Tải bản đầy đủ

Tiểu luận GIẢI QUYẾT KHIẾU nại THU hồi đất của GIA ĐÌNH ÔNG n

LỜI NÓI ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Công tác đền bù giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề
phức tạp mang tính chất kinh tế - xã hội tổng hợp, thể hiện bản chất kinh tế
của các mối quan hệ về đất đai và chính sách, xã hội của Nhà nước. Vì vậy,
đây là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm của nhiều ngành, nhiều cấp, của các
tổ chức và cá nhân có liên quan.
Trong thời gian qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, kết hợp đảm bảo an
sinh xã hội và lợi ích của nhân dân, tại nhiều địa phương trên phạm vi cả nước
diễn ra hoạt động thu hồi đất và đền bù giải phóng mặt bằng để thực hiện các
dự án phát triển. Vì lợi ích chung, đại bộ phận người dân trong khu vực thu
hồi đất đều đồng tình, ủng hộ và tự giác thực hiện các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước, không ít người còn vì lợi ích chung đã chịu một phần
thiệt thòi, giúp chính quyền các địa phương đẩy nhanh công tác giải phóng
mặt bằng.
Tuy nhiên, mặc dù Nhà nước đã có hàng loạt quy định về vấn đề bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi cá nhân, tổ chức bị thu hồi đất nhưng trên
thực tế quá trình thực hiện gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thậm chí có lúc, có nơi xảy
ra vụ việc phức tạp, kéo dài, làm chậm tiến độ thực hiện dự án, gây tổn hại về

kinh tế và ảnh hưởng trật tự trị an xã hội, mất nhiều thời gian và công sức giải
quyết. Nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến hiện tượng này là người dân
trong diện di dời, giải toả phải thay đổi nghề nghiệp, điều kiện sống, học tập,
thay đổi tập quán và các vấn đề tâm lý, xã hội khác. Mặt khác, một số cán bộ
thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng còn chưa thực hiện đúng các
quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Để góp phần giải quyết các đòi hỏi khách quan cũng như tính cấp thiết của
vấn đề này, tiểu luận xin đề cập đến một tình huống phổ biến nảy sinh từ công
tác đền bù, giải phóng mặt bằng tại nhiều địa phương hiện nay, từ đó tìm ra
phương án và kiến nghị biện pháp giải quyết, nhằm kết hợp hài hoà giữa lợi
ích của Nhà nước với lợi ích của cá nhân, tổ chức thuộc diện Nhà nước thu hồi
đất.
Việc xử lý giải quyết tranh chấp đất đai, tìm được tiếng nói chung với


người dân có ý nghĩa quyết định đến thu hồi mặt bằng góp phần đẩy nhanh
tiến độ thực hiện dự án. Vậy sau đây tôi xin đi vào phân tích một tình
huống có thật trong cuộc sống liên quan tới khiếu nại thu hồi đất, tình huống
có tên là: “Giải quyết khiếu nại thu hồi đất của gia đình ông N tại xã Tam
Đa, Yên Phong, Bắc Ninh năm 2017”
Do kiến thức và thời gian có hạn, chính vì vậy trong nội dung bài tiểu
luận không thể tránh khỏi một số sai sót nhỏ. Vì vậy Tôi rất mong được sự
quan tâm của thầy cô và các bạn đồng nghiệp góp thêm ý kiến để tiểu luận của
Tôi có nội dung tốt hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn !
1.2. Mục tiêu đề tài
- Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết tình huống khiếu nại
thu hồi đất
- Phân tích nguyên nhân từ đó đưa ra các phương án giải quyết và lựa
chọn phương án giải quyết.
- Đề xuất các kiến nghị, giải pháp, giải quyết kịp thời các tranh chấp.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên phương pháp luận chủ đạo là duy vật biện chứng
- Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp (để lựa chọn
phương án giải quyết tối ưu)
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thu hổi đất đối với gia đình ông N và các hộ
dân khác.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong xã Tam Đa- huyện Yên Phong
1.5. Bố cục tiểu luận
Ngoài phần lời cảm ơn, mục lục, bố cục tiểu luận gồm 3 phần:


Phần 1: Lời nói đầu
Phần 2: Giải quyết vấn đề
Phần 3: Kết luận và kiến nghị

2


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Ông Ngô Văn N, 56 tuổi, trú tại , xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh
Bắc Ninh là người có mặt đầu tiên tại khu đất trũng thôn Đại Lâm để khai
hoang, lấy đất canh tác và sinh sống ổn định từ năm 2005. Đến nay, đây là một
khu đất đẹp, nằm trong dự án quy hoạch đô thị mới, được chính quyền địa
phương công bố vào tháng 2/2017. Tháng 4/2017, gia đình ông nhận được
thông báo về lý do thu hồi, diện tích đất bị thu hồi (gần 2 ha đất, tức là khoảng
70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng), nhưng ông không phản đối. Tuy
nhiên, khi số tiền đền bù chỉ có 8.000-12.000 đồng/m2 và một ít phụ cấp khác
tổng cộng chưa đến 50.000 đồng/m2 (trong khi đó, với 1m2 đất, công ty này
chỉ khai thác đất thịt thôi, chưa tính khai thác đất sét nằm sâu 15m dưới lòng
đất thịt thì tổng thu nhập đã hơn 600.000 đồng/m2), thì gia đình ông cùng
nhiều người dân đã không đồng tình với giá đền bù và cho rằng việc áp giá
khu đất quá thấp để phục vụ cho lợi ích kinh doanh của một công ty, không
tính đến lợi ích của dân. Trong khi đó, hiện tại, cũng là đất nông nghiệp, bên
cạnh diện tích đất của gia đình ông N bị giải tỏa (vẫn 12.000 đồng/m2) thì
người ta bán giá thị trường được 400.000 đồng/m2. Chắc chắn chính quyền
biết rõ giá đất như thế, nhưng vẫn áp giá đền bù thấp hơn giá thị trường quá
nhiều. Đây cũng là giá chung do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định và Uỷ ban
nhân dân huyện phải chấp hành. Vì vậy, ngày 15/5, ông N và một số hộ dân đã
đi khiếu nại đến UBND huyện Yên Phong, nhưng khi chưa được giải
quyết thấu đáo (chưa nhận được văn bản nào về việc giải quyết khiếu nại) thì
ngày 18/6 đã bị UBND huyện mang xe, lực lượng đến cày ủi, san bằng tất cả
vườn tược, tức là sau có 3 ngày (ngày 15/6) UBND tỉnh có công văn yêu cầu
Thanh tra tỉnh kiểm tra toàn bộ khiếu nại của các hộ dân. Những vườn cây trái
xum xuê giờ chỉ còn là những thân cây khô, trơ gốc. Riêng gia đình ông N vốn
sinh sống nhờ các loại cây ăn trái và rau... trong vườn giờ không còn phương
tiện để sinh sống. Cho đến khi bị cưỡng chế, gia đình ông N và các hộ dân ở
đây chưa hề được ký vào bất kỳ một văn bản nào liên quan đến đền bù, giải
tỏa, chưa ký nhận tiền. Việc cưỡng chế trên có sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân
tỉnh.
II. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC KHI GIẢI QUYẾT TÌNH
HUỐNG
3


Mục tiêu cần đạt được khi giải quyết tình huống là tìm ra phương án tối
ưu và kiến nghị biện pháp giải quyết tình huống trên cơ sở các quy định của
pháp luật về đất đai, nhất là quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất hiện nay.
III. PHÂN TÍCH XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1. Mục tiêu của tình huống
Mục tiêu của tình huống là xác định các hiện tượng phổ biến nảy sinh
trong lĩnh vực đền bù, giải toả đất đai để thực hiện các chương trình, dự án
phát triển kinh tế của Nhà nước và của các địa phương trên thực tế hiện nay đã
và đang còn nhiều vướng mắc và phức tạp trong quá trình thực hiện từ phía
các cơ quan chức năng, dẫn đến không ít bức xúc trong nhân dân.
2. Cơ sở lý luận
Kể từ năm 2003 đến nay, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII
Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp
luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
Nhà nước đã ban hành rất nhiều quy định về lĩnh vực này, đặc biệt là ban hành
Luật đất đai năm 2003, thay thế Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật đất đai năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật đất đai năm 2001. Luật đất đai năm 2003 đã dành riêng một mục với 8
điều luật quy định một số vấn đề cơ bản nhất về thu hồi đất. Tiếp đó, tại Nghị
định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về thi hành Luật đất đai
cũng đã có hướng dẫn về vấn đề này. Trên cơ sở các văn bản trên, Chính phủ
ban hành các nghị định chuyên biệt về vấn đề này như Nghị định số
197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 quy định về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày
25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về
đất đai. Qua nhiều năm thực hiện, các nghị định trên đã được bổ sung theo
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy
định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư;
Để thực hiện thống nhất các quy định của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã ban hành nhiều thông tư hướng dẫn như Thông tư số
4


01/2005/TT-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2005 hướng dẫn thực hiện một số
điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của
Chính phủ về thi hành Luật đất đai; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT-BTCBTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 và Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT
ngày 15 tháng 6 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai…Ngoài ra, các quy định về thu hồi đất và bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất còn được đề cập đến trong một số văn
bản pháp lý khác. Đây chính là các cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời xác định trách nhiệm tuân thủ
các nghĩa vụ pháp lý của người dân khi bị thu hồi đất.
3. Nguyên nhân dẫn đến tình huống
Các nguyên nhân dẫn đến tình huống phát sinh trong lĩnh vực thu hồi
đất và bồi thường giá trị quyền sử dụng đất của gia đình ông N và nhiều hộ
dân khác tại địa bàn xã Tam Đa xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm cả
nguyên nhân khách quan và chủ quan.
a) Nguyên nhân khách quan
Các nguyên nhân khách quan dẫn đến tình huống nêu trên bao gồm các
nguyên nhân xuất phát từ tính tất yếu của quá trình xây dựng nền kinh tế, củng
cố quốc phòng, an ninh của đất nước diễn ra trên các địa bàn lãnh thổ có vị trí
địa lý thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển. Việc xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế-kỹ thuật của quốc gia đều cần có đất (Ví dụ: xây dựng các
trung tâm hành chính vốn chưa tương xứng với vị thế và đảm bảo cho hoạt
động công quyền tại nhiều địa phương; xây dựng các công trình trọng điểm
quốc gia; xây dựng nhà ở dành cho sinh viên, người nghèo và người có thu
nhập thấp; xây dựng thuỷ điện; các trường bắn, bãi tập cho các nhà trường và
hoạt động diễn tập chiến đấu của các đơn vị vũ trang; xây dựng các trường
học đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo; xây dựng các
trung tâm dịch vụ; hoàn thiện các tuyến đường giao thông huyết mạch của
quốc gia và đường giao thông nối liền các địa phương, nội tỉnh, nội huyện và
trên địa bàn các xã, phường, thị trấn…). Vì lợi ích quốc gia và lợi ích chung
của xã hội, Nhà nước tiến hành thu hồi đất của cá nhân để sử dụng vào mục
5


đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh
tế, nhưng có bồi thường cho những người có đủ điều kiện theo quy định của
pháp luật (người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có
đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại
Điều 50 Luật đất đai, trừ các trường hợp được quy định tại khoản 2, 3, 4,5, 6,
7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 và các điểm b, c, d, đ và g khoản 1 Điều 43 của
Luật đất đai).
Việc thu hồi đất của cá nhân diễn ra tràn lan trên nhiều địa phương hiện
nay còn xuất phát từ sự yếu kém trong công tác quy hoạch đất đai, sự hạn chế
về tầm nhìn trong xác định mục tiêu cho sự phát triển kinh tế và nhiều lĩnh
vực xã hội khác của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương.
Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về đất đai nói chung và về lĩnh vực
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất còn nhiều
bất cập. Ngoài Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì vấn đề pháp lý
này còn được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp lý khác, khiến cho
việc nắm bắt và triển khai thực hiện rất khó khăn. Qua nhiều năm, trước
những vấn đề vướng mắc, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2009/NĐCP để bổ sung, nhưng bản thân Nghị định này cũng vẫn rất chung chung và về
mặt kỹ thuật lập quy còn chưa đáp ứng được yêu cầu (quá nhiều lỗi về mặt nội
dung, phải đính chính lại). Nội dung của các văn bản đặt ra nhiều phương án
bồi thường mang tính chất chung để chính quyền lựa chọn cho phù hợp nhưng
thực chất lại là cơ sở tạo nên sự tuỳ tiện, nhất là khi không kết hợp chặt chẽ
với việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Ví dụ: theo quy định thì người bị
thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao
đất mới có cùng mục đích sử dụng, nhưng giá trị của đất đai không giống như
các loại hàng hoá thông thường khác, vì vậy, nhiều mảnh đất có cùng mục
đích sử dụng nhưng không có cùng giá trị, khiến người dân khó chấp nhận.
Trường hợp của ông N được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời
điểm có quyết định thu hồi do Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố, nhưng thấp hơn
rất nhiều so với giá trị quyền sử dụng đất có tính chất tương tự được giao dịch
dân sự trên địa bàn, khiến cho ông N không đồng ý. Để phát triển kinh tế và
đảm bảo nhà ở cho người dân, chính quyền địa phương tỉnh Bắc Ninh đã
quyết định thu hồi đất của gia đình ông N để thực hiện dự án khu đô thị P.M
6


nhưng không tính đến sự phù hợp giữa giá trị quyền sử dụng đất (giá đất) trả
cho ông N, các chi phí đầu tư vào đất thực tế. Điều này cũng bắt nguồn từ quy
định về khung giá các loại đất tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16
tháng 11 năm 2004 xác định khung giá tối thiểu và tối đa quá rộng và kể cả
mức tối đa cũng đã không còn phù hợp với thực tế tại nhiều địa phương, trong
đó có địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Từ các nguyên nhân khách quan chủ yếu trên đã khiến cho công tác thu
hồi và bồi thường đất đai hiện nay trở nên phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ
ảnh hưởng đến tính bền vững cho sự phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội
tại địa phương, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
b) Nguyên nhân chủ quan
Một trong những nguyên nhân chủ quan cơ bản nhất dẫn đến sự phức
tạp trong việc thu hồi và bồi thường giá trị quyền sử dụng đất của gia đình ông
N nói riêng và nhiều người dân bị thu hồi đất nói chung là sự thiếu đồng thuận
của người dân về phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư của
chính quyền địa phương. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền
trong xác định giá đất để tính bồi thường, giá tính hỗ trợ phù hợp với địa
phương trên cơ sở quy định về khung giá các loại đất tại Nghị địnhsố
188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá
đất và khung giá các loại đất. Tuy nhiên, việc xác định giá đất, giá tính hỗ trợ
phải trên cơ sở phương pháp so sánh, phương pháp thu nhập mà UBND tỉnh
Bắc Ninh đã không dựa trên cơ sở đó để xác định. Sự phát triển kinh tế của địa
phương không chỉ ưu tiên cho các công ty lớn (công ty kinh doanh bất động
sản P.M) mà còn phải tính đến quyền lợi của nhân dân. Mất đất kéo theo việc
mất nguồn thu nhập ổn định mà ông N và nhiều người dân đã tạo lập trong
nhiều năm, mất đi phương tiện để nuôi sống bản thân và gia đình trong khi
việc chuyển đổi nghề nghiệp hay gây dựng lại “cơ nghiệp” không thể “một
sớm, một chiều”.
Sự thiếu quan tâm đến lợi ích của người dân trong đó có gia đình ông N
của chính quyền địa phương tỉnh Bắc Ninh thể hiện quan điểm đặt lợi ích của
thiểu số lên trên lợi ích của đa số, khiến người dân bị thu hồi đất bất mãn,
không ủng hộ kế hoạch và phương án bồi thường, hỗ trợ của chính quyền.
Điều này bắt nguồn từ sự thiếu trách nhiệm với dân của lãnh đạo và cán bộ
Ban đền bù giải toả huyện Yên Phong, lãnh đạo UBND huyện Yên Phong và
7


UBND tỉnh Bắc Ninh, bởi số tiền bồi thường, hỗ trợ cho gia đình ông N do
Công ty P.M chi trả trước, sau đó được trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê
đất phải nộp theo quy định tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP. Khi xây dựng
khung giá đất ở địa phương và quy hoạch đất đai để xây dựng khu đô thị P.M
đã không thực hiện cơ chế dân chủ lấy ý kiến nhân dân.
Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết của gia đình ông N và nhiều hộ dân ấp
P.T trong việc phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở địa
phương để thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của
mình, thể hiện tiếng nói một cách kịp thời, cùng với chính quyền quyết định
vấn đề đất đai trên phạm vi địa phương và của chính mình.
4. Phân tích diễn biến tình huống
Việc chính quyền địa phương quy hoạch đất của gia đình ông N và
nhiều hộ dân xã Tam Đa để xây dựng khu đô thị P.M là hoàn toàn phù hợp với
chủ trương của Nhà nước trong việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát
triển kinh tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật đất đai năm 2003. Chính
quyền cũng đã thực hiện đúng quy định về thời hạn thông báo cho người bị
thu hồi đất biết lý do thu hồi, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng
mặt bằng và tái định cư trước khi thu hồi đất theo quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, việc xác định giá đất để bồi thường mặc dù nằm trong khung giá đất do
Chính phủ quy định nhưng không phù hợp với thực tế địa phương chứng tỏ
UBND tỉnh đã không thực hiện phương pháp so sánh trong xác định giá đất
(đất ở, đất vườn) và phương pháp thu nhập trong xác định giá bồi thường hoa
lợi trên đất của gia đình ông N. Theo quy định khung giá đất trồng cây hàng
năm trên địa bàn xã đồng bằng như xã Tam Đa có khung giá do Chính phủ xác
định: mức tối thiểu là 4000 đồng/m2 và mức tối đa là 90.000 đồng/m2. Như
vậy, UBND tỉnh Bắc Ninh không chỉ xác định giá bồi thường thấp trong
khung do Chính phủ quy định (vốn đã lạc hậu so với thực tế).
Để thu hồi đất của gia đình ông N, UBND huyện Yên Phong đã không
ban hành quyết định hành chính mà chỉ thông báo cho ông N về lý do thu hồi,
phương án bồi thường là không đúng. Quyết định hành chính về thu hồi đất
phải được ban hành bằng văn bản và chuyển cho ông N trước, trong đó có nội
dung về lý do thu hồi và phương án bồi thường.
Bên cạnh đó, khi ông N khiếu nại theo đúng thời hiệu thì đã không được
UBND huyện Yên Phong giải quyết theo quy định tại Điều 138 Luật đất đai
8


2003; Điều 162, 163, 164 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10
năm 2004 về thi hành Luật đất đai và các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo
hiện hành trước khi tiến hành cưỡng chế. Mặt khác, việc khiếu nại và cưỡng
chế đều có sự đồng ý của UBND tỉnh. Những việc làm này hoàn toàn không
đúng với các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại quyết định thu hồi đất
(phần liên quan đến giá bồi thường, mức hỗ trợ) và cưỡng chế thi hành quyết
định thu hồi đất do pháp luật quy định. Điều đó càng gây nên tâm lý bức xúc
của ông N, dẫn đến mất niềm tin vào chính quyền các cấp. Lợi ích của ông và
gia đình không được đảm bảo sẽ ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình, tiềm ẩn
nhiều nguy cơ gây mất trật tự xã hội tại địa phương khi gia đình không còn
nguồn sinh sống, không công ăn việc làm.
IV. PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Xây dựng phương án
Để giải quyết tình huống trên, tiểu luận đề xuất hai phương án sau:
Phương án 1: Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường
và hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm
mới.
Phương án 2: Xác định giá bồi thường và mức hỗ trợ theo hướng có lợi
nhất theo quy định của pháp luật.
2. Đánh giá ưu, nhược điểm của phương án
Nội dung
Ưu điểm
Nhược điểm
Phương án 1 Đạt được sự đồng - Không đảm bảo được sự kết hợp
thuận từ phía người dân hài hoà giữa lợi ích của chính
bị thu hồi đất. Thể hiện quyền địa phương với nhân dân và
sự quan tâm của chính công ty P.M, thậm chí, không nhận
quyền với lợi ích của được sự đồng thuận từ phía Công
nhân dân địa phương.
ty P.M, bởi Công ty này sẽ phải
ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư và kinh phí tổ chức
thực hiện bồi thường, giải phóng
mặt bằng theo phương án đã được
xét duyệt (sau này được ngân sách
nhà nước hoàn trả bằng hình thức
trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê
9


Phương án 2

Đảm bảo được sự hài
hoà giữa lợi ích của
người dân, của chính
quyền địa phương và
của Công ty P.M, giải
quyết tốt mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế
và ổn định an ninh, trật
tự tại địa phương. Đồng
thời phù hợp với các
quy định pháp luật hiện
hành.

đất phải nộp). Đây là một khoản
kinh phí lớn và có ảnh hưởng
không nhỏ đến kinh phí thực hiện
dự án. Như vậy, dự án phát triển
kinh tế có thể sẽ không thực hiện
được do điều kiện đầu tư không
thuận lợi, kinh phí ban đầu quá
cao. Trong trường hợp kinh phí chi
trả bồi thường, hỗ trợ quá lớn thì
nguồn thu vào ngân sách nhà nước
cũng sẽ không còn.
- Không phù hợp với các quy định
pháp luật hiện hành về bồi thường,
hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất.
Các quy định pháp luật hiện hành
về bồi thường giá trị quyền sử
dụng đất và hỗ trợ bằng tiền để ổn
định đời sống, đào tạo chuyển đổi
ngành nghề, bố trí việc làm mới
hiện nay chưa phù hợp với thực tế,
thiếu cơ chế hữu hiệu để thực hiện.

V. LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN TỐI ƯU
Từ sự phân tích các ưu, nhược điểm của hai phương án trên, phương án
thứ hai tối ưu hơn cả, bởi nó giúp đạt được các mục tiêu là đảm bảo được tính
khả thi của dự án và đạt được đồng thuận từ phía người dân, công ty P.M trong
việc bồi thường, hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất.

10


Để thực hiện phương án này, chính quyền địa phương cần thực hiện
đúng các thủ tục pháp lý về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ người bị thu hồi
đất theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:
Bước 1: UBND tỉnh phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư huyện Yên Phong, Sở Tài chính để thẩm định lại phương án bồi
thường, hỗ trợ cho những người bị thu hồi đất ở xã Tam Đa, trong đó có gia
đình ông N trong thời gian tối đa là 15 ngày làm việc.
Bước 2. UBND huyện Yên Phong giải quyết khiếu nại của ông N và các
hộ dân về bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Điều 138 Luật đất đai;Điều 63
và Điều 64 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP; các quy định pháp luật hiện hành về
khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, giải thích rõ cho ông N theo quy định tại khoản 2
Điều 40 Nghị định số 169/2009/NĐ-CP thì trong khi chưa có quyết định giải
quyết khiếu nại, ông N vẫn phải tiếp tục thực hiện quyết định thu hồi đất. Sau
này, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có kết luận việc
thu hồi đất là trái pháp luật thì sẽ dừng thực hiện quyết định thu hồi
đất; UBND huyện Yên Phong sẽ ban hành quyết định hủy bỏ quyết định thu
hồi đất đã ban hành và bồi thường thiệt hại do quyết định thu hồi đất gây ra
(nếu có). Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có
kết luận việc thu hồi đất là đúng pháp luật thì ông N phải chấp hành quyết
định thu hồi đất.
Bước 3.UBND tỉnh phân cấp cho UBND huyện Yên Phong thông qua
Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện để thuyết phục các bên:
người dân và Công ty P.M chấp nhận một phương án bồi thường, hỗ trợ theo
hướng kết hợp hài hoà lợi ích của các bên, cụ thể như:
- Bồi thường theo hướng tăng thêm không quá 20% so với mức giá tối
đa của khung giá đất cùng loại (Phù hợp với quy định tại Điều 5 Nghị định
của Chính phủ số 188/2004/NĐ-CP).
- Tiến hành hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất cho gia đình
ông N theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP. Cụ thể là hỗ
trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng (vì không phải di chuyển chỗ ở).
Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu của gia đình ông N được tính bằng tiền tương
đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ
của địa phương.

11


Bước 4. UBND huyện Yên Phong phân cấp cho UBND xã Tam Đa phối
hợp với các tổ chức chính trị-xã hội, đoàn thể trên địa bàn tổ chức, tuyên
truyền, vận động về chính sách bồi thường, hỗ trợ, thực hiện giải phóng mặt
bằng theo đúng quyết định thu hồi đất. Đồng thời, chỉ đạo Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư lập và tổ chức thực hiện phương án bồi thường,
hỗ trợ đã được phê duyệt (UBND huyện Yên Phong phê duyệt theo phân cấp
của UBND tỉnh hoặc trình UBND tỉnh phê duyệt).
Bước 5. UBND huyện Yên Phong nhanh chóng chi trả tiền bồi thường,
hỗ trợ để gia đình ông N và các hộ dân khác ổn định cuộc sống. Đồng thời,
phối hợp với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn để hỗ trợ tạo
nghề và việc làm cho người dân.

12


KẾT LUẬN
Thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất là vấn đề
phức tạp không chỉ của tỉnh Bắc Ninh mà còn của nhiều địa phương khác trên
phạm vi cả nước. Phần lớn các dự án, chương trình phát triển kinh tế cần thu
hồi đất của người dân để thực hiện thành công thì đều cần đến sự đồng tình,
ủng hộ từ phía nhân dân, đặc biệt là những người bị thu hồi đất. Muốn vậy,
chính quyền các địa phương phải thực sự quan tâm đến lợi ích của người dân
bị thu hồi đất, thể hiện ở việc bồi thường thoả đáng và hỗ trợ cho họ ổn định
đời sống, tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ thông tin để họ tự tạo
công ăn việc làm cho mình. Không nên vì lợi ích của thiểu số mà ảnh hưởng
đến lợi ích chung của cộng đồng dân cư hoặc vì lợi ích kinh tế trước mắt mà
quên đi những tác động xấu về mặt xã hội như trực tiếp làm cho một bộ phận
người nông dân mất đất sản xuất, thất nghiệp, thu hẹp diện tích đất canh tác...,
đồng thời tiềm ẩn các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn
trong xã hội, đặc biệt là sự mất niềm tin vào chính quyền của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân.

13


KIẾN NGHỊ
Để thực hiện phương án tối ưu nêu trên, tiểu luận kiến nghị một số biện
pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với Trung ương: Chính phủ cần nhanh chóng nhất thể hoá
các quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
trong một văn bản pháp lý, tránh để lĩnh vực này được quy định rải rác trong
nhiều văn bản như hiện nay, rất khó khăn cho quá trình tổ chức thực hiện.
Đồng thời, sửa đổi khung giá các loại đất cho phù hợp với tình hình thực tế.
Thứ hai, đối với địa phương:
- UBND tỉnh Bắc Ninh cần nắm bắt chính xác thông tin về giá trị quyền
sử dụng đất nông nghiệp được chuyển nhượng trên thực tế để xác định khung
giá đất trên địa bàn cho phù hợp, làm cơ sở để tính giá đất bồi thường trong
trường hợp phải thu hồi đất của cá nhân để phát triển kinh tế. Khi phê duyệt
các phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cần nắm bắt tâm tư, nguyện
vọng của người dân để kịp thời thực hiện các biện pháp động viên, giải thích,
tuyên truyền. Với các phương án phân cấp cho UBND huyện Yên Phong phê
duyệt và thực hiện thì cần theo dõi, kiểm tra để kịp thời chỉ đạo điều chỉnh cho
phù hợp. Trường hợp nảy sinh khiếu nại, tố cáo thì cần chỉ đạo cấp dưới giải
quyết nhanh chóng, triệt để, tránh gây bức xúc cho nhân dân.
- UBND huyện Yên Phong cần tích cực, chủ động tham mưu cho cấp
trên trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xây dựng phương án
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất của người dân một cách hợp lý,
đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của người bị thu hồi đất với việc thực hiện có
hiệu quả các dự án, chương trình phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, an
ninh trên phạm vi địa phương. Tăng cường mối quan hệ với chính quyền các
xã để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, đặc biệt là giải
quyết thoả đáng theo đúng quy định pháp luật các khiếu nại, tố cáo của người
dân khi phải thực hiện quyết định thu hồi đất.
- UBND xã Tam Đa cần phát huy vai trò là cấp chính quyền cơ sở gần
dân nhất, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân bị thu hồi đất để kịp
thời phản ánh với cấp trên. Phát huy vai trò trong kiến nghị, đề xuất cấp trên
xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phù hợp với đặc thù cuộc
sống và sản xuất của các hộ dân bị thu hồi đất.

14


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

3

1. Lý do chọn đề tài

4

2. Mục tiêu đề tài

4

3. Phương pháp nghiên cứu

4

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4

5. Bố cục tiểu luận

4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

5

I. Mô tả tình huống

5

II. Mục tiêu cần đạt được khi giải quyết tình huống

6

III. Phân tích xử lý tình huống

6

1. Mục tiêu của tình huống

6

2. Cơ sở lý luận

7

3. Nguyên nhân dẫn đến tình huống

7

4. Phân tích diễn biến tình huống

10

IV. Phương án giải quyết tình huống

11

1. Xây dựng phương án

11

2. Đánh giá ưu, nhược điểm của phương án

12

V. Lựa chọn phương án tối ưu

12

KẾT LUẬN

15

KIẾN NGHỊ

16

PHỤ LỤC

17

TÀI LIỆU THAM KHẢO

18

TÀI LIỆU THAM KHẢO
15


1.

2.

3.

4.

5.
6.

7.

8.
9.

Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư liên tịch số
14/2008/TTLT-BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 hướng dẫn thực
hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007
của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15
tháng 6 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình
tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai;
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13
tháng 4 năm 2005 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật
đất đai;
Bộ Tài chính, Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004
về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm
2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Chính phủ, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về
thi hành Luật đất đai;
Chính phủ, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của
Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất,
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
Chính phủ, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy
định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất,
thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
Chính phủ, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Chính phủ, Đính chính số 181/ĐC-CP ngày 23 tháng 10 năm 2009 đính
chính Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ
quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư;
16


10. Chính phủ, Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
11. Chính phủ, Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
12. Chính phủ, Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 về sửa
đổi, bổ sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và
Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty
cổ phần;
13. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật số 13/2003/QH11
ngày 26 tháng 11 năm 2003 về đất đai;

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×