Tải bản đầy đủ

TIEU LUAN CV xử lý tình huống trong giao dịch nhà đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phường vân dương, thành phố bắc ninh năm 2018

MỞ ĐẦU
1. Nhận thức chung:
Qua thời gian học tập, được bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà nước
chương trình Chuyên viên, được các Thầy, Cô của trường Chính trị Nguyễn
Văn Cừ truyền đạt những kiến thức và kỹ năng về quản lý hành chính Nhà
nước đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho cán bộ, công
chức trong việc thực thi nhiệm vụ, giúp cho học viên nhận thức được nhiều
vấn đề về lý luận và thực tiễn trong công tác Quản lý Nhà nước, hiểu rõ
hơn các khái niệm về hành chính và quản lý hành chính, các công cụ và
phương thức thực thi các biện pháp hành chính thông qua việc áp dụng và
thực thi quyết định quản lý hành chính, cụ thể:
Quản lý Nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước do các
cơ quan quản lý Nhà nước tiến hành đối với tất cả cá nhân và tổ chức trong
xã hội, trên các mặt đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực của Nhà
nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung
của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát
triển theo một định hướng thống nhất của Nhà nước.
Hành chính được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành trong
công việc quản lý một hệ thống theo những quy định trước nhằm giúp cho
hệ thống đó hoàn thành mục tiêu của mình. Hành chính nhà nước (HCNN)
là “ sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với

quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ
thống hành pháp từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thự hiện những chức
năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Ở nước ta, hoạt động HCNN phải nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, nhằm hiện thực hóa chủ trương, chính sách, đường lối
1


của Đảng trong mỗi giai đoạn nhất định. HCNN có vai trò đặc biệt quan
trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Thông qua hoạt
động hành chính nhà nước, các quy phạm pháp luật đó vào đời sống xã hội,
điều chỉnh, duy trì trật tự của xã hội theo định hướng của nhà nước mong
muốn. Do vậy, cải cách hành chính là một hoạt động quan trọng và thường
xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý nhà nước. Cải cách hành chính ở
nước ta hiện nay diễn ra trong khuôn khổ cải cách nhà nước theo hướng xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là tiền đề quan trọng để thực
hiện thành công quá trình đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để thực hiện pháp lý, trong quá trình quản lý, Nhà nước sử
dụng kết hợp các công cụ trong đó công cụ pháp luật là một trong những
công cụ quản lý rất quan trọng. Pháp luật giữ vai trò điều chỉnh, hoàn thiện
hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước. Các quy phạm pháp luật quy
định địa vị pháp lý của các cơ quan HCNN gồm: Bộ, cơ quan ngang bộ;
UBND các cấp. Xác định những nguyên tắc cơ bản của quản lý HCNN và
các vấn đề khác có liên quan tới quản lý HCNN. Thông qua đó, pháp luật
bảo đảm việc củng cố, hoàn thiện bộ máy HCNN và không ngừng nâng cao
hiệu quả hoạt động quản lý HCNN.
Để cụ thể hóa pháp luật và đưa pháp luật vào đời sống và trong hoạt
động quản lý hành chính Nhà nước thì việc thực hiện và áp dụng pháp luật
là điều kiện quan trọng trong việc xây dựng, sửa đổi pháp luật cho phù hợp
với thực tiễn quản lý và đáp ứng các yêu cầu của mỗi thời kì, giai đoạn của
đất nước.
Thực hiện pháp luật trong HCNN là quá trình các tổ chức, cá nhân và
chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế, mà pháp luật quy
định, trên cơ sở nhận thức của mình, chuyển hóa các quy tắc xử sự mà nhà
nước đã quy định vào tính huống cụ thể thông qua hành vi thực tế mang
2


tính hợp pháp của mình được giao hoặc được phân công chịu trách nhiệm.
Yêu cầu đối với việc thực hiện và áp dụng trong pháp luật trong quản
lý HCNN phải đáp ứng việc áp dụng pháp luật đúng nội dung, mục đích
của quy pham pháp luật được áp dụng và thực hiện bởi các chủ thể có thẩm
quyền, theo thủ tục do pháp luật quy định. Đồng thời, việc áp dụng pháp
luật phải thực hiện trong thời hạn, thời hiệu, được trả lời công khai, chính
thức cho các đối tượng có liên quan qua hình thức văn bản và được các đối
tượng có liên quan tôn trọng, đảm bảo thực hiện khả thi trên thực tế.
Để truyền tải thông tin quản lý đến đối tượng quản lý Nhà nước sử
dụng các quyết định hành chính. Quyết định hành chính nhà nước là văn
bản do cơ quan HCNN, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền
trong các cơ quan, tổ chức ban hành, chứa đựng quy phạm pháp luật là các
quy tắc xử sự chung cho cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc quyết định về một
vấn đề cụ thể được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ
thể trong hoạt động quản lý HCNN.
Vậy Nhà nước quản lý sử dụng nguồn lực và thực thi các chính sách
của mình như thế nào, dưới đây là một số kiến thức chung về quản lý hành
chính nhà nước theo một phương diện về sự kết hợp quản lý Nhà nước theo
ngành và lãnh thổ, quản lý nhà nước về cung cấp dịch vụ công và việc sử
dụng các nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực trong việc triển khai các biện
pháp, giải pháp trong quản lý nhà nước thông qua áp dụng công nghệ thông
tin hiện đại của chính phủ điện tử với sự chuyên nghiệp, minh bạch và luôn
xây dựng và hoàn thiện văn hóa công sở, tạo lập các chuẩn mực trong tư
duy và hành động thực tiễn của nguồn lực con người trong quản lý hành
chính nhà nước.
Kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ được hiểu là sự
kết nối, hợp lực giữa những cơ quan quản lý Nhà nước khác nhau về chức
3


năng, nhiệm vụ cơ bản. Sự kết hợp giữa các cơ quan trong quản lý Nhà
nước thể hiện sự thống nhất về quan điểm phát triển, sự cộng tác giữa các
cơ quan quản lý để bù đắp, bổ sung cho nhau những hạn chế hay điểm
mạnh của nhau.
Để thực hiện các biện pháp, giải pháp trong quản lý thì các cơ quan
quản lý hành chính Nhà nước sử dụng chính sách công nhằm định hướng
hành động do Nhà nước lựa chọn để quải quyết những vấn đề phát sinh
trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kì
nhằm giữ cho xã hội phải triển theo định hướng.
Vậy để chính sách công của Nhà nước đạt được hiệu quả như mong
muốn thì nhân tố nguồn nhân lực là một nhân tố rất quan trọng, đây là lực
lượng giúp gia tăng khả năng thích ứng của nền hành chính nhà nước trước
các biến động do môi trường mang lại và đóng vai trò là nhân tố chủ yếu
trong quá trình cải cách hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ công và
quá trình hội nhập quốc tế.
Để đảm bảo hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, vấn đề chất
lượng của lực lượng cán bộ, công chức, viên chức là yếu tố then chốt, trong
đó kỹ năng công tác của cán bộ, công chức, viên chức là vô cùng quan
trọng và cần thiết. Một số kỹ năng cơ bản cần phải có như: Kỹ năng lập kế
hoạch trong tổ chức; kỹ năng tổ chức và điều hành hội họp; kỹ năng phân
tích công việc; kỹ năng phân công và phối hợp trong hoạt động công vụ; kỹ
năng thuyết trình; kỹ năng đánh giá thực thi công vụ; kỹ năng xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật.
Với những kiến thức được các Thầy, Cô của trường Chính trị
Nguyễn Văn Cừ truyền đạt, trên cương vị công tác, bản thân Em sẽ thực
hiện tốt hơn công tác tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương trong
quản lý hành chính Nhà nước đối với chức năng, nhiệm vụ được giao.
4


2. Lý do chọn tình huống:
Bắc Ninh là tỉnh đồng bằng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ, những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, Bắc
Ninh đang tiến nhanh trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Các
khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, khu đô thị mới... được hình
thành và phát triển mạnh. Cùng với sự phát triển trên, vấn đề đất đai nhà ở
ngày càng trở nên bức xúc cụ thể là giá nhà đất tăng lên chóng mặt. Trước
kia, những mảnh đất chỉ có giá vài triệu đồng mà chẳng ai có nhu cầu mua
nên người ta sẵn sàng cho nhau hàng thước đất mà không hề tính toán và
thủ tục mua bán cũng thật là đơn giản, người ta chỉ cần tờ giấy viết tay có
một vài người làm chứng thế nghĩa là hợp lý và chẳng ai nghĩ rằng phải
làm thủ tục chuyển đổi gì. Thì nay, giá nhà đất đã tăng lên gấp hàng chục
lần, mảnh đất bỗng trở nên có giá trị to lớn. Chính vì thế nhiều gia đình
anh, em tranh giành nhau từng mét đất, họ hàng, xóm giềng cũng chỉ vì
từng mét vuông đất mà trở thành kẻ thù của nhau. Những thủ tục mua bán
đơn giản trước kia tưởng thế là xong thì nay người ta tìm mọi kẽ hở để đòi
lại nhà, đòi lại đất.
Ở một số địa phương do công tác hoà giải triển khai chưa tốt, chưa
thấu tình, đạt lý nên đã sảy ra nhiều vụ tranh chấp đất đai trong nhân dân
không giải quyết được, dẫn đến tình trạng đơn thư khiếu nại nhiều gửi đến
các cấp chính quyền yêu cầu được giải quyết.
Trước thực trạng đó, với những kiến thức và kỹ năng về quản lý
hành chính Nhà nước được truyền đạt Em nhận thức được rằng muốn đạt
được hiệu quả cao trong công tác quản lý, cần phải nhạy bén, nắm chắc các
văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản dưới Luật, vận dụng sáng tạo,
kết hợp linh hoạt với thực tiễn cuộc sống để giải quyết các vấn đề lên quan

5


đến nhiệm vụ được giao làm sao cho có tình, có lý và phù hợp với quy định
pháp luật của Nhà nước hiện hành...
Từ tình hình thực tế trên cùng với sự vận dụng những kiến thức đã
tiếp thu được từ các Thầy, Cô, em đã lựa chọn tình huống: “Xử lý tình
huống trong giao dịch nhà đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh năm 2018” để
thực hiện tiểu luận cho chương trình “Bồi dưỡng kiến thức Quản lý Nhà
nước chương trình chuyên viên” của mình với mục tiêu vận dụng những
kiến thức về quản lý Nhà nước đã được học áp dụng vào thực tiễn trong
việc thực thi chức trách nhiệm vụ được giao để đáp ứng quyền và lợi ích
chính đáng của nhân dân và doanh nghiệp đảm bảo đúng các quy định của
pháp luật.
3. Mục đích nghiên cứu:
Thực tiễn cho thấy trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước,
việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo của công dân đúng
cấp, đúng thẩm quyền và kịp thời không những đảm bảo được lợi ích của
Nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân mà còn góp phần ổn định an
ninh - trật tự xã hội. Qua đó, góp phần vào việc ngăn chặn và bài trừ tệ nạn
tham nhũng, lãng phí của công và các tệ nạn xã hội khác, xây dựng được
khối đại đoàn kết trong nhân dân, tạo được niềm tin của nhân dân đối với
hệ thống bộ máy hành chính Nhà nước, xây dựng được khối đại đoàn kết
dân tộc. Mặt khác, thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời sẽ
giảm bớt tình trạng khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp. Đồng thời, nhiều cấp,
nhiều ngành kịp thời chấn chỉnh, uấn nắn những sai sót, lệch lạc, những
yếu kém trong công tác quản lý hành chính, kiến nghị với cấp có thẩm
quyền bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách, pháp luật sát với thực tiễn cuộc
sống, xử lý nghiêm minh những người sai phạm hoặc tránh né trách nhiệm,

6


đồng thời đề xuất, kiến nghị với cấp có thẩm quyền bổ sung, sửa đổi chế độ
chính sách, pháp luật sát với thực tiễn cuộc sống.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của Tiểu luận là việc mua bán nhà đất chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn A và bà
Ngô Thị B.
4.2.Phạm vi nghiên cứu:
Tiểu luận tình huống được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu sau:
- Việc tranh chấp nhà đất giữa ông Trần Văn A và bà Ngô Thị B
trong năm 2018;
- Những quy định pháp luật về đất đai đến năm 2018.
5. Kết cấu của Tiểu luận:
Ngoài phẩn Mở đầu và Kết luận, Tiểu luận gồm 3 phần:
- Mô tả tình huống;
- Phân tích tình huống và giải quyết tình huống
- Kiến nghị, đề xuất và kết luận.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
1.1. Hoàn cảnh xảy ra tình huống:
Ông Bình và Bà Ngọc nghề nghiệp làm ruộng, địa chỉ tại thôn M,
phường Vân Dương thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh có sử dụng căn
7


nhà cấp bốn và mảnh vườn nhỏ với tổng diện tích là 180m 2 từ năm 1975,
năm 1985 hai ông bà cùng qua đời có để lại di chúc (hợp pháp) cho vợ
chồng người con trai cả là ông A và chị Hà toàn quyền sử dụng căn nhà và
thửa đất ấy. Tuy nhiên vào tháng 2 năm 1991 do công việc được cơ quan
điều động đi Hà Nội làm việc và được phân nhà tại Thành phố Hà Nội nên
ông A đã chuyển cả gia đình lên đó. Vì vậy, ông đã bán căn nhà và thửa đất
ấy cho người em họ là bà B với giá là 41 triệu đồng. Việc mua bán nhà
không được lập thành hợp đồng mua bán nhà mà được thể hiện là giấy biên
nhận viết tay với nội dung: “ Hôm nay ngày 22 tháng 2 năm 1991, tại ngôi
nhà của tôi là Trần Văn A và vợ là Hà tại thôn M, phường Vân Dương,
Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng tôi có nhận tiền của bà
Ngô Thị B là 41 triệu đồng” và có ký nhận của hai bên mà không nêu nội
dung, mục đích trong giấy biên nhận tiền ấy là gì. Việc nhận tiền đó có hai
người làm chứng là ông Hoàng Văn Hải (Là người hàng xóm) và bà Ngô
Thị Nhung (Là em của bà B).
1.2. Diễn biến của tình huống:
Từ năm 1992 đến nay, gia đình bà B đã xây nhà kiên cố 3 tầng trên
ngôi nhà cũ và hàng năm bà B vẫn đóng thuế nhà đất đầy đủ. Ông A biết
điều này nhưng không có phản ứng gì. Hàng năm ông A vẫn về thăm quê
và mỗi lần về quê ông đều ghé vào nhà bà B chơi. Tháng 01 năm 2018, bà
B làm thủ tục gửi Uỷ ban nhân dân (UBND) phường Vân Dương để được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã bị ông A phản đối và phát
đơn khởi kiện đòi lại đất với lý do: “Ngôi nhà và thửa đất bà B đang sử dụng
là của ông cho mượn để ở chứ không phải đã bán cho bà. Còn giấy biên
nhận tiền kia là do vợ chồng ông vay của bà B chứ không phải là tiền bán
nhà”. UBND phường Vân Dương đã tiến hành hoà giải và kết luận: “Ngôi
nhà và thửa đất đó vẫn thuộc quyền sở hữu của ông A”. Không đồng ý với

8


UBND phường Vân Dương, bà B đã khiếu nại lên UBND Thành phố Bắc
Ninh. Trong quá trình giải quyết UBND Thành phố Bắc Ninh đã ban hành
Quyết định công nhận quyền sở hữu căn nhà và thửa đất đó thuộc về bà B.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1. Mục tiêu phân tích tình huống:
Phân tích tình huống nhằm hiểu được nguyên nhân khách quan và
chủ quan xảy ra vụ việc. Từ đó, có thể đưa ra các phương án giải quyết tình
huống. Cụ thể, Tiểu luận phải giải quyết được các câu hỏi:
- Đối tượng cần giải quyết?
- Cấp nào, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ khởi kiện trên
đúng theo quy định của pháp luật?
- Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vụ kiện được xác định
như thế nào?
- Đảm bảo quyền, lợi ích của các bên tham gia tranh chấp.
- Làm thế nào để giải quyết nhanh, có hiệu quả cao đối với các vụ
việc hành chính trong bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, mang lại sự
hài lòng cho người dân.
2.2. Cơ sở lý luận
Để phân tích và xử lý được tình huống, chúng ta cần nắm rõ cơ sở lý
luận của Tiểu luận này. Tính đến thời điểm năm 2017, các quy định pháp
luật để giải quyết tình huống này bao gồm:
- Luật đất đai số 45/2013/QH13;

9


- Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi thiết thi hành một số điều
của Luật đất đai 2014.
- Thông tư 02/2015/TT-BTNMT quy định chi tiết một số điều Nghị
định 43/2014/NĐ-CP và 44/2014/NĐ-CP.
- Thông tư 23/2014/TT-BTNMT quy định về giấy chứng nhận Quyền
sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH ngày 20/8/1998 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc Hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày
01 tháng 7 năm 1991;
2.3. Phân tích tình huống.
2.3.1. Nguyên nhân xảy ra tình huống:
Do quá trình đô thị hoá phát triển các khu đô thị mới, khu công
nghiệp, làng nghề ngày một nhiều đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại quỹ đất,
theo đó nhu cầu về nhà ở, đất ở ngày một cao, giá trị nhà đất ở các khu
công nghiệp ngày một tăng lên dẫn đến phát sinh tranh chấp, khiếu nại đòi
lại đất ngày một gia tăng.
Thủ tục hành chính rườm rà, khó hiểu. Việc tuyên truyền pháp luật ở
cơ sở chưa tốt, dẫn đến người dân chưa hiểu hết trách nhiệm, nghĩa vụ và
quyền lợi của mình.
Bộ máy chính quyền cấp phường, xã bấy lâu nay chưa được quan
tâm đúng mức, thậm chí có thể nói là bị xem thường. Khi tuyển dụng cán
bộ, công chức cấp xã không chú trọng về việc đề ra chuẩn mực trình độ văn
hoá, trình độ chuyên môn nhất định (chủ yếu tuyển dụng bằng “lòng nhiệt
huyết” ). Vì thế, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vừa thiếu, vừa yếu.

10


Cán bộ, công chức là người thực thi chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trong thực tế công tác không phải tất cả cán
bộ, công chức đều hiểu và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước một cách đúng đắn, phù hợp với từng thời điểm phát
sinh sự việc. Trong tình huống này hoặc do thiếu hiểu biết về pháp luật,
hoặc do được hưởng lợi từ việc giải quyết cho ông A đã làm cho vụ việc
thêm phức tạp, giải quyết không thấu tình đạt lý. Đó là một trong những
nguyên nhân của tình trạng khiếu kiện không đáng có.
Người dân do lòng tham, coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà
nước đã lợi dụng sơ hở của hợp đồng kiện sai nhưng không được giải thích
ngay từ cơ sở, cán bộ quản lý hành chính Nhà nước không nắm chắc các
quy định của pháp luật và do tệ nạn tham nhũng coi thường người dân nên
đã giải quyết áp đặt, sai quy định của pháp luật. Do đó dẫn đến việc kết
luận sai.
2.3.2. Hậu quả:
Trước tiên phải xác định nội dung của vụ kiện giữa ông A và bà B là
tranh chấp nhà đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do hình
thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật. Thực tế là
kiện đòi lại quyền sử dụng đất đã bán của ông A.
Theo quy định của Luật đất đai số 45/2013/QH13 năm 2013 quy định:
Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải
hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì
gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

11


3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa
giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực
hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ
chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải
tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn
không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh
chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên
và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân
dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về
ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa
giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp
đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở
Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường
trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh
giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà
không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một
trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về
tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
12


2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc
không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì
đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp
đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có
thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban
nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được
thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định
của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở
tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không
đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy
định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3
Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết
tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh
chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.
13


Đối chiếu với quy định nêu trên, nếu UBND phường Vân Dương đã
hoà giải rồi mà không thành thì UBND phường Vân Dương hướng dẫn các
đương sự gửi hồ sơ về UBND thành phố Bắc Ninh để được giải quyết.
UBND phường Vân Dương không được tự ý công nhận quyền sở hữu đất
của ông A, vì như đã nêu trên. Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất
đai chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của
cơ quan quản lý đất đai, cụ thể là UBND cấp Huyện.
Như tình huống đã đưa ra, UBND phường Vân Dương kết luận
quyền sở hữu nhà đất đó vẫn thuộc về ông A là không đúng với quy định
của pháp luật, dẫn đến tình trạng bà B không đồng ý với kết luận đó, bà B
đã khiếu nại lên cấp trên làm cho vụ việc thêm phức tạp, làm giảm lòng tin
của quần chúng với các cơ quan hành chính Nhà nước, dẫn đến tình trạng
khiếu kiện, khiếu nại kéo dài.
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống:
- Đảm bảo kỷ cương pháp luật, phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà
Hiến pháp đã nêu: Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân.
- Giảm tối đa các mức thiệt hại kinh tế (nếu có), bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, lợi ích chính đáng của Công dân.
- Giải quyết hài hoà giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích
kinh tế - xã hội và tính pháp lý.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được các mục tiêu trên, cần phải căn cứ vào cơ sở pháp luật,
phân tích được nguyên nhân và hậu quả của vụ việc, từ đó tìm ra giải pháp
đúng đắn để giải quyết vấn đề, đồng thời cũng qua đó đúc kết được kinh
14


nghiệm quý báu trong việc giải quyết vụ việc hành chính đối với cơ quan
quản lý hành chính Nhà nước sao cho hợp tình, hợp lý, đúng quy định của
pháp luật.
3.2. Xây dựng và lựa chọn phương án giải quyết:
Nhằm đảm bảo lợi ích công cộng, sự quản lý của Nhà nước, lợi ích
của các bên tham gia hợp đồng cũng như lợi ích của người khác, pháp luật
quy định hợp đồng liên quan đến tài sản lớn phải được thể hiện dưới một
dạng hình thức nhất định. Vậy theo quy định của pháp luật, giấy biên nhận
tiền như tình huống đặt ra không đúng với thể thức hợp đồng mua bán nhà
ở, bởi lẽ, luật dân sự năm 2015 đã quy định: “Hợp đồng mua bán nhà ở
phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác”.
Đối chiếu với tình huống đặt ra, có thể rút ra kết luận: Về mặt hình
thức, giấy biên nhận tiền trên không được xem là hợp đồng mua bán nhà vì
không thể hiện được nội dung của việc mua bán, không phù hợp với quy
định của pháp luật ( bởi nó không có các điều khoản bắt buộc của một hợp
đồng theo đúng quy đinh của pháp luật ) và cũng không được chứng thực
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Việc UBND phường Vân Dương công nhận quyền sở hữu nhà của
ông A là không thoả đáng và chưa đúng với một số quy định cụ thể:
+ Thứ nhất: Trên thực tế ông A đã bán ngôi nhà của mình cho bà B
và bà B đã ổn định trên ngôi nhà ấy từ năm 1991 đến năm 2004 mà không
có tranh chấp gì. Việc bà B xây nhà 3 tầng trên nền ngôi nhà cũ và quây
tường rào xung quanh ông A cũng biết nhưng không có phản ứng gì, điều
này chứng tỏ ông A đã có sự đồng thuận đối với việc sở hữu mảnh đất đó
của bà B.
15


+ Thứ hai: UBND phường Vân Dương đã viện dẫn lý do rằng về
mặt hình thức giấy biên nhận tiền ấy có thể được coi là hợp đồng mua bán
nhà đất không đúng quy định của pháp luật để làm cơ sở công nhận quyền
sở hữu nhà đất đối với ông A, vì về nguyên tắc chung, hợp đồng không
đúng quy định của pháp luật sẽ bị huỷ bỏ và hậu quả của nó là quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên sẽ trở về như lúc ban đầu.
Tuy nhiên, việc giải quyết đối với hình thức của hợp đồng không phù
hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng lại được
quy định tại Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH ngày 20/8/1998 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc Hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước
ngày 01 tháng 7 năm 1991 (gọi tắt là Nghị quyết 58) và tại thông tư liên
tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 của Toà án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (gọi tắt là thông tư 01)
hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết trên. Cụ thể như sau:
Điểm b, khoản 2, điều 5 (Nghị quyết 58) và điểm a, khoản 3, mục III của
thông tư liên tịch đã dẫn ở trên quy định: Nếu hình thức của hợp đồng
không phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng
thì được giải quyết (áp dụng tình huống đặt ra) “Nếu bên mua đã trả đủ
hoặc một phần tiền mua nhà mà bên bán chưa giao nhà hoặc bên bán đã
giao toàn bộ hoặc một phần nhà mà bên mua chưa trả đủ tiền, thì các bên
phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và phải làm thủ tục chuyển quyền sở
hữu. Nếu bên mua chưa trả đủ tiền, thì phải trả cho bên bán khoản tiền còn
thiếu tính theo giá trị nhà ở đó theo giá trị tại thời điểm thanh toán, bên
không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng mà có lỗi và gây thiệt hại thì phải
bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự”.
Đối chiếu vào tình huống đặt ra khi mà cả hai bên đã giao nhà và tiền
cho nhau đương nhiên ông A không còn quyền sở hữu với ngôi nhà đã bán

16


cho bà B nữa. UBND phường Vân Dương đã không biết hoặc không viện
dẫn đúng các quy định này nên đã giải quyết không đúng quy định của
pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai chưa có Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Với vụ việc này, do diện tích đất tranh
chấp không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế thì ông A
đã thừa nhận việc bà B có quyền sở hữu ngôi nhà và mảnh đất đó rồi.
Trong vụ việc này, khi nghiên cứu cơ sở pháp lý để giải quyết vụ việc, điều
quan trọng mà cán bộ địa chính cần quan tâm là vấn đề thẩm quyền giải
quyết tranh chấp đất đai theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thuộc
thẩm quyền của cơ quan quản lý đất đai, cụ thể là UBND Thành phố Bắc
Ninh. Tuy nhiên, UBND Phường D là cơ quan có trách nhiệm thực hiện
việc hoà giải tranh chấp trước khi UBND Thành phố thực hiện thẩm quyền
của mình. (Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết đối với tranh chấp đất đai
giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau, theo điều 203 của
Luật đất đai năm 2013).
Như đã phân tích ở trên, phương án giải quyết tình huống đã đặt ra
như sau:
3.2.1. Phương án 1. Giả thuyết:
Nếu mọi công dân đều được tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp
luật đến nơi, đến chốn thì sẽ không có khiếu kiện, khiếu nại xảy ra.
Tất cả cán bộ, công chức từ phường, xã đến thành phố đều làm việc
tập trung, có trách nhiệm cao, nắm vững quy định của pháp luật, quy trình
thực thi nhiệm vụ của cán bộ công chức... thì không có khiếu kiện, khiếu
nại xảy ra.
Thực hiện đúng kỷ cương, phép nước, thể hiện được tính nghiêm
minh của pháp luật và quyền lực của Nhà nước.
17


3.2.2. Phương án 2.
- Đối với UBND phường Vân Dương:
Nếu hoà giải không thành thì lập biên bản hoà giải không thành và
hướng dẫn các bên tranh chấp nộp đơn khởi kiện đến UBND Thành phố
Bắc Ninh giải quyết, chứ không nên kết luận ngôi nhà đó thuộc quyền sở
hữu của ông A.
Không nên vô hiệu do vi phạm về hình thức hợp đồng, vì hình thức
hợp đồng giao dịch được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991.
- Đối với UBND Thành phố Bắc Ninh:
UBND Phường Vân Dương đã giải quyết không đúng nên bị bà B
khiếu nại lên UBND Thành phố Bắc Ninh, UBND Thành phố Bắc Ninh đã
giải quyết thoả đáng với quy định của pháp luật là đã công nhận quyền sở
hữu hợp pháp của bà B đối với thửa đất mà ông A đã bán cho bà (như đã
phân tích ở trên). Để giải quyết dứt điểm trường hợp này, UBND Thành
phố Bắc Ninh nên hướng dẫn các đương sự làm thủ tục chuyển quyền sở
hữu nhà ở theo quy định của pháp luật cụ thể tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP
quy định chi thiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013.
3.3. Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã lựa chọn để xử lý
tình huống:
- Phương án 1. Giả thuyết không chọn.
- Phương án 2.
Đối với UBND Phường Vân Dương:

18


Trong quá trình hoà giải phải luôn luôn tôn trọng ý chí của mỗi bên
đương sự tham gia khiếu kiện nếu như các bên đương sự khởi kiện cùng
thống nhất ý kiến.
Trường hợp hoà giải không thành thì phải tuân thủ theo quy định của
pháp luật để đáp ứng ý chí của mỗi bên và lập biên bản hoà giải không
thành và hướng dẫn các bên đương sự gửi hồ sơ lên UBND Thành phố để
được giải quyết.
Quyết định hành chính của UBND Thành phố Bắc Ninh là đúng nên
áp dụng phương án này là hợp lý.
3.4 KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT VÀ KẾT LUẬN.
Qua phân tích tình huống có thể thấy rằng: Tất cả các vụ khởi kiện
về tranh chấp quyền sử dụng đất có thể giải quyết thành công ở cấp cơ sở
(cấp xã, phường, thị trấn) khi cán bộ quản lý hành chính Nhà nước cấp xã
thông hiểu pháp luật, có kiến thức chuyên môn và có tinh thần trách nhiệm
cao. Ngược lại, thì làm cho sự việc hành chính trở nên rắc rối, phát sinh từ
cơ sở, gây ra sự mất đoàn kết, mất trật tự an toàn xã hội và gây xáo trộn
trong nội bộ, mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, hoạt động quản lý hành
chính Nhà nước yêu cầu đòi hỏi phải tiêu chuẩn hoá các chức danh cán bộ
công chức Nhà nước, chú trọng đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức
Nhà nước, đảm bảo có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao,
hiểu biết pháp luật, có năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân. đây là vấn đề
hết sức cần thiết và bức bách hiện nay.
Việc nâng cao trình độ của cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị
trấn là việc làm hết sức cần thiết. Cần phải quan tâm, chú trọng đội ngũ cán
bộ, công chức làm việc ở cơ sở. Có chế độ đãi ngộ và chế độ thu hút xứng
19


đáng để họ an tâm làm việc hết mình, nâng cao hiệu suất công tác phục vụ
nhân dân.
Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước bằng chủ trương, đường lối của Đảng. Đảng phải
thường xuyên tổ chức kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chủ trương, đường
lối của mình.
Quốc Hội cũng thành lập Uỷ ban chuyên trách nghiên cứu thẩm tra
các dự án luật …, phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nước cùng
tham gia xây dựng luật. Quản lý Nhà nước được thực hiện theo pháp luật là
cơ sở chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Vì vậy, mọi vấn đề thuộc
về quản lý phải tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật, ngăn chặn kịp
thời những hành vi vi phạm. Cần tăng cường tổ chức việc giáo dục pháp
luật đến cơ sở, làm cho mọi người thông hiểu pháp luật. Thực hiện “Sống
và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”. Giáo dục pháp luật cho công dân
phải được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi. Các bộ luật cơ bản ở
nước ta phải được đưa vào thành môn học ngoại khoá cho học sinh phổ
thông và tổ chức sinh hoạt theo tình huống tháng hoặc tuần/lần, sắm vai
hoặc phiên toà giả định sao cho thật sự thu hút, vui, dễ nhớ, để sau này các
em có một số kiến thức cơ bản, không chỉ góp phần nào cho sự hiểu biết về
pháp luật của bản thân mà còn tham gia thuyết phục người thân trong gia
đình cũng như ngoài xã hội.
Phải thực hiện cải cách hành chính trong việc giải quyết các vấn đề
liên quan đến đất đai nhà ở, tránh gây phiền hà, hạch sách nhũng nhiễu
nhân dân. Cần lưu ý nhất là khâu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ở, nhà ở, sao cho nhanh chóng, dễ dàng. Thường xuyên tạo điều kiện nâng
cao trình độ về mọi mặt nhất là kiến thức quản lý Nhà nước cho cán bộ từ

20


cơ sở đến thành phố, tỉnh... những người thường xuyên trực tiếp làm việc
với người dân.
Trình tự, thủ tục giải quyết đơn thư khiếu nại trong lĩnh vực đất đai,
tài sản, hiện nay các địa phương cũng nhận thức khác nhau, về hình thức
văn bản giải quyết, có nơi ban hành quyết định, có nơi ban hành văn bản trả
lời, do đó rất cần hướng dẫn để thực hiện một cách thống nhất. Một khó
khăn nữa khá phổ biến hiện nay, đó là đơn đã được giải quyết theo đúng
quy định của pháp luật, đã có quyết định cuối cùng, hoặc lần hai nhưng
công dân vẫn không đồng ý với nội dung giải quyết và tiếp tục có đơn gửi
đến nhiều cấp, nhiều ngành Trung ương và địa phương, trong khi không
cung cấp được những tình tiết mới. Lượng đơn này tiếp tục được các cơ
quan chuyển về địa phương đề nghị xem xét, trả lời cho cơ quan chuyển
đơn và người khiếu nại, do đó làm mất nhiều thời gian của cơ quan có thẩm
quyền xủ lý.
Vẫn tiếp tục xảy ra tình trạng, người khiếu nại không hợp tác với cơ
quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết khiếu nại. Không ít trường
hợp cơ quan thụ lý đơn mời nhiều lần nhưng người khiếu nại không đến
(thậm chí trả lại giấy mời làm việc) hoặc đến làm việc nhưng không ký vào
biên bản. Khi gặp trường hợp này, một số cơ quan tham mưu đề nghị xếp
hồ sơ, nhưng Luật khiếu nại tố cáo và các văn bản hướng dẫn không đề cập
đến tình huống này, nếu vẫn thụ lý giải quyết thì không có cơ sở, không
bảo đảm trình tự theo quy định. Vấn đề này cũng cần được hướng dẫn cụ
thể để tạo thuận lợi cho các địa phương trong công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo.
Trên thực tế, những vướng mắc trong giải quyết khiếu nại, tố cáo nêu
trên đã gây không ít khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc
giải quyết theo chức năng, nhiệm vụ. Chính vì vậy, việc hướng dẫn thực
21


hiện thống nhất các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo là rất cần thiết,
tạo thuận lợi cho địa phương và cơ quan dân cư trong việc bảo vệ cho ý
chí, nguyện vọng chính đáng của cử tri.
Cần triển khai thực hiện tốt “Trung tâm hành chính công” các cấp để
nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức tạo thuận lợi cho
người dân, ngăn chặn tình trạng nhũng nhiễu, giải quyết công việc giúp cho
người dân và các Doanh nghiệp không phải mất thời gian đi lại nhưng vẫn
theo dõi và nắm được việc thụ lý hồ sơ của mình.
Góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính của cơ quan hành
chính Nhà nước, giúp Lãnh đạo UBND các cấp quản lý, điều hành các công
việc chuyên môn, nghiệp vụ của phòng, ban được thuận lợi, sâu sát hơn.
Các phòng, ban có điều kiện chủ động giải quyết công việc thuộc
thẩm quyền chuyên môn, nghiệp vụ.
Đơn giản hoá quy trình, thủ tục xử lý, giải quyết đối với các công
việc có tính chất đơn giản.
Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, công dân khi đến cơ quan công
quyền yêu cầu giải quyết công việc có liên quan.

22


KẾT LUẬN
Qua sự việc: “Xử lý tình huống trong giao dịch nhà đất chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phường Vân Dương,
thành phố Bắc Ninh năm 2018” Chúng ta phải khẳng định rằng, trong
quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay, do sự phát triển
mạnh của kinh tế - xã hội, đòi hỏi cần phải có sự đồng bộ về thể chế, chính
sách, pháp luật cũng như đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ năng
lực trình độ, phẩm chất đạo đức để làm công tác quản lý, điều hành và thực
thi công vụ. Nếu không sẽ gây ra tình trạng bất cập, mâu thuẫn và dẫn đến
tình trạng đơn thư, khiếu kiện...Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay,
nhất là trong lĩnh vực đất đai đang là vấn đề bức xúc, phức tạp và nhạy
cảm, gây đau đầu đối với những nhà quản lý các cấp trong quá trình thực
thi công vụ hiện nay (do năng lực, trình độ của một số cán bộ quản lý, do
một số bất cập trong quy định của pháp luật trong lĩnh vực đất đai... gây
khó khăn cho công tác này).
Theo kết quả thống kê cho thấy, một trong những vấn đề bức xúc nổi
cộm hiện nay là vướng mắc trong việc thực thi Luật Đất đai, Luật khiếu nại
tố cáo và Pháp lệnh thủ tục liên quan đến các vụ án hành chính liên quan
đến khiếu nại về đất đai, chiếm 70% - 80% các vụ khiếu nại, tố cáo.
Thực tế giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn là vấn đề nhạy cảm, phức
tạp trong quá trình thực thi hiện nay, do một số quy định của pháp luật chưa
hoàn chỉnh, hoặc việc thực hiện không thống nhất gây khó khăn cho công
tác này.
Bài học rút ra ở đây là: Cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác quản lý hành chính Nhà nước. Tuyên truyền phổ biến sâu rộng
mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
23


cho quần chúng nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức hiểu rõ và tự giác
thực hiện.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, mặc dù đã cố gắng rất
nhiều, nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm bản thân có hạn, nên bài viết
này chắc chắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự đóng góp ý
kiến của các Thầy, Cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!

24


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật đất đai số 45/2013/QH13;
2. Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH ngày 20/8/1998 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc Hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày
01 tháng 7 năm 1991;
3. Nghị định 43/2014/NĐ - CP ngày ngày 15 tháng 05 năm 2014
Chính Phủ quy định chi thiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2014.
4. Thông tư 02/2015/TT-BTNMT ngày 27 tháng 01 năm 2015 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều Nghị định
43/2014/NĐ-CP và 44/2014/NĐ-CP.
5. Thông tư 23/2014/TT-BTNMT Ngày 19 tháng 05 năm 2014 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×