nghiệm tại Phƣớc Long và Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu năm 2010. Hai giống
đối chứng chuẩn nhiễm và chuẩn kháng để thanh lọc tính kháng rầy nâu, tính kháng
bệnh đạo ôn, tính kháng bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá. Tổng số có 19 giống lúa tham
gia thí nghiệm.
21


b. Dụng cụ: Nhà lƣới, lồng nuôi rầy, chậu, bồn trồng lúa, ống nghiệm (18 cm x
150 cm) có nắp và giá đựng, khay nhựa đƣợc thiết kế 100 hốc với đƣờng kính 5cm, thẻ
nhựa ghi nhãn, ống hút, kẹp, thƣớc, tập, viết.
4.2.2.3. Vật liệu phân tích phẩm chất hạt
a. Giống lúa tham gia thí nghiệm: Gồm 15 giống lúa và hai giống lúa đối chứng trong
bộ giống khảo nghiệm. Một giống đối chứng phẩm chất hạt. Tổng số có 18 giống tham gia
thí nghiệm (18 giống x 3 lần lặp lại x 2 điểm thí nghiệm = 1080 mẫu).
b. Dụng cụ: Máy đo độ ẩm hạt, máy xay chà mini, máy nghiền bột, cân điện tử,
máy lắc, máy so màu. Nồi nấu, bếp gas, ống nghiệm: 13mm x 100mm, bình tam giác:
50ml, 100ml, 1000ml, ống đong: 10ml, 50 ml, 100ml, 500ml, 1000 ml, bình chuẩn
acid, pipet. Hộp plactic 4cm x 4 cm x 4 cm. Cồn, NaOH, KOH, HCL, Iod,
phenolphtalein, thymol, amylose chuẩn.
4.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.3.1. Phương pháp điều tra: Sử dụng phƣơng pháp điều tra khảo sát, đánh giá
nhanh nông thôn có sự tham gia của ngƣời dân để thu thập thông tin.
- Chuẩn bị cho điều tra
+ Thành lập nhóm điều tra, phân công thực hiện và lập kế hoạch thực hiện:
+ Lập phiếu điều tra, thiết kế sẵn các câu hỏi (mẫu phiếu điều tra đính kèm ở phần
phụ lục).
+ Liên hệ với chính quyền địa phƣơng
+ Chọn vùng sản xuất đại diện để điều tra, trong vùng lại chọn các xã đại diện và
mẫu phỏng vấn đƣợc lựa chọn theo phƣơng pháp lấy mẫu có hệ thống.
- Thực hiện điều tra
+ Thu thập, phân tích và đánh giá các tài liệu có liên quan đến vùng nghiên cứu
bao gồm các đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, số liệu thống kê về sản xuất,
các kết quả nghiên cứu về khoa học, phỏng vấn trực tiếp ngƣời nông dân rồi điền vào
bảng mẫu đã chuẩn bị sẵn.
+ Tập hợp số liệu và xử lý thông tin điều tra và viết báo cáo
- Phạm vi điều tra: 15 xã của Huyện Phƣớc Long và huyện Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu
- Đối tƣợng điều tra: Nông dân sản xuất tôm-lúa.
- Tính toán số liệu: Tính toán số liệu bằng phần mềm SPSS và Excel.
4.3.2. Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm khảo nghiệm
- Thí nghiệm đƣợc bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại (Gomez &
Gomez, 1984). Diện tích ô thí nghiệm vụ thứ nhất và thứ hai là 20m2, diện tích toàn thí
22


nghiệm là 2000m2. Khảo nghiệm 24 giống lúa, qua hai vụ Xuân và Thu Đông 2009, đánh
giá và loại bỏ những giống xấu, chọn lại 15 giống để tiếp tục khảo nghiệm năm 2010.
- Chỉ tiêu theo dõi
+ Thời gian sinh trƣởng: Theo dõi từ ngày gieo đến ngày thu hoạch
+ Chiều cao cây: Theo dõi chiều cao cây, sau cấy 10 ngày bắt đầu đo và cứ 10
ngày đo một lần, lần cuối đo chiều cao lúc thu hoạch.
+ Số bông/m2: Theo dõi tốc độ đẻ nhánh, cứ 10 ngày theo dõi một lần và số
bông/m2 đƣợc ghi nhận vào ngày thu hoạch.
+ Chiều dài bông: Đo từ cổ bông đễn điểm chót của bông.
+ Số hạt chắc/bông: Đếm số hạt chắc của 10 bụi rồi chia cho tổng số bông.
+ Khối lƣợng 1000 hạt: Đếm hạt và cân ba lần lặp lại
+ Năng suất thực tế: Thu mẫu 5m2, phơi khô ở ẩm độ 14% rồi cân.
+ Quan sát, đánh giá rầy nâu và đạo ôn thực tế trên đồng ruộng: Đánh giá và cho
điểm theo thang điểm IRRI năm 1996.
- Tính toán số liệu: bằng phần mềm SPSS và Excel.
4.3.3. Phương pháp nghiên cứu tính kháng rầy nâu, bệnh đạo ôn, vàng lùn và
lùn xoắn lá
4.3.3.1. Phương pháp nghiên cứu tính kháng rầy nâu: Theo phƣơng pháp hộp mạ
của IRRI, 1996.
- Đối chứng chuẩn kháng và chuẩn nhiễm: Giống chuẩn kháng là Ptb33 (CK),
giống chuẩn nhiễm là TN1 (CN).
- Thu thập rầy nâu: Rầy nâu đƣợc thu thập từ ngoài đồng ruộng về và nuôi trong
nhà lƣới bằng thức ăn lá lúa TN 1 đến 30-40 ngày tuổi
- Thanh lọc: Giống lúa thử nghiệm đƣợc ngâm ủ và cấy theo hàng trong khay có
thể tích 50 x 50 x 5 cm, mỗi giống cấy 3 lần nhắc lại có bố trí chuẩn kháng Ptb 33 và
chuẩn nhiễm TN1. Khi mạ đƣợc 2 lá, thả rầy tuổi 1 đến tuổi 2 với mật số 4-6 con/cây.
Sau khi thả rầy từ 7-10 ngày đánh giá hộp mạ nếu giống TN 1 cháy rụi ở cấp 9 theo
thang điểm của IRRI (1996). Đánh giá và ghi điểm nhƣ sau:
+ Cấp 1: Cây phát triển bình thƣờng, lá 1 và 2 bị vàng
+ Cấp 3: 10% cây chết, lá 1 và 2 bị vàng
+ Cấp 5: 20-30% cây chết, lá 1 và 2 và 3 bị vàng
+ Cấp 7: Trên 50% cây chết, cây còn lại vàng không phát triển đƣợc.
+ Cấp 9: 100% cây chết
23


4.3.3.2. Phương pháp thanh lọc tính kháng bệnh đạo ôn
- Đối chứng chuẩn kháng và chuẩn nhiễm: Giống chuẩn kháng là Tẻ tép (CK),
giống chuẩn nhiễm là TN1 (CN).
- Cách bố trí nƣơng mạ đạo ôn: Chiều dài của nƣơng mạ đạo ôn phụ thuộc kích
thƣớc khu ruộng và sự đồng đều của đất. Trong nƣơng mạ chia thành nhiều băng. Mỗi
băng rộng 0,5cm. Trên băng gieo hàng cách hàng 0,1m, gieo giống chuẩn nhiễm vuông
góc với hàng thử nghiệm, phía đầu gió gieo 3 hàng, phía cuối gió gieo 2 hàng.
- Gieo hạt: Mỗi giống gieo 1 hàng với 5g hạt, cứ 2 hàng thử nghiệm thì gieo 1
hàng chuẩn nhiễm và 100 hàng thì gieo 1 hàng chuẩn kháng. Gieo 3 lần lặp lại.
- Chăm sóc: Hàng ngày tƣới vào buổi chiều, phòng trừ chuột, kiến bằng basudin
10H. Mức phân bón 200kgN/ha. Sau gieo 5 ngày bắt đầu tƣới đạm, cứ 3 ngày tƣới đạm
1 lần cho đến khi đánh giá.
- Lây bệnh: Sau 10 ngày gieo có thể lây bệnh. Thu thập nguồn bệnh từ đồng
ruộng, cắt nhỏ 3-5 cm rải đều trên giống lây nhiễm.
- Đánh giá: Sau khi lây nhiễm một số giống xuất hiện những vết bệnh đầu tiên, ghi
chép diễn biến phát triển của bệnh, 3 ngày theo dõi 1 lần ghi chỉ tiêu phần trăm diện tích
lá bệnh. Cho đến khi bệnh phát triển trên giống chuẩn nhiễm đạt cấp 9 thì đánh giá toàn
bộ lô thử nghiệm. Khi giống chuẩn nhiễm bị cháy rụi hoàn toàn, tiến hành đánh giá theo
thang điểm từ cấp 1 đến cấp 9 của IRRI năm 1996 nhƣ sau.
+ Cấp 1: Vết bệnh màu nâu nhỏ tới hơi thon dài, kích cỡ bằng đầu kim găm hay
lớn hơn mà không có tâm hình thành bào tử.
+ Cấp 2: Vết bệnh hơi tròn nhỏ tới hơi thon dài, dấu vết màu xám, kích thƣớc 12mm, mép màu nâu riêng biệt vết bệnh tìm thấy ở tầng lá thấp.
+ Cấp 3: Dạng vết bệnh nhƣ cấp 2, nhƣng nhiều vết thấy ở các lá trên
+ Cấp 4: Các vết cháy điển hình, dạng elip rộng 1-2mm, dài 3mm hoặc dài hơn với
viền nâu chiếm dƣới 2% diện tích lá
+ Cấp 5: Các vết cháy điển hình, dạng elip chiếm 2-10% diện tích lá
+ Cấp 6: Các vết cháy điển hình, dạng elip chiếm 11-25% diện tích lá
+ Cấp 7: Các vết cháy điển hình, dạng elip chiếm 26-50% diện tích lá
+ Cấp 8: Các vết cháy điển hình, dạng elip chiếm 51-75% diện tích lá
+ Cấp 9: Các vết cháy điển hình, dạng elip chiếm trên 75% diện tích lá
24


4.3.3.3. Phương pháp thanh lọc tính kháng bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá
- Đối chứng chuẩn kháng và chuẩn nhiễm: Giống chuẩn kháng là Ptb 33 (CK),
giống chuẩn nhiễm là TN1 (CN).
- Cách thực hiện: Theo phƣơng pháp thanh lọc kháng bệnh Tungro Forcedtube có cải tiến. Phƣơng pháp này đánh giá tình trạng kháng của giống đáng tin cậy
hơn vì côn trùng không có sự lựa chọn nào ngoài việc phải ăn trên một cây mạ đƣợc
đặt trong ống nghiệm. Shahjahan và Ctv (1991) đã so sánh hiệu quả của các phƣơng
pháp chủng quần thể và chủng cƣỡng cá thể bức trong ống nghiệm. Trong nghiên
cứu của họ, chỉ có 1,4% cây mạ thử nghiệm không bị nhiễm bệnh tungro khi sử dụng
chủng forced-tube so với 17,4% khi sử dụng chủng quần thể. Phƣơng pháp chủng
forced-tube đƣợc thực hiện nhƣ sau:
Đƣa vào mỗi ống nghiệm 3-5 rầy nâu tuổi 1-2 đã cho ăn trên cây TN1 nhiễm
virus trong 2 ngày, úp ống nghiệm đã chứa rầy mang mầm bệnh lên 1 cây mạ 7-10
ngày tuổi (đƣợc gieo trƣớc trong mỗi hốc của khay nhựa) của mỗi giống thử nghiệm.
Cho rầy ăn qua đêm hoặc 24 giờ. Sử dụng 20 cây mạ cho mỗi giống thử nghiệm,
dùng giống lúa TN1 làm đối chứng chuẩn nhiễm. Gắn nhãn cho mỗi giống thử
nghiệm. Sau 24 giờ, chuyển khay mạ ra nhà lƣới, các khay đƣợc bao mùng lƣới tránh
cho rầy nâu bên ngoài tấn công.
- Đánh giá: Sau chủng bệnh đánh giá định kỳ, 7 ngày một lần và đánh giá 4 lần
(đến 28 ngày sau khi chủng). Ghi nhận số cá thể biểu hiện 5 triệu chứng đặc trƣng: i)
Không thấy biểu hiện; ii) Lá biến đổi thành màu vàng nhƣng không giảm chiều cao hay
1-10% giảm chiều cao (V); iii) Cây giảm chiều cao 11-30% nhƣng lá không biến đổi
thành màu vàng hay vàng cam (L); iv) 31-50% giảm chiều cao và lá biến đổi thành màu
vàng hay vang cam (VL); trên 50% cây có biểu hiện lùn xoắn lá (LXL); số cây chết. Kết
quả ghi nhận từng cá thể cây mạ dựa trên hệ thống đánh giá tiêu chuẩn (SES) cho lúa
(INGER 1996) theo các cấp độ nhƣ bảng 3:
Bảng 3. Cấp độ đánh giá tính kháng bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá
Cấp độ

Mô tả

1

Không thấy biểu hiện bệnh

3

1 -10% số cây giảm chiều cao, lá không biến đổi thành màu vàng hay vàng cam (V)

5

11-30% số cây giảm chiều cao, lá không biến đổi thành màu vàng hay vàng cam (L)

7

31-50% số cây giảm chiều cao, lá biến đổi thành màu vàng hay vàng cam (VL)

9

> 50% số cây có biểu hiện lùn xoắn lá, có cây chết (LXL)
25


Tính chỉ số bệnh (DI) cho mỗi lần thử theo công thức:
DI 

3(A3)  5(A5)  7(A7)  9(A)
tn

Trong đó: A3….A9: số các cây ở mức độ 3, 5, 7, 9
tn là tổng số cây đƣợc chủng bệnh
Kết quả DI đƣợc phân loại nhƣ bảng 4:
Bảng 4. Chỉ số đánh giá tính kháng bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá
Chỉ số bệnh

Tính kháng

0 -3

Kháng bệnh

4-6

Kháng trung bình

7-9

Nhiễm bệnh

Tỉ lệ nhiễm bệnh cho mỗi lần thử tính theo công thức sau:
Số cây bị nhiễm
% nhiễm = ………………………....
Số cây đƣợc chủng
Đánh giá tính kháng (số trung bình của các lần nhắc lại) nhƣ sau:
0 - 30%: Kháng; 31- 60%: Kháng trung bình; 61 – 100%: Nhiễm
4.3.4. Phương pháp nghiên cứu chất lượng hạt gạo
4.3.4.1. Chất lượng xay chà: 200 gam lúa cho một lần lặp lại x 3 lần lặp lại x 15
giống lúa x 2 điểm. Mẫu lúa đƣợc sấy khô ở ẩm độ hạt 14%, xay chà trên máy McGill
Polisher no.3. Tỷ lệ gạo lức, trắng, nguyên đƣợc phân tích và tính toán theo phƣơng
pháp của Govindaswamy và Ghose (1969) nhƣ bảng 5.
Bảng 5. Mức đánh giá tỉ lệ gạo lức, trắng, nguyên
Chỉ tiêu
Tỉ lệ gạo lức
(%)
Tỉ lệ gạo
trắng (%)
Tỉ lệ gạo
nguyên (%)

Mức
> 80

Đánh giá
Cao

75-80
<75

Trung bình
Thấp

> 65
60-65

Cao
Trung bình

<60
> 50

Thấp
Cao

40-50
<40

Trung bình
Thấp
26


4.3.4.2. Dạng hạt gạo
Chiều dài và rộng của hạt gạo đƣợc đo bằng đồng hồ đo hạt Baker E-02. Dạng hạt là
tỉ lệ chiều dài trên chiều rộng của hạt gạo. Phân tích và đánh giá theo hệ thống đánh giá
mẫu của Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc Tế (1996) nhƣ bảng 6.
Bảng 6. Điểm phân loại kích thƣớc hạt gạo
Chiều dài hạt gạo

Chiều rộng hạt gạo

Điểm

Độ dài (mm)

Phân loại

Điểm

Dạng hạt gạo (D/R)

Phân loại

1

> 7.50

Rất dài

1

> 3.00

Thon dài

3

6.61-7.50

Dài

3

2.21-3.00

Thon

5

6.51-6.60

Trung bình

5

1.10-2.00

Bầu

7

<5.50

Ngắn

7

<1.10

Tròn

4.3.4.3. Độ bạc bụng:
Đánh giá dựa vào tỷ lệ phần trăm độ đục trên hạt gạo đã đƣợc chà trắng. Phân tích
và đánh giá độ bạc bụng theo hệ thống đánh giá mẫu (SES) của Viện Nghiên Cứu Lúa
Quốc Tế (IRRI, 1996) nhƣ bảng 7.
Bảng 7. Điểm phân loại độ bạc bụng của hạt gạo
Điểm

Mức độ bạc bụng

0

Không có vết bạc bụng

1

Vết bạc bụng nhỏ hơn 10% diện tích hạt

5

Vết bạc bụng chiếm từ 10 - 20% diện tích hạt

9

Vết bạc bụng chiếm trên 10% diện tích hạt

4.3.4.4. Độ trở hồ (độ hoá hồ):
Đƣợc xác định bằng mức độ lan rộng và độ trong suốt của hạt gạo xử lý với dung
dịch KOH 1,7% trong 23 giờ ở nhiệt độ 30OC. Cho 10ml KOH 1,7% vào hộp plastic,
sắp 6 hạt gạo vào mỗi hộp để cách đều và có đủ khoảng cách sao cho khi các hạt tan ra
không đụng vào nhau. Đậy nắp hộp, để nguyên trong 23 giờ ở nhiệt độ 30OC hay nhiệt
độ phòng (Little và ctv, 1958). Đánh giá độ hoá hồ theo SES (IRRI, 1996) nhƣ bảng 8.
27


Bảng 8. Điểm phân loại độ trở hồ của hạt gạo
Điểm

Độ tan trong kiềm

Phân loại

1

Hạt gạo còn nguyên, màu trắng bột

Cao

2

Hạt gạo phồng lên

Cao

3

Hạt gạo phồng lên, viền chƣa rõ nét, hẹp màu trắng bột

Cao

4

Hạt phồng lên, viền rộng, rõ nét tâm nhòe trắng đục

Trung bình

5

Hạt rã ra và nứt, tâm nhòe đục, viền rõ trong suốt

Trung bình

6

Hạt tan ra bờ viền, tâm nhòe đục, viền rõ trong suốt

Thấp

7

Hạt tan hết quyện vào nhau, tâm và viền trong suốt

Thấp

4.3.4.5. Độ bền thể gel:
Phân tích theo phƣơng pháp của Tang và ctv (1991): Cân 100 mg bột gạo cho vào
ống nghiệm 13 x 100mm, thêm 0,2ml ethanol 95% chứa 0,03% thymol xanh và 2 ml
KOH 0,2N lắc đều bằng máy Genic mixer ở tốc độ 6. Đậy ống nghiệm và đặt vào nồi
chƣng cách thuỷ đang sôi trong vòng 8 phút, làm nguội ở nhiệt độ phòng khoảng 5 phút
và sau đó cho vào bình nƣớc đá 20 phút. Đặt các ống nghiệm nằm ngang trên giấy kẻ ô
ly trong vòng 1 giờ. Đo độ dài của thể gel từ đáy ống nghiệm cho tới đầu cuối của gel.
Phân loại theo tiêu chuẩn SES (IRRI 1996).
Bảng 9. Phân loại độ bền thể gel của hạt gạo
Độ dài của thể gel (mm)

Độ bền thể gel
Rất mềm

>80
61-80

Mềm

41-60

Trung bình

36-40

Hơi cứng
Cứng

<35
28


4.3.4.6. Hàm lượng amylose
Đƣợc phân tích trên máy so màu theo phƣơng pháp của Sadavisam và ManiKam
(1992). Bột gạo đƣợc nghiền bằng máy Cemotec, rây qua rây mịn có lỗ nhỏ 60mesh.
Cân 100 mg bột gạo cho vào bình tam giác có thể tích 100ml, cho 1ml cồn 95% vào đó
rồi cho thêm 10ml NaOH 1N và để qua đêm. Lên thể tích 100ml bằng nƣớc cất. Lấy 2,5
ml dung dịch đó, thêm 20 ml nƣớc cất và 3 giọt phenolphtalein, dung dịch chuyển màu
hồng. Sau đó chuẩn độ HCL 0,1N từ từ cho đến khi màu hồng biến mất. Thêm 1ml tác
nhân iodine và lên thể tích 50ml bằng nƣớc cất. Hoà tan 1ml tác nhân iodine vào trong
50ml nƣớc cất làm blank. Đo ở bƣớc sóng 590nm trên máy so màu Jenway-6015.
Chuẩn bị dung dịch amylose chuẩn: Cân 100 mg bột amylose chuẩn cho vào ống
nghiệm, các bƣớc lên đến thể tích 100ml giống nhƣ của mẫu. Từ dung dịch amylose
chuẩn: lấy 0,2; 0,4; 0,6; 0,8 và 1ml. Tiến hành đến so màu giống nhƣ đối với mẫu thí
nghiệm từ khi lấy 2,5ml. Áp dụng lên đƣờng chuẩn tính và tính hàm lƣợng amylose có
trong mẫu phân tích theo công thức:
A

T
2.5 x 100

A là hàm lƣợng amylose
T = a + bz;
(∑y - b∑x)
a = ……………...
n

n∑xy - ∑x∑y
b = ………………
2n∑y – (∑x)2

Trong đó: x: Nồng độ chuẩn
y: Chỉ số od chuẩn đo đƣợc
z: Chỉ số od của mẫu phẩm chất gạo nghiên cứu
Hàm lƣợng amylose đƣợc đánh giá theo thang điểm IRRI (1996) nhƣ bảng 10.
Bảng 10. Đánh giá hàm lƣợng amylose của hạt gạo
Hàm lƣợng amylose (%)

Đánh giá

3-10

Rất thấp

11-19

Thấp

20-25

Trung bình

>25

Cao
29


4.3.5. Phương pháp nghiên cứu biện pháp canh tác và xây dựng mô hình
a. Thí nghiệm nghiên cứu liều lượng phân đạm: Thí nghiệm đƣợc bố trí trên đồng
ruộng của nông dân, có nông dân tham gia, bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần
lặp lại (Gomez & Gomez, 1984).
- Diện tích ô thí nghiệm là 60 m2, toàn thí nghiệm là 1000 m2.
- Các công thức phân bón: Chỉ khác nhau về liều lƣợng phân đạm (N), còn lƣợng
phân lân (P2O5) và kali (K2O) đƣợc bón cố định cho tất cả các nghiệm thức (lƣợng phân
bón tính theo đơn vị trên 1ha) nhƣ sau:
1). NT1: 100 - 40 - 30 kg NPK/ha (Đối chứng, bón phân nhƣ nông dân thƣờng bón)
2). NT2: 80 - 40 - 30 kg NPK/ha
3). NT3: (80 - 40 - 30 kg NPK+ 2kg Super Humic)/ha
4). NT4: 60 - 40 - 30 kg NPK/ha
5). NT5: (60 - 40 - 30 kg NPK+ 2kg Super Humic)/ha
Tỉ lệ phân nguyên chất của urea là 46%; của supper lân là 17% và của Cloruakali là 60%).
Phân Super Humic có thành phần cid Humix 70%; cid Fulvic 20%; Kali 10%, phân
có tác dụng tăng cƣờng các hoạt động sinh tổng hợp trong cây, chống stress, giải độc
phèn, ngộ độc hữu cơ. Kích thích rễ phát triển, tăng khả năng hấp thu phân bón, tăng sức
đề kháng, ít sâu bệnh, giảm thuốc bảo vệ thực vật, tăng năng suất và chất lƣợng nông sản.
- Phƣơng thức gieo cấy: Tất cả các nghiệm thức đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp
sạ lan, với mật độ 80 kg lúa giống khô/ha.
- Phƣơng pháp bón phân:
+ Bón lót: Toàn bộ phân supper lân cho 1 ha ruộng:
+ Trộn phân Super Humic với hạt giống: Trộn đều 0.4 kg phân Super Humic với
80 kg hạt giống (trộn trƣớc gieo 1-2 giờ) để sạ cho 1 ha.
+ Thúc sau sạ 7 ngày: Trộn đều 1.6 kg Super Humic với 40 kg urea để bón cho 1 ha lúa.
+ Thúc sau sạ 20 ngày: bón 80 kg urea và 15 kg Cloruakali cho 1 ha lúa
+ Thúc sau sạ 35 ngày: bón 40 kg urea và 35 kg Cloruakali cho 1 ha lúa.
+ Lƣợng phân urea còn lại: Còn lại 14 kg phân urea. Dùng để bón cho thí
nghiệm từ sau sạ 45 ngày đến khi lúa trỗ đƣợc 10 %.
- Các chỉ tiêu theo dõi:
+ Tình hình sinh trƣởng của lúa: Số cây/m2, đếm ở các thời điểm sau khi sạ 10; 25;
50 ngày và khi thu hoạch.
30


+ Số bông /m2
+ Số hạt chắc /bông
+ Khối lƣợng 1000 hạt thóc thử
+ Năng suất khô (ẩm độ) 14 %, tấn/ha
- Xử lý số liệu và phân tích thống kê: Xử lý số liệu trên phần mềm Excel và SPSS
và phân tích thống kê theo Gomez & Gomez, 1984.
b. Thí nghiệm nghiên cứu thuốc bảo vệ thực vật:
- Thí nghiệm đƣợc bố trí trên đồng ruộng của nông dân, có nông dân tham gia. Bố trí
theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại (Gomez & Gomez, 1984). Diện tích ô thí
nghiệm là 60 m2, toàn thí nghiệm là 1000 m2. Thí nghiệm có 5 nghiệm thức nhƣ sau:
1). NT 1: Mappermethrin (Đối chứng) loại thuốc hóa học nông dân sử dụng chủ yếu.
2). NT 2: Applaud
3). NT 3: Ometar
4). NT 4: Chess
5). NT 5: Azimex
- Phƣơng thức gieo cấy: Tất cả các nghiệm thức đƣợc thực hiện theo phƣơng pháp
sạ lan, với mật độ 80 kg lúa giống khô/ha.
- Phƣơng pháp sử dụng thuốc
+ Phun thuốc phòng rầy nâu: Khi thấy xuất hiện với mật độ 4-5 con trên một dảnh
lúa dƣới 30 ngày tuổi và 6-7 con trên một dảnh lúa trên 30 ngày tuổi thì phun 2 bình 8
lít cho 1000 m2. Liều lƣợng thuốc/bình của các công thức thuốc theo khuyến cáo trên
bao bì của nhà sản xuất.
+ Phun thuốc trị rầy nâu: Khi thấy xuất hiện với mật độ 4-5 con trên một dảnh lúa
dƣới 30 ngày tuổi và 6-7 con trên một dảnh lúa trên 30 ngày tuổi thì phun 4 bình 8 lít
cho 1000 m2. Liều lƣợng thuốc/bình của các công thức thuốc theo khuyến cáo trên bao
bì của nhà sản xuất.
Phun thuốc khi rầy nở rộ ở tuổi 2 – 3 tức là 15 – 20 ngày sau đợt rầy trƣởng thành
của lứa trƣớc và phun thuốc vào phần gốc của cây lúa.
- Xử lý số liệu và phân tích thống kê: Xử lý số liệu trên phần mềm Excel và SPSS
và phân tích thống kê theo Gomez & Gomez, 1984.
4.3.6. Phương pháp nghiên cứu xây dựng mô hình: Mô hình đƣợc sạ hàng với
mật độ 80 kg lúa giống/ha. Bón phân theo công thức (80-40-30 kgNPK-2 kg Super
Humic)ha. Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học Omerta để phòng và trị rầy nâu cho lúa.
31


V. KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
5.1. Kết quả nghiên cứu khoa học
5.1.1. Kết quả điều tra: Điều tra cơ bản là một hoạt động đầu tiên trong quá trình
triển khai thực hiện đề tài, nhằm đánh giá một cách hệ thống tình trạng và điều kiên trƣớc
khi thực hiện đề tài. Đồng thời làm cơ sở cho đánh giá tiếp theo để đề tài nghiên cứu đạt
đƣợc kết quả tốt. Chúng tôi đã thực hiện điều tra để phục vụ cho quá trình thực hiện đề
tài: “Tuyển chọn và phát triển giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, kháng sâu bệnh
hại chính cho vùng lúa-tôm của tỉnh Bạc Liêu". Kết quả đã đạt đƣợc nhƣ sau:
5.1.1.1. Số phiếu điều tra
Đã điều tra đƣợc 200 phiếu phỏng vấn nông dân ở các xã thuộc hai huyện Phƣớc
Long và Hồng Dân tỉnh Bạc liêu nhƣ bảng 11:
Bảng 11. Tổng số phiếu điều tra/các xã của Phƣớc Long và Hồng Dân
Stt

Địa điểm điều tra

Số phiếu



Huyện

1

Vĩnh Phú Đông

Phƣớc Long

28

2

Hƣng Phú

Phƣớc Long

07

3

Vĩnh Thạnh

Phƣớc Long

19

4

Vĩnh Phú Tây

Phƣớc Long

8

5

Phƣớc Long

Phƣớc Long

18

6

Thị Trấn phƣớc Long

Phƣớc Long

16

7

Thị Trấn Ngạn Dừa

Hồng Dân

15

8

Ninh Qƣới

Hồng Dân

10

9

Ninh Qƣới A

Hồng Dân

15

10 Ninh Hòa

Hồng Dân

15

11 Lộc Ninh

Hồng Dân

17

12 Ninh Thạnh Lợi

Hồng Dân

15

13 Vĩnh Lộc

Hồng Dân

17

Tổng số phiếu

200
32

Ghi chú


5.1.1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Phước Long và Hồng Dân
Theo số liệu của trung tâm khuyến nông và khuyến ngƣ tỉnh Bạc Liêu cho thấy
diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa trên đất sản xuất tôm-lúa của huyện Phƣớc Long và
Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu từ năm 2004-2008 (xem bảng 12 và bảng 13).
Bảng 12. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở Phƣớc Long (2004-2008)
Năm
2004

Diện tích (ha)
4,223

Năng suất bình quân (tấn/ha)
4,08

Sản lƣợng (tấn)
17,224

2005

3,200

4,01

12,832

2006

5,361

4,00

21,444

2007

5,750

3,50

20,125

2008

7,317

3,50

24,146

Số liệu bảng 12 cho thấy diện tích trồng lúa của Phƣớc Long năm 2005 thấp nhất
(3,200 ha) lý do là lúc giá lúa thấp ngƣời dân chƣa quan tâm với trồng lúa. Sau đó từ
năm 2006 đến năm 2008 thì diện tích (ha) tăng dần theo thứ tự: 5,361 ha; 5,750 ha và
7,317 ha. Sản lƣợng lúa của năm 2008 cao nhất so với từ năm 2004 đến 2007. Tuy
nhiên, năng suất lúa của những năm này, năm sau lại thấp hơn năm trƣớc theo thứ tự
từ năm 2004 đến năm 2008: 4,08 tấn/ha, 4,01 tấn/ha, 4,00tấn/ha và 3,50 tấn/ha vào
năm 2007 và 2008. Lý do là ngƣời dân thƣờng trồng giống lúa mùa địa phƣơng và gặp
nguồn lúa giống nào thì trồng nguồn lúa giống ấy hoặc tự để giống hoặc trao đổi mua
bán lúa giống với nhau. Thâm canh cũng tùy tiện theo kinh nghiệm truyền thống. Mặt
khác sản xuất lúa trên đất tôm - lúa cũng may rủi phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời
tiết hàng năm, nhất là lƣợng mƣa và thời gian kết thúc mùa mƣa sớm hay muộn và điều
kiện môi trƣờng thực tế của địa phƣơng trong thời điểm mùa vụ.
Bảng 13. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa ở Hồng Dân (2004-2008)
Năm

Diện tích (ha)

Năng suất bình quân (tấn/ha)

Sản lƣợng (tấn)

2004
2005

14,710
12,770

4,00
4,00

55,09
51,08

2006
2007

13,420
13,226

4,20
4,11

56,37
54,40

2008

15,247
4,00
60,99
Số liệu bảng 13 cho thấy, tƣơng tự nhƣ huyện Phƣớc Long, diện tích sản xuất tômlúa (15,247 ha) và sản lƣợng lúa (60,99 tấn) của huyện Hồng Dân năm 2008 tăng mạnh
so với các năm trƣớc. Điều này cho thấy ngƣời dân càng ngày càng mặn mà với cây lúa.
33


Bảng 14. Năng suất, sản lƣợng và lợi nhuận từ sản xuất lúa vùng đất tôm-lúa (ở
Phƣớc Long và Hồng Dân năm 2008)
Địa điểm

Năng suất bình quân

Sản lƣợng

Lợi nhuận

(tấn/ha)

(tấn/năm)

(triệu đồng/ha)

Phƣớc Long

3,50

24,146

12,09

Hồng Dân

4,00

60,988

14,08

Kết quả bảng 14 cho thấy: Năng suất bình quân, sản lƣợng và lợi nhuận từ sản xuất
lúa của huyện Hồng Dân cao hơn huyện Phƣớc Long (4,00 tấn/ha so với 3,50 tấn/ha;
60,988 tấn so với tấn 24,146 và 14,08 triệu đồng/ha so với 12,09 triệu đồng/ha). Qua
đây cho thấy nếu đƣợc tác động các biện pháp kỹ thuật để phát triển sản xuất lúa ở vùng
đất lúa tôm thì cũng sẽ nâng cao đƣợc thu nhập của ngƣời nông dân ở những vùng đó
đặc biệt là ở huyện Hồng Dân.
5.1.1.3. Kết quả điều tra 200 hộ sản xuất tôm - lúa ở Phước Long và Hồng Dân
a. Đặc điểm vùng đất tôm-lúa của tỉnh Bạc Liêu: Kết quả điều tra 200 gia đình
thuộc các xã: Vĩnh Phú Đông, Hƣng Phú, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phú Tây, xã Phƣớc Long,
Thị trấn Phƣớc Long thuộc huyện Phƣớc Long. Các xã: Ninh Qƣới, Ninh Qƣới A, Ninh
Hòa, Thị trấn Ngan Dừa, Lộc Ninh, Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Lộc thuộc huyện Hồng Dân
cho thấy đặc điểm sản xuất lúa ở vùng đất tôm-lúa của tỉnh Bạc Liêu gồm có:
- Các xã thuộc vùng nƣớc ngọt nhƣ: Xã Ninh Qƣới, một phần xã Ninh Hòa, thị trấn
Ngan Dừa, Ninh Qƣới A của Hồng Dân. Xã Vĩnh Thanh, Vĩnh Phú Đông, và Hƣng Phú
của Phƣớc Long thì trồng lúa 3 vụ/năm: các giống lúa chủ yếu là giống lúa ngắn ngày nhƣ.
OM 2717, OM 2395, AS 996, VND 95-20, OM 576, OM 4900 và các giống khác (không
rõ tên). Giống lúa để gieo sạ thì ngƣời dân đi mua, trao đổi hoặc tự giữ giống để trồng.
- Các xã thuộc vùng nƣớc mặn (chuyển đổi) thì nuôi tôm một vụ và trồng lúa một
vụ. Ngƣời dân thả tôm từ tháng 01 và thu hoạch tôm vào tháng 6-7, rửa mặn 4-6 tuần
rồi gieo trồng lúa, một số địa bàn vừa kết hợp trồng lúa vừa thả xen cá nƣớc ngọt hoặc
tôm Càng xanh khi trồng lúa. Cứ nhƣ vậy lại đợi chu kỳ tiếp theo của năm tiếp theo.
Sản xuất lúa trên nền đất tôm là theo kinh nghiệm và theo điều kiện cụ thể, gặp giống
nào thì trồng giống nấy (vì lúa giống đắt tiền), ít có điều kiện đi mua hay thay đổi giống.
Ngƣời dân trồng cả giống lúa dài ngày (Lúa mùa) và giống ngắn ngày (Cải tiến). Kỹ
thuật canh tác cũng dựa vào truyền thống kinh nghiệm, mức phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật cũng không giống nhau trên cùng một loại đất canh tác ở gần nhau.
34


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×