Tải bản đầy đủ

Tiểu luận CV QLNN giải quyết đơn khiếu nại về việc lấn chiếm đất đai của các hộ gia đình tại thôn a, xã b, thành phố bắc ninh năm 2018

1


MỤC LỤC
Nội dung
MỞ ĐẦU

Trang
2

1. Nhận thức chung

2

2. Lý do chọn tình huống

2

3. Mục đích nghiên cứu

3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3

5. Kết cấu của Tiểu luận

3

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

4

1. Mô tả tình huống

4

1.1. Điều kiện thực tiễn làm nảy sinh tình huống

4

1.2. Diễn biến tình huống

4

2. Phân tích tình huống

8

2.1. Mục tiêu phân tích tình huống

8

2.2. Cơ sở lý luận

8

2.3. Phân tích diễn biến của tình huống

8



3. Xử lý tình huống

10

3.1. Mục tiêu xử lý tình huống

10

3.2. Xây dựng và lựa chọn phương án, giải pháp tối ưu để xử lý

10

3.2.1. Phương án 1

11

3.2.2. Phương án 2

11

3.2.3. Phương án 3

11

3.3. Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án/ giải pháp đã lựa chọn để xử
lý tình huống

11

3.4. Kiến nghị và đề xuất

12

KẾT LUẬN

13

TÀI LIỆU THAM KHẢO

14

2


MỞ ĐẦU
1. Nhận thức chung
Các quyền về đất đai là những quy ước xã hội được hỗ trợ bằng quyền lực
của Nhà nước hoặc của cộng đồng cho phép các cá nhân hoặc nhóm người đòi
hỏi được hưởng lợi ích hoặc dòng thu nhập mà Nhà nước đồng ý bảo vệ thông
qua việc giao nhiệm vụ cho những người khác, những người có thể đáp ứng
hoặc can thiệp bằng một cách nào đó tới dòng lợi ích này. Nhà nước đóng vai trò
quan trọng thông qua việc xác định các quyền về sở hữu tài sản, cách thức để
các quyền đó được thực thi và điều chỉnh khi các điều kiện kinh tế thay đổi. Hơn
nữa, các quyền sở hữu tài sản đối với đất đai không ở trạng thái tĩnh, mà phát
triển để đáp ứng những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội.
Hiến pháp 2013 sửa đổi quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước thống nhất quản lý. Đất được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, cũng
từ đó nhiều sai phạm đã xảy ra, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã giải
quyết. Luật khiếu nại, luật tố cáo năm 2011 là một bước tiến quan trọng trong
quá trình pháp lý hoá quyền khiếu nại, tố cáo. Một trong những quyền lợi cơ bản
của công dân được Hiến pháp ghi nhận, thể hiện quan điểm đường lối của Đảng
về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng những đòi hỏi bức
thiết về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Lý do chọn tình huống
Là cán bộ viên chức, được học lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước,
chương trình chuyên viên năm 2018 tại Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ. Vận
dụng kiến thức vào thực hành là một việc không thể thiếu trong quy trình đào
tạo bồi dưỡng, học đi đôi với hành. Vì vậy, với những kiến thức đã tiếp thu được
qua học tập tại trường, tôi chọn trình bày cách xử lý tình huống giả định: "Giải
quyết khiếu nại về việc lấn chiếm đất đai của các hộ gia đình thôn A, Xã B,
thành phố Bắc Ninh năm 2018” làm bài tập tình huống kết thúc chương trình
Bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước, chương trình Chuyên viên tại trường.
3


3. Mục đích nghiên cứu
Thực hành bài tập nhằm củng cố nâng cao hệ thống kiến thức pháp luật và
thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý đất đai, góp phần nâng cao trình độ
quản lý và xử lý tình huống có hiệu quả. Nâng cao kỹ năng giải quyết các tình
huống trong thực tiễn công tác, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
trong công cuộc đổi mới hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Giải quyết khiếu nại về việc lấn chiếm đất đai của các hộ gia đình thôn A,
xã B, thành phố Bắc Ninh năm 2018.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Các hộ gia đình ở thôn A, xã B, thành phố Bắc Ninh.
- Trưởng thôn, xã B, thành phố Bắc Ninh.
5. Kết cấu của Tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phụ lục và danh mục tài tiệu
tham khảo, tiểu luận gồm 3 phần:
Phần 1: Mô tả tình huống.
Phần 2: Phân tích tình huống.
Phân 3: Xử lý tình huống.

4


GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Mô tả tình huống
1.1. Điều kiện thực tiễn làm nảy sinh tình huống
Ông Lương Xuân Quang ở xã B, thành phố Bắc Ninh do con cái đều trưởng
thành, đã xây dựng gia đình nên nhân khẩu trong gia đình tăng, chỗ ở trật trội; vì
vậy tháng 05 năm 2017 ông Quang quyết định xây dựng lại ngôi nhà mình thành
nhà cao tầng để tiện cho đời sống và sinh hoạt. Khi gia đình ông Quang đào
móng xây nhà đã đổ vật liệu xây dựng chiếm gần hết chiều ngang ngõ đi chung
(đoạn ngõ ông đang xây dựng ở phía sau nhà ông và đối diện cổng nhà ông
Nguyễn Thế Vân) gây khó khăn cho việc đi lại của một số hộ gia đình trong ngõ
nên các hộ này đã đề nghị ông Quang xây nhà lùi lại để ngõ đi rộng hơn. Ông
Quang không đồng ý và cho rằng đất của gia đình đến đâu thì xây đến đó, các hộ
này đã đề nghị ông Dự (Trưởng khu) và ông Huy (cán bộ địa chính của phường)
xem xét giải quyết theo nguyện vọng của họ. Ông Dự và ông Huy xác định ngõ
đi trên bản đồ xã B (năm 1990 tỷ lệ 1/2000) có chiều rộng là 2,2m, thấy thực tế
không đủ chiều rộng 2,2m, các ông đã tiến hành đo diện tích đất của hộ ông
Quang, thấy diện tích đất thực tế lớn hơn ghi trên bản đồ và lớn hơn diện tích
hàng năm xã thu thuế đất ở nhà ông Quang.
Từ việc làm trên các ông đã cho rằng hộ ông Quang lấn chiếm chiều ngang
ngõ đi chung. Từ việc xác định của ông Trưởng thôn Dự nêu trên nên các hộ gia
đình trong ngõ đề nghị UBND xã giải quyết cho các hộ có ngõ đi chung rộng
hơn, không bị lấn chiếm.
1.2. Diễn biến tình huống
1.2.1. Tại UBND xã B
Ngày 02/6/2017, UBND xã B đã tiếp nhận đơn kiến nghị của các hộ gia
đình Thôn A, xã B, thành phố Bắc Ninh về việc "Giải quyết vấn đề ngõ đi chung
bị lấn chiếm"
Ngày 12/6/2017 cán bộ địa chính phường tiến hành đo thực tại (có biên
bản) đất ở của ông Quang xác định là: 155m2.
5


Diện tích của các hộ ông Quang ghi trong bản đồ 1990 là 100m2.
Diện tích hàng năm thu thuế đất ở của ông Quang là 110m2.
Căn cứ báo cáo của cán bộ địa chính xã về số liệu trên, UBND xã B đã xác
định hộ ông Quang lấn chiếm ngõ đi chung.
Sau nhiều lần UBND xã tổ chức hoà giải giữa các gia đình có đơn đề nghị
và hộ ông Quang nhưng không thành, UBND xã B yêu cầu ông Quang tự tháo
dỡ bức tường rào đã xây và phần công trình phụ của gia đình để trả lại đất thuộc
ngõ đi chung mà UBND xã đã xác định ông Quang xây lấn chiếm trên đất công,
nhưng hộ ông Quang không chấp hành với lý do là:
- Bờ tường rào và các công trình phụ đó gia đình đã xây từ những năm
1994 đến nay đã trên 20 năm, trên đất cha ông từ lâu đời để lại, nên ông Quang
không thừa nhận việc lấn chiếm ngõ đi chung và không chấp hành yêu cầu của
UBND xã.
Các hộ gia đình có đơn đề nghị UBND xã giải quyết theo pháp luật.
Ngày 22/6/2017 Chủ tịch UBND xã B ban hành Quyết định số 19/QĐUBND về việc tháo dỡ công trình xây dựng lấn chiếm lối đi chung với nội dung:
gia đình ông Quang phải tự tháo dỡ công trình xây lấn ra đường trên đất thuộc
lối đi chung ở phía trước nhà ông Nam để trả lại mặt bằng cho lối đi chung ....
Ngày 06/7/2017 Chủ tịch UBND xã B tiếp tục thi hành Quyết định số
32/QĐ-UBND với nội dung như Quyết định số 19 ngày 22/6/2017.
Nhưng do gia đình ông Quang chấp hành. Ngày 02/8/2017 Chủ tịch UBND
xã A ban hành Quyết định số 01/QĐ-UBND thành lập tổ cưỡng chế vi phạm lấn
chiếm đất đai, với nội dung "Phá bỏ những công trình xây lấn ra đường trên lối
đi chung của nhà ông Quang trả lại mặt bằng cho tập thể ..."
Ngày 22/9/2017, tổ cưỡng chế tiến hành cưỡng chế phá dỡ tường rào xây,
một phần tường và mái của công trình phụ ở trước của nhà ông Quang, mà
UBND xã xác định đã xây lấn chiếm trên đất công theo Quyết định số 22/QĐUBND của Chủ tịch UBND xã B.
Sau khi tổ cưỡng chế phá dỡ các công trình xây dựng, gia đình ông Quang
đã khiếu nại đến UBND xã B.
6


UBND xã B đã tiến hành xác minh lý do diện tích đất ở của hộ ông Nam
tăng thêm, xác định là do HTX năm 1994 đã cho ông được sử dụng thêm một số
diện tích (về phía Đông nhà ông) nên phần diện tích tăng thêm không thể hiện
trên bản đồ 1990, hộ ông Quang đã xây dựng các công trình này từ lâu UBND
xã xác định không có căn cứ pháp lý để kết luận hộ ông Quang lấn chiếm ngõ đi
chung.
Ngày 22/10/2017, UBND xã B đã có thông báo về việc "Giải quyết đơn đề
nghị xây lại bức tường của gia đình ông Quang" với nội dung:
+ Cho phép gia đình ông Quang tự hoàn chỉnh lại bức tường trên nền móng
cũ và phần công trình phụ đã bị phá dỡ.
+ Việc hoàn chỉnh lại bức tường mọi kinh phí gia đình phải tự lo.
Ngày 07/11/2017 căn cứ vào đơn đề nghị của ông Quang, UBND xã điều
chỉnh:
"Cho phép gia đình ông Quang tự hoàn chỉnh lại bức tường trên nền móng
cũ và phần công trình phụ đã bị phá dỡ... còn nội dung khác giữ nguyên".
Sau khi có quyết định trên hộ ông Quang xây lại tường rào và các ông trình
phụ như cũ.
Các hộ gia đình trong ngõ không nhất trí, tiếp tục làm đơn đề nghị UBND
thành phố xem xét giải quyết để ngõ đi có chiều rộng 02m theo xác định của xã
B trên bản đồ 1990 của thôn A.
1.2.2. Tại UBND thành phố Bắc Ninh:
Sau khi xem xét báo cáo kết luận số 11/BC-TCT ngày 08/12/2017 của tổ
công tác. UBND thành phố Bắc Ninh đã ban hành Quyết định số 98/QĐ-CT
ngày 15/12/2017 với nội dung "... Nhất trí với báo cáo kết luận số 11/BC-TCT
ngày 08/12/2017 của tổ công tác ...". Yêu cầu:
1.2.3. Thu hồi toàn bộ diện tích do gia đình ông Quang ở thôn A, xã B đã
lấn chiếm lối đi chung.
Yêu cầu gia đình ông Quang phải tự tháo dỡ toàn bộ những công trình xây
dựng lấn chiếm ra đường trả lại chiều rộng đường theo quy hoạch là: 2m.
7


1.2.4. Cho phép UBND xã B căn cứ vào diện tích đất ở hiện tại của gia
đình ông Quang tính toán điều chỉnh thu thuế sử dụng đất cho phù hợp.
Sau khi có quyết định của UBND thành phố Bắc Ninh, ông Quang không
nhất trí và tiếp tục làm đơn khiếu nại đến UBND tỉnh Bắc Ninh.
1.2.5. Tại Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Ninh
Căn cứ Công văn số 352/NC-CT, ngày 29/12/2017 của UBND tỉnh Bắc
Ninh giao cho Giám đốc Sở Tài nguyên Môi trường xem xét, kết luận và trình
UBND tỉnh về việc giải quyết khiếu nại của gia đình ông Quang khiếu nại theo
Quyết định số 98/ QĐ-CT, ngày 15/12/2017 của UBND thành phố Bắc Ninh.
Sau khi xem xét, Sở Tài nguyên Môi trường có báo cáo số 29/BC-TNMT
ngày 11/01/2018 về việc Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bắc Ninh thống nhất
với Quyết định số 98/QĐ-CT ngày 15/12/2017 của UBND thành phố Bắc Ninh.
Nay Sở Tài nguyên Môi trường báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh xem xét,
ban hành quyết định giải quyết khiếu nại".
1.2.6. Tại UBND tỉnh Bắc Ninh
Sau khi xem xét báo cáo số 29/BC-TNMT, ngày 11/01/2018 của Sở Tài
nguyên Môi trường, UBND tỉnh Bắc Ninh có Quyết định 697/QĐ-CT, ngày
27/1/2018 với nội dung sau: Thống nhất với Quyết định số 98/QĐ-CT ngày
15/12/2017 của Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh trong việc giải quyết khiếu
nại của các hộ gia đình Thôn A, xã B, thành phố Bắc Ninh. Đây là quyết định
cuối cùng giải quyết khiếu nại này.
Sau khi có quyết định của UBND tỉnh ông Quang vẫn khiếu nại đến UBND
tỉnh Bắc Ninh và đề nghị UBND tỉnh phúc tra lại quyết định trên. Ngày
28/02/2018 thành phố Bắc Ninh thi hành quyết định của tỉnh cưỡng chế tháo dỡ
tường rào và công trình phụ xây dựng trước cửa nhà ông Quang.
Gia đình ông Quang nhiều lần khiếu nại đề nghị UBND tỉnh cho phúc tra
lại vụ việc trên.
Ngày 28/3/2018 Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh có công văn số 188/NC-CT
về việc giao cho Chánh thanh tra tỉnh phúc tra lại việc giải quyết khiếu nại theo
8


Quyết định 697/QĐ-CT ngày27/1/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh, đề xuất
UBND tỉnh giải quyết theo thẩm quyền.
Thực hiện Quyết định số 52/QĐ-TT ngày 05/4/2018 của Chánh thanh tra
tỉnh Bắc Ninh về việc thành lập Đoàn phúc tra, tiến hành phúc tra, xác minh nội
dung đơn khiếu nại của công dân: Ông Quang thôn A, xã B, thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh khiếu nại quyết định 697/QĐ-CT, ngày 27/1/2018 của Chủ
tịch UBND tỉnh Bắc Ninh trong việc giải quyết về đất đai của gia đình ông.
2. Phân tích tình huống
Đoàn phúc tra tiến hành thu thập, qua xác minh tại cơ sở, căn cứ hồ sơ của
cơ quan đã xem xét giải quyết trước đây. Đoàn phúc tra xác định kết quả phúc
tra như sau:
2.1. Mục tiêu phân tích tình huống
Đoàn phúc tra đã làm việc với lãnh đạo thôn A và UBND xã B đều không
xuất trình được văn bản quy hoạch quy định chiều rộng của ngõ đi chung là bao
nhiêu, cũng chưa ban hành văn bản nào quy định về chiều rộng ngõ đi chung.
Nghiên cứu hồ sơ và tìm hiểu thực tế trước đây cho thấy ngõ đi chung này
rất hẹp là hàng cây Cúc tần, cây Dâu, cây Dâm bụt không được rộng như thời
điểm hiện tại ngày nay.
2.2. Cở sở lý luận
Hộ ông Quang xây tường xung quanh và công trình phụ từ năm 1997 đến
năm 1999 gia đình sửa lại vẫn trên móng tường cũ, các hộ không có tranh chấp
sống ổn định, thôn, xã cũng thừa nhận và không có ý kiến gì suốt từ đó đến năm
2017, UBND xã cưỡng chế phá dỡ.
Sau khi có quyết định của UBND xã về giải quyết khiếu nại, hộ ông Quang
đã xây lại tường rào và các công trình phụ như cũ.
Ngày 28/02/2018, thành phố Bắc Ninh thi hành Quyết định của tỉnh lại
cưỡng chế tháo dỡ một lần nữa.
2.3. Phân tích diễn biễn của tình huống
Khi có đề nghị của công dân về nguyện vọng muốn ngõ đi chung rộng
thêm, do gia đình ông Quang xây nhà làm ảnh hưởng đến việc đi lại của công
9


dân (mặc dù các công dân đã đề nghị với ông Quang nhưng không được ông
Quang chấp thuận) thì chỉ cần xem xét hộ ông Quang xây dựng có đúng mô mốc
cũ hay không? Xác định ông Quang có lấn chiếm đất công hay không để hòa
giải? Nhưng ông Trưởng khu lại xem xét đất ở của gia đình ông Quang là không
đúng, hơn nữa phương pháp xác định thiếu căn cứ pháp lý, dẫn đến công dân cứ
lấy ý kiến đó để làm đơn đề nghị các cơ quan sau này gây hậu quả rất phức tạp
và dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài.
2.3.1. Phúc tra việc giải quyết của UBND xã A
Qua xem xét hồ sơ giải quyết của UBND xã A về đất đai, đối chiếu với các
quy định của Nhà nước đặc biệt là Luật đất đai năm 2013 được và Luật Khiếu
nại 2011 cùng các văn bản hướng dẫn, Đoàn phúc tra xác định: Việc UBND xã
B ra quyết định giải quyết tranh chấp về lấn chiếm ngõ đi của gia đình ông
Quang và các hộ không đúng quy định của Điều 202 Luật đất đai 2013 và Điều
88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 15/4/2014 quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật đất đai. UBND xã chỉ có thẩm quyền hòa giải khi
có đơn về tranh chấp đất đai.
2.3.2. Phúc tra việc giải quyết của UBND xã B
Đoàn phúc tra đã tiến hành xem xét các chứng từ mà Tổ công tác đã dùng
để báo cáo kết luận số 11/BC-UB, ngày 08/12/2017 và tham mưu cho UBND
thành phố Bắc Ninh ban hành Quyết định số 98/QĐ-CT, ngày 15/12/2017 giải
quyết đơn đề nghị của công dân thôn A. Sau khi xem xét Đoàn phúc tra xác định
một số nội dung sau:
- Xem xét bản đồ thôn A năm 1990 tỷ lệ 1/2000: Đoàn phúc tra xác định
bản đồ này chưa được các cấp (thôn, xã, thành phố, tỉnh) ký xác nhận, chưa có
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa, phê duyệt, công bố... Do đó chưa đủ điều
kiện pháp lý để kết luận hộ ông Quang lấn chiếm đất công.
- Xem xét sai số cho phép: Theo quy định bản đồ tỷ lệ 1/2000 năm 1990 có
sai số cho phép là cộng (trừ) 1mm trên bản đồ là đạt tiêu chuẩn chất lượng đo,
vẽ (bằng 2mm ngoài thực địa). Do đó không thể xác định được việc lấn chiếm
ngõ như kết luận số 11/BC-TCT, ngày 08/12/2017 của Tổ công tác làm căn cứ
10


tham mưu cho UBND thành phố Bắc Ninh ban hành Quyết định số 98/QĐ-CT
ngày 15/12/2017 giải quyết đơn đề nghị của công dân thôn A.
- Văn bản Kết luận số 11/BC-TCT, ngày 08/12/2017 của Tổ công tác là
không đúng thực tế, không đảm bảo tính pháp lý.
Từ kết luận trên đã tham mưu cho UBND thành phố Bắc Ninh ban hành
Quyết định số 98/QĐ-CT ngày 15/12/2017 giải quyết khiếu nại của các hộ gia
đình Thôn A, xã B, thành phố Bắc Ninh của công dân không chính xác, không
đảm bảo tính pháp lý.
2.3.3. Phúc tra thực hiện quyết định số 697/QĐ-CT, ngày 27/01/2018 của
UBND tỉnh Bắc Ninh
Sau khi có quyết định trên Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh đã có
quyết định số 234/QĐ-CT, ngày 04/02/2018 về việc thành lập Tổ công tác đôn
đốc thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực còn tồn đọng.
Ngày 28/02/2018, Tổ công tác trên cùng khu phố, phường tiến hành cưỡng
chế tháo dỡ các công trình xây dựng của ông Quang (xây lại năm 2017) mà
UBND thành phố cho là xây dựng lấn chiếm ngõ đi chung với lý do thực hiện
Quyết định của Tỉnh.
3. Xử lý tình huống
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống
Qua việc phúc tra nhà ông Quang, UBND xã B, UBND thành phố Bắc
Ninh, UBND tỉnh Bắc Ninh, thấy được sai phạm cấp nào thì giải quyết dứt điểm
ở cấp đó, tránh khiếu kiện kéo dài, làm cho dư luận nhân dân không tốt về chính
quyền.
3.2. Xây dựng và lựa chọn phương án, phương pháp tối ưu đề xử lý
Việc giải quyết khiếu nại của các đơn vị, cơ quan còn nhiều bất hợp lý,
chưa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, thiếu tính khách quan như nêu
trên. Với tư cách là thành viên của đoàn phúc tra, tôi đề xuất phương án xử lý,
giải quyết tình huống; đoàn phúc tra đề nghị Chánh thanh tra tỉnh đề xuất với
UBND tỉnh Bắc Ninh biện pháp giải quyết khiếu nại trên theo hướng sau:
11


3.2.1. Phương án 1
- Đề nghị UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành quyết định mới thay thế quyết
định số 697/QĐ-CT, ngày 27/01/2018 của UBND tỉnh Bắc Ninh trong việc giải
quyết khiếu nại của công dân thôn A, xã B, thành phố Bắc Ninh vì các báo cáo
của UBND thành phố và Sở Tài nguyên Môi trường có những điểm không đủ
căn cứ pháp lý, chưa chính xác, không phù hợp thực tiễn.
- Cho phép hộ ông Quang được xây lại bức tường rào đảm bảo cho đoạn
ngõ trước cửa nhà ông có chiều rộng tối thiểu là 2m. Nếu địa phương có nhu cầu
mở rộng thêm ngõ đi này, thì phải có quy hoạch và tiến hành việc thu hồi đất
theo luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thực hiện luật của Chính phủ và
UBND tỉnh Bắc Ninh đã ban hành.
- Giao cho UBND thành phố Bắc Ninh chỉ đạo các cơ quan chức năng,
hướng dẫn hộ ông Quang làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
ở, theo diện tích thực tế (sau khi đã xây dựng bờ rào trên) và tiến hành thu thuế
đất ở của hộ trên phần diện tích còn thiếu theo quy định và tổ chức hội nghị
đánh giá năng lực, trình độ của cán bộ, rút kinh nghiệm trong quá trình giải
quyết.
3.2.2. Phương án 2
- Tổ chức hội nghị hòa giải cho các gia đình và gia đình ông Quang, tập
trung phân tích các nội dung, phương án quy hoạch mở rộng đường và phương
án giải phóng mặt bằng, thu hồi, đền bù phần đất của nhà ông Quang về phía
Đông như thế nào? vì phần đó là đất công do xã quản lý.
3.2.3. Phương án 3
Kết hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức gắn với đáp ứng nhu cầu lợi ích
bằng cách tổ chức họp các gia đình cùng chính quyền địa phương bàn phương
án bồi thường, đền bù tiền đất cho nhà ông Quang để mở rộng đường theo giá
đền bù được quy định trong thời điểm hiện tại.
3.3 Kế hoạch tổ chức thực hiện phương án
Phương án 2 đảm bảo được cả lý và tình, là phương án tương lai lâu dài, tốt
nhất.
12


Nếu phương án 2 không thực hiện được thì phương án 1 là đảm bảo tính
pháp lý cao nhất và dứt điểm khiếu kiện dễ nhất.
Phương án 3 có thể thực hiện được khi cả 3 bên có sự đồng nhất, nhưng
phương án này khó khả thi hơn 2 phương án trên.
3.4. Kiến nghị và đề xuất
3.4.1. Đối với UBND xã B
Khi giải quyết tranh chấp đất đai thì UBND cấp xã có trách nhiệm phối hợp
với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ
chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai. Kết quả hòa giải tranh chấp đất
đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận
của UBND cấp xã nơi có đất. Trường hợp kết quả hòa giải khác với hiện trạng
sử dụng đất thì UBND cấp xã chuyển kết quả hòa giải đến cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.
3.4.2. Đối với UBND thành phố Bắc Ninh
- Khi ra quyết định phải sát thực tế;
- Không khả thi pháp luật.
3.4.3. Đối với UBND tỉnh Bắc Ninh
Mọi quyết định khi xuống cấp dưới phải ghi rõ ngày thực thi và ngày báo
cáo nên cấp trên khi giải quyết sự việc, tránh cấp dưới như UBND thành phố
Bắc Ninh làm sai mà trên không nắm được./.

13


KẾT LUẬN
Cuộc sống luôn vận động và phát triển, nhất là quá trình chuyển từ đất
nước có tiền đề xuất phát thấp, nông nghiệp mạnh muốn nhỏ lẻ, sang kinh tế hội
nhập, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi nhận thức hành vi
pháp luật không tránh khỏi nhiều phát sinh, phải giải quyết nhiều tình huống đòi
hỏi phải qua nhiều cung đoạn thực hành, thấm nhuần, hình thành kỹ năng xử lý
thuần thục. Bài tập tình huống trên đây mang ý nghĩa thiết thực.
Hiện nay việc giải quyết đơn thư khiếu nại của nhân dân trong thực tế cuộc
sống còn rất nhiều bất cập, các cấp chính quyền ở địa phương cũng như các cơ
quan chuyên môn với có cán bộ năng lực chuyên môn còn hạn chế, giải quyết
công việc đôi khi còn mang tính chủ quan cá nhân, chưa căn cứ vào các quy
định của pháp luật cũng như các chính sách của Đảng và Nhà nước, dẫn tới các
quyết định không đúng các quy định.
Việc giải quyết không đúng sẽ gây đơn thư khiếu kiện kéo dài. Do đó cần
có những biện pháp kiên quyết trong việc xử lý đối với cán bộ khi tiến hành giải
quyết các khiếu nại gây thiệt hại về kinh tế, buộc người đã ra quyết định đó phải
bồi thường cho người bị thiệt hại, có như vậy mới tạo được lòng tin trong nhân
dân. Các cấp chính quyền ở địa phương cũng như các cơ quan chuyên môn cần
quan tâm hơn nữa đến việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kiến
thức pháp luật để thực hiện tốt công tác, giải quyết tốt mọi yêu cầu của quần
chúng, góp phần vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
Trong quá trình thực hiện tiểu luận, do kiến thức về pháp luật còn hạn chế
và không có điều kiện thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật đã sửa đổi
bổ sung, nên không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót, hạn chế, rất mong được các
thầy giáo, cô giáo góp ý, bổ sung, giúp đỡ để bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ
khóa học. Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, các cô giáo!

14


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sử đổi năm 2013.
2. Luật KN, Luật TC năm 2011.
3. Luật đất đai năm 2013.
4. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.
5. NĐ số 67/NĐ-CP năm 2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại.
6. Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính Nhà nước.
(Chương trình chuyên viên) Học viện Hành chính Quốc gia.
7. Các tạp chí, tài liệu có liên quan./.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×