Tải bản đầy đủ

Luan van tot nghiep cao hoc e banking tại NH TMCP ngoại thương việt nam

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở lý luận: Công nghệ thông tin là một trong những thành tựu to lớn trong
lĩnh vực khoa học kỹ thuật, nó làm thay đổi tư duy cũng như phương thức kinh
doanh trong môi trường kinh doanh hiện đại. Công nghệ thông tin cũng là một yếu
tố đầu vào quan trọng của bất cứ hoạt động kinh doanh nào. Trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng thì việc ứng dụng công nghệ thông tin, trong đó có hoạt động Ngân
hàng điện tử chính là một công cụ tất yếu đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng và
tăng khả năng cạnh canh cho Ngân hàng. Nhiều ngân hàng gần đây đã và đang áp
dụng công nghệ thông tin để phát triển và hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng nhằm
thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trong đó phát triển mạnh mẽ là dịch vụ Ebanking.
Cơ sở thực tiễn: Ở Việt Nam với việc mở của lĩnh vực Ngân hàng đã kéo theo
sự xuất hiện của hàng loạt các tổ chức tín dụng nước ngoài với số vốn khổng lồ và
công nghệ hiện đại, dịch vụ đa dạng làm cho các Ngân hàng trong nước phải đúng
trước thách thức to lớn và áp lực cạnh tranh gay gắt.
NH TMCP Ngoại thương Việt Nam vốn là một ngân hàng quốc doanh được cổ
phần hóa vào tháng 6/2008, đã có một lịch sử phát triển lâu dài. Là một trong bốn
Ngân hàng trụ cột của Việt Nam, sứ mệnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước mà còn phải đi đầu trong mọi
lĩnh vực trong đó có lĩnh vực công nghệ thông tin. Để đạt được mục tiêu trở thành
một tập đoàn tài chính hiện đại đa năng thì Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải

không ngừng áp dụng công nghệ mới trong đó có lĩnh vực công nghệ thông tin, mà
đặc biệt là các dịch vụ ngân hàng điện tử, nhằm tăng tiện ích cho khách hàng thoả
mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao được năng lực cạnh tranh
của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trên thị trường trong nước cũng như thị
trường quốc tế.


Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên tác giả chọn đề tài: “Phát triển hoạt
động E-banking tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam” cho luận văn tốt
nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá lý luận về Ngân hàng điện tử của các Ngân hàng thương mại
Phân tích đánh giá thực trạng phát triển hoạt động Ngân hàng điện tử tại NH
TMCP Ngoại thương Việt Nam
Đề xuất giải pháp đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, đối với
Ngân hàng nhà nước và Chính phủ nhằm phát triển hoạt động Ngân hàng điện tử tại
NH TMCP Ngoại thương Việt Nam, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh góp phần
tăng doanh thu và thị phần của NH TMCP Ngoại thương Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động E-banking tại NH TMCP Ngoại thương Việt
Nam
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động E-banking tại NH TMCP Ngoại thương Việt
Nam từ năm 2002 đến nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của học thuyết Mác-Lênin, các lý
thuyết kinh tế học hiện đại, các chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Đảng
cộng sản Việt Nam.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: Thống kê, tổng hợp, phân tích,
so sánh kết hợp lôgíc và lịch sử để đi từ lý luận đến thực tiễn và đưa ra giải pháp.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu và Kết luận, Luận văn chia làm 03 chương:
Chương I: Tổng quan về Ngân hàng điện tử của các ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng phát triển hoạt động Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam


Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động Ngân hàng điện tử tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam.


CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. NHTM và những vấn đề cơ bản về NHTM
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại (ngân hàng trung gian) là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán. Hệ thống ngân hàng nước ta là hệ thống ngân hàng 2
cấp, trong đó NH nhà nước làm nhiệm vụ của NHTW, còn các ngân hàng thương
mại và các tổ chức tín dụng khác hoạt động như là các ngân hàng trung gian thực
hiện chức năng kinh doanh.
1.1.2. Chức năng của NHTM
1.1.2.1. Ngân hàng thương mại là trung gian tín dụng.
Đây là chức năng đặc trưng của ngân hàng thương mại, nó có ý nghĩa quan
trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Thực hiện chức năng này,
NHTM đã huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, cơ quan,
đoàn thể, tiền tiết kiệm của dân cư,…và sử dụng cho vay nguồn vốn này để đáp ứng
nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Khi thực hiện chức năng làm trung gian tín dụng, NHTM đã tiến hành điều hoà
vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội
và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp.
1.1.2.2. NHTM làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện
thanh toán.
NHTM với tư cách là thủ quỹ của các doanh nghiệp đã tạo điều kiện để ngân
hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự uỷ nhiệm của khách hàng. Trong quá
trình thanh toán ngân hàng đã sử dụng giấy bạc ngân hàng thay cho vàng, sau đó sử


dụng các công cụ lưu thông tín dụng thay cho giấy bạc ngân hàng (séc, giấy chuyển
ngân, thẻ thanh toán,…).
Khi khách hàng gửi tiền vào trong ngân hàng, họ sẽ được ngân hàng đảm bảo
an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi,
nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, cùng khắp địa phương, mà nếu tự
khách hàng thực hiện sẽ tốn kém và khó khăn, vì thế đã tiết kiệm được cho xã hội
rất nhiều về chi phí lưu thông.
1.1.2.3. NHTM cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ ngân hàng có điều
kiện thuận lợi về kho qũy, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp, nên có
thể thực hiện thêm một số dịch vụ khác kèm theo như: tư vấn tài chính, đầu tư, giữ
hội giấy tờ, chứng khoám, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh
nghiệp,… để được hưởng hoa hồng, sẽ vừa tiết kiệm được chi phí, vừa đạt hiệu quả
cao.
1.1.2.4 NHTM “tạo ra tiền”
Quá trình tạo ra tiền của ngân hàng thương mại được thực hiện nhờ vào hoạt
động tín dụng và nhờ vào việc các ngân hàng thương mại hoạt động trong cùng một
hệ thống. Tiền ở đây chính là bút tệ. Bút tệ chỉ được tạo ra thông qua hoạt động tín
dụng giữa các ngân hàng.
1.1.3. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại:
1.1.3.1. Nghiệp vụ tạo vốn:
Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, nằm bên
Nguồn vốn trên bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại. Các nguồn vốn
của ngân hàng bao gồm:
Vốn tự có và quỹ ngân hàng: Vốn tự có là vốn điều lệ của ngân hàng, khi mới
thành lập, mức vốn này phải lớn hơn mức vốn tối thiểu (vốn pháp định) do NN qui
định. Quỹ ngân hàng là các quỹ được trích lập từ lợi nhuận ròng của ngân hàng.
Ngoài các quỹ được thành lập từ lợi nhuận thì ngân hàng còn có những quỹ khác
như: quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ khấu hao sữa chữa lớn,…. Nguồn vốn tự có


của ngân hàng chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng,
nhưng nó đóng vai trò quan trọng vì đó là cơ sở để tiến hành kinh doanh, tiến hành
thu hút những nguồn vốn khác.
Tiền gửi của khách hàng: Trước đây, người ta đem tiền, vàng vào ngân hàng gửi
nhờ bảo quản dùm và yêu cầu phải được hoàn trả đủ và đúng những gì đã gửi vào.
Về sau, họ không đòi hỏi phải được hoàn trả đúng nữa (chỉ cần đủ) và thời hạn gửi
dài hơn, nên ngân hàng có thể đem lượng tiền, vàng gửi này đem cho vay để kiếm
lời; những người gửi tiền bây giờ không những không phải trả tiền thuê giữ tiền mà
còn được trả lãi từ số tiền gửi đó. Trong tổng nguồn vốn hoạt động, vốn tiền gửi là
nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng, nó chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn
của NHTM.
Nguồn vốn đi vay:
+ Vốn vay bằng hình thức phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi,…
nhằm bổ sung nguồn vốn hoạt động của ngân hàng khi vốn tự có và vốn tiền gửi
chưa đáp ứng đủ yêu cầu kinh doanh.
+ Vốn vay của NHNN: khi NHNN cho vay, nhận chiết khấu, tái chiết khấu các
giấy tờ có giá của NHTM.
+ Vay các NHTM và các tổ chức tín dụng khác: nhằm giải quyết vấn đề thiếu
khả năng thanh toán tiền mặt tạm thời.
+ Vốn vay của các ngân hàng nước ngoài
Nguồn vốn tiếp nhận: đây là những nguồn vốn mà NHTM được các tổ chức
trong và ngoài nước, ngân sách NN uỷ thác cho vay trung trung và dài hạn thuộc kế
hoạch xây dựng cơ bản, các chương trình và các dự án có mục tiêu định hướng
trước trong sản xuất kinh doanh.
Các nguồn vốn khác: các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của
ngân hàng như: làm đại lý, dịch vụ thanh toán, làm trung gian thanh toán,….
1.1.3.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn:
Là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn đã hình thành của ngân hàng, chúng thuộc
bên Tài sản của bảng tổng kết tài sản của NHTM. Bao gồm:


Thiết lập dự trữ: dự trữ nhằm duy trì khả năng thanh toán thường xuyên của
khách hàng và bản thân ngân hàng. Trong nghiệp vụ này ngân hàng phải duy trì các
khoản sau:
+ Tiền mặt tại quỹ: ngân hàng phải để tại quỹ của mình một số tiền theo một tỷ
lệ nhất định trên tiền gửi của khách hàng đế đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc rút
tiền mặt của khách hàng.
+ Tiền gửi tại NHNN: bao gồm 2 phần:
• Phần dự trữ bắt buộc theo qui định của NHNN để bảo đảm hoàn trả tiền gửi
của khách hàng khi ngân hàng bị phá sản. NHTW thực thi chính sách giới hạn khối
lượng tiền lưu hành trong thời kỳ lạm phát hoặc tăng thêm khối lượng tiền vào lưu
thông, mở rộng mức cho vay của NHTM. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc hiện nay qui định từ
0 – 15%
• Phần còn lại dùng để giao hoán séc và thanh toán nợ với các tổ chức tín dụng
và NHTM khác.
+ Tiền gửi của NHTM tại các tổ chức tín dụng và các NHTM khác: đế đáp ứng
nhu cầu thanh toán, chuyển tiền khác địa phương của khách hàng.
+ Tiền đầu tư vào các chứng phiếu có giá.
Nghiệp vụ tín dụng: nghiệp vụ này của NHTM sử dụng phần lớn nguồn vốn
hoạt động của NH. Nghiệp vụ tín dụng bao gồm:
+ Chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá khác: đây là việc ngân hàng
sẽ mua lại những thương phiếu còn trong thời hạn của khách hàng.
+ Nghiệp vụ tín dụng thế chấp: đây là hình thức cho vay có đảm bảo bằng tài
sản thế chấp của khách hàng.
+ Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản: đây là thể thức cấp tín dụng mà
ngân hàng đồng ý cho khách hàng sử dụng một mức tín dụng nhất định trong một
khoản thời gian nhất định. Được thực hiện dưới 2 hình thức: chuyển tất cả khoản
vay vào tài khoản vãng lai của khách hàng, hoặc khách hàng sử dụng dần khoản vay
bằng hình thức phát hành séc hoặc các công cụ thanh toán khác ngay trên tài khoản
vãng lai.


+ Nghiệp vụ tín dụng thuê mua và tín dụng đầu tư:
• Tín dụng thuê mua: là hình thức ngân hàng mua tài sản để cho thuê đối với
người có nhu cầu sử dụng. Hết thời hạn của hợp đồng, người thuê có thể gia hạn
thuê tiếp hoặc có thể mua lại theo giá thoả thuận với ngân hàng.
• Tín dụng đầu tư: thực chất đây là những khoản vay trung và dài hạn, ngân
hàng tài trợ cho các doanh nghiệp, các dự án xây dựng cơ bản mới, cải tạo và mở
rộng qui mô sản xuất kinh doanh,…
- Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng: đây là hình thức cho vay để mua hàng tiêu
dùng.
- Nghiệp vụ đầu tư: trong nghiệp vụ này, ngân hàng thực hiện kinh doanh kiếm
lãi như các doanh nghiệp như:
+ Đầu tư chứng khoán
+ Hùn vốn liên doanh.
Theo qui định, NHTM chỉ được phép sử dụng nguồn vốn tự có để thực hiện
nghiệp vụ đầu tư.
1.1.3.3. Nghiệp vụ trung gian – nghiệp vụ kinh doanh:
Đây là những nghiệp vụ mà NHTM thực hiện theo sự uỷ nhiệm của khách hàng
được hưởng hoa hồng như:
- Chuyển tiền.
- Thu hộ: ngân hàng đứng ra thay mặt ngân hàng để thu các khoản kỳ phiếu đến
hạn, chứng khoán, tiền bán hàng hoá,….
- Uỷ thác: là nghiệp vụ ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác của khách hàng để
quản lý hộ tài sản, chuyển gia tài, bảo quản chứng khoán, vật có giá trị, thực hiện
thanh lý tài sản của các doanh nghiệp bị phá sản.
- Mua bán hộ: theo sự uỷ nhiệm, ngân hàng đứng ra phát hành cổ phiếu, trái
phiếu cho công ty, cho Nhà nước, hoặc mua ngoại tệ, đá quý,… cho khách hàng.
- Kinh doanh vàng, bạc đá quý để kiếm lời.


- Làm tư vấn về tiền tệ, tài chính như: cung cấp thông tin, hướng dẫn chính sách
tài chính tiền tệ, thương mại, lập dự án đầu tư tín dụng, uỷ thác đầu tư
1.2. Ngân hàng điện tử
1.2.1 Khái niệm
Trước khi tiếp cận với khái niệm ngân hàng điện tử, chúng ta tìm hiểu về
thương mại điện tử, vì ngân hàng điện tử chính là tên gọi của thương mại điện tử
trong lĩnh vực ngân hàng.
Thương mại điện tử là một yếu tố hợp thành của nền kinh tế số hóa, là hình thái
hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử, hay là việc trao đổi thông tin
thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói ching không cần
phải in ra giấy tờ trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch.
Các hình thức chủ yếu của thương mại điện tử là: Thư tín điển tử, thanh toán
điện tử, trao đổi giữ liệu điện tử, giao gửi số hóa các dung liệu, bán hàng hóa hữu
hình qua mạng.
Dich vụ thương mại điện tử đã và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm
gần đây và trở thành để tài nóng hổi trong bất kỳ hội thảo về công nghệ thông tin.
Việc chuyển đổi sang nền kinh tế mạng đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn hầu hết
mọi dự tính. Nền kinh tế mạng đổi hỏi các tổ chức tài chính phải tìm hiểu, phát triển
chiến lược và đầu tư vào kinh doanh điện tử, thử thách này yêu cầu những mô hình
kinh tế mới và phương thức mới để tiếp cận với khách hàng. Thương mại điện tử
tạo nên một hình thức cạnh tranh mới, buộc các ngân hàng phải chọn những dịch vụ
mà khách hàng cần, quyết định quy mô các chi nhánh ngân hàng trong hệ thống và
mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Sự tham gia của ngân hàng điện tử
cũng làm nảy sinh về các vấn đề công nghệ của ngân hàng, các ngân hàng giải
quyết được những thách thức này sẽ quyết định sự ảnh hưởng của mình đến thị
trường điện tử hóa. Đứng trước các yêu cầu đó ngân hàng đã cho ra nhiều dịch vụ
mới: dịch vụ ngân hàng qua điện thoại sử dụng mã cá nhân, hoặc nhận dạng giọng
nói; dịch vụ ngân hàng qua mạng internet, khách hàng chỉ cần một máy tính cá nhân
nối mạng internet là có thể giao dịch với ngân hàng mà không cần phải trực tiếp đến


ngân hàng. Những dịch vụ này đã đưa ra một thực tế là, thế giới ngày nay cho ta
thấy có một loại ngân hàng mới: dịch vụ ngân hàng điện tử.
Ngân hàng điện tử là ngân hàng mà các dịch vụ được cung cấp qua các phương
tiện kỹ thuật điện tử, khách hàng không cần đến trực tiếp tại các chi nhánh của ngân
hàng mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch và nắm bắt được thông tin tài
chính của mình. Nói một cách dễ hiểu nhất thì dịch vụ ngân hàng điện tử chính là
các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung ứng thông qua các phương tiện điện tử
và kỹ thuật số.
Hiện nay, một số người vẫn thường đồng nhất dịch vụ internet banking với dịch
vụ ngân hàng điện tử (e-banking). Trên thực tế, dịch vụ e-banking có nội hàm rộng
hơn internet banking rất nhiều. Nếu như internet banking chỉ đơn thuần là việc cung
cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua mạng internet, thì dịch vụ e-banking còn bao
hàm cả việc cung cấp các dịch vụ thông qua một số phương tiện khác như: fax, điện
thoại, email,… Như vậy internet banking là một bộ phận của e-banking và với
những tiện ích của internet so với các phương tiện khác là giao dịch tương đối rẻ,
tốc độ nhanh và có thể truyền được dữ liệu tới khắp mọi nơi trên thế giới một cách
nhanh nhất thì internet được coi là linh hồn của e banking.
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng điện tử.
Khoảng hơn một thập kỷ trước đây, hàng loạt các ngân hàng bắt đầu cung ứng
một chương trình phần mềm cho khách hàng nhằm giúp khách hàng có thể xem số
dư tài khoản, đồng thời thực hiện một số lệnh thanh toán cho một số dịch vụ công
cộng như tiền điện nước, .. Đến năm 1995, e-banking chính thức được triển khai
thông qua chương trình phần mềm Quicken của công ty Intuit Inc., với sự tham gia
của 16 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ. Khi đó, khách hàng chỉ cần một máy vi tính,
một modem và phầm mềm Quicken là có thể sử dụng được dịch vụ này.
Kể từ đó e-banking đã và đang được nhân rộng ra ngoài nước Mỹ đến tất cả các
châu lục khác. Ngày nay, ở những nước phát triển, dịch vụ này trở nên khá quen
thuộc với khách hàng vì tính tiện lợi và hiệu quả của nó. Như ở Mỹ, năm 1998 có 7
triệu hộ gia đình giao dịch với ngân hàng qua Internet, năm 2001 có khoảng 10 triệu
và dự kiến năm 2003 con số này sẽ lên tới 60 triệu.


Ở Việt Nam, dịch vụ e-banking đã được khởi động từ năm 1994, nhưng phải
đến năm 2002, công nghệ thông tin Việt Nam mới đủ sức thích ứng với việc triển
khai loại hình dịch vụ này.
1.2.3. Các loại sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử trong hoạt động ngân
hàng điện tử.
Ngân hàng điện tử cung cấp cho khách hàng nhiều loại sản phẩm dịch vụ tiện
ích:
Các loại thẻ nhựa: thẻ nhựa là tên mà người ta đặt cho các loại thẻ nhựa dùng
thay thế cho tiền mặt. Có nhiều tên gọi khác nhau cho những loại thẻ nhựa này,
nhưng nhìn chung chúng có hai chức năng chính: rút tiền mặt hoặc thực hiện thanh
toán mà không cần dùng đến tiền mặt hoặc séc. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng lớn
trên thế giới đều có thể phát hành thẻ mang ba chức năng cho khách hàng của họ:
Chức năng bảo chi séc (theo đó ngân hàng bảo đảm thanh toán cho khoản tiền ghi
trên séc do khách hàng phát hành tới một hạn mức nhất định), chức năng rút tiền từ
các máy rút tiền tự động, chức năng thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng chuyển tiền
điện tử tại điểm bán hàng.
Hệ thống thanh toán điện tử tại các điểm bán hàng: đây còn là dịch vụ chuyển
tiền điện tử tại các điểm bán hàng. Số tiền phải trả cho hàng hóa, dịch vụ sẽ đ ược
chuyển bằng công nghệ điện tử tại điểm bán hàng từ ngân hàng của người mua sang
ngân hàng của người bán. Điểm bán hàng là nơi mà khách hàng có thể sử dụng thể
để thanh toán thay vì sử dụng tiền mặt, ví dụ như tại các siêu thị, nhà hàng,...
Máy rút tiền từ động (ATM): máy này cho phép khách tự mình rút tiền mà
không cần sự trợ giúp nào của nhân viên ngân hàng. Ngoài chức năng chủ yếu là
cho phép khách hàng rút tiền mặt, các máy ATM còn cung cấp các tiện ích khách
như: chuyển khoản giữa các tài khoản, thanh toán các khoản chi phí hàng tháng như
điện thoại, điện,…
Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại: đây là loại hình dịch vụ ngân hàng mà khi
sử dụng nó, khách hàng chỉ cần dùng hệ thống điện thoại thông thường để có thể
thực hiện một số tiện ích: tra cứu thông tin về dản phẩm dịch vụ của ngân hàng,
thông tin tài khoản của mình và thậm chí còn thực hiện một số giao dịch khác như


chuyển khoản,… Đây là hệ thống tự động nên khách hàng có thể chủ động thực
hiện mọi lúc mọi nơi mà chỉ cần sử dụng điện thoại cố định hoặc di động đã đăng
ký của mình.
Dịch vụ ngân hàng tại nhà:là loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử cho phép
khách hàng có thể chủ động kiểm soát hoạt động giao dịch ngân hàng từ văn phòng
của họ. Hệ thống này cho phép khách hàng tiết kiệm được rất nhiều thời gian và
tiền bạc bởi họ không cần phải trực tiếp đến các ngân hàng. Với sự trợ giúp của dịch
vụ này, việc giao dịch ngân hàng đối với khách hàng giờ đây chỉ còn là việc bấm
bàn phím máy tính vào thời điểm thuận tiện nhất của mình.
Dịch vụ ngân hàng qua mạng máy tính toàn cầu (Internet banking): là loại hình
hình dịch vụ của ngân hàng hiện đại và còn khá mới mẻ. Nó cho phép khách hàng
có thể giao dịch ngân hàng vào bất cứ thời điểm nào, nơi nào chỉ cần khách hàng có
một máy tính có nối mạng internet. Sự ra đời của internet banking thực sự là một
cuộc cách mạng, nó thúc đẩy các giao dịch xảy ra nhanh hơn, tiết kiệm được nhiều
thời gian và tiền cho cả khách hàng lẫn ngân hàng và cho cả xã hội.
Dịch vụ ngân hàng qua vô tuyến truyền hình tương tác: đây là một loại hình
dịch vụ có tính hai chiều được cung cấp thông qua hệ thống truyền hình kỹ thuật số.
Thông tin không chỉ từ đài truyền hình tới các khán giả mà còn cả theo chiều ngược
lại. Với dịch vụ này, khách hàng không còn thụ động ngồi xem các chương trình của
đài truyền hình phát mà họ hoàn toàn chủ động trong việc xem gì, khi nào.
Dịch vụ ngân hàng qua mạng viễn thông không dây: đây là loại hình dịch vụ
ngân hàng điện tử mới nhất hiện nay dựa trên công nghệ điện tử viễn thông không
dây của mạng điện thoại di động. Thực chất của dịch vụ này chính là sự kết nối điện
thoại di động của khách hàng với trung tâm cấp cấp dịch vụ ngân hàng điện tử và
kết nối internet qua điện thoại di động sử dụng giao thức truyền thông.
1.2.4 Cơ sở pháp lý của dịch vụ Ngân hàng điện tử

1.3 Nội dung của hoạt động ngân hàng điện tử


Việc thiết lập giao dịch điện tử có thể được thực hiện theo hai phương thức là
phương thức trực tiếp và phương thức giao dịch từ xa thông qua mạng internet hay
điện thoại.
1.3.1 Phương thức giao dịch trực tiếp
Với phương thức giao dịch thông qua việc khách hàng trực tiếp đến ngân hàng,
xuất trình các tài liệu liên quan để giao dịch, ngân hàng có thể kiểm tra các tài liệu
này, kiểm tra thông tin cá nhân, chữ ký, giấy uỷ nhiệm, từ đó ngân hàng có thể kiểm
tra thẩm quyền của người tham gia giao dịch, đảm báo chắc chắn giao dịch, chuyển
giao thông tin được chính xác.
1.3.2 Phương thức giao dịch từ xa (thông qua mạng internet hay điện
thoại)
Trong trường hợp khách hàng thực hiện đề nghị thiết lập giao dịch ngân hàng
điện tử thông qua mạng internet hay điện thoại, ngân hàng sẽ có một số khó khăn
trong việc kiểm tra, xác thực khách hàng do thiếu các phương tiện truyền thống như
chữ ký, chứng minh thư. Trong trường hợp này, thông thường các ngân hàng xác
định khách hàng thông qua việc yêu cầu khách hàng điền đầy đủ vào mẫu đề nghị
giao dịch ngân hàng điện tử và gửi đến ngân hàng, trong mẫu này có những thông
tin mà chỉ có khách hàng và ngân hàng mới có thể biết được. Ví dụ, các thông tin
mà ngân hàng Ngoại thương Việt Nam yêu cầu khách hàng của mình điền đầy đủ
khi có đề nghị thiết lập giao dịch điện tử là: tên người mở tài khoản, số, ngày, chứng
minh thư nhân dân, địa chỉ, số tài khoản, loại tài khoản, số zip,.. Sau khi ngân hàng
chấp nhận đề nghị thiết lập giao dịch ngân hàng điện tử, ngân hàng sẽ gửi thông báo
cho khách hàng trong đó cung cấp cho khách hàng tên giao dịch và mã số để giao
dịch.
Qua việc xem xét quá trình thiết lập giao dịch ngân hàng điện tử, có thể thấy
việc kiểm tra, xác thực khách hàng là một khâu rất quan trong để đảm bảo đúng đối
tượng, bên cạnh đó, việc thiết lập phương thức cung cấp, chuyển giao thông tin giao
dịch một cách thận trọng là rất cần thiết để đảm bảo an toàn và bí mật thông tin của
khách hàng.


Do có hai phương thức để giao dịch ngân hàng điện tử nên khách hàng có thể
lựa chọn phương thức nào thuận tiện nhất cho mình để sao cho nhanh chóng và hiệu
quả. Ngày nay, do yêu cầu tiết kiệm thời gian nên khách hàng thường thực hiện theo
phương thức giao dịch từ xa thông qua mạng internet hoặc qua đương điện thoại.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngân hàng điện tử.
1.4.1 Sự phát triển của thương mại điện tử.
Trước tiên, có thể khẳng định ngân hàng điện tử ra đời là nhờ vào sự phát triển
mạnh mẽ của thương mại điện tử. Xu thế cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các
doanh nghiệp trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã buộc họ phải luôn luôn tiếp cận
với những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu ngày
càng đa dạng của khách hàng. Việc áp dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh
doanh trở thành một yêu cầu tất yếu đối với tất cả các doanh nghiệp vì thương mại
điện tử đưa lại những lợi ích tiềm tàng cho họ.
Đối với doanh nghiệp:
- Thương mại điện tử trước hết giúp cho doanh nghiệp nắm được thông tin
phong phú về kinh tế - thương mại, nhờ đó có thể xây dựng được chiến lược sản
xuất và kinh doanh phù hợp với cu thế phát triển của thị trường trong nước , khu
vực và thị trường quốc tế.
- Giảm chi phí sản xuất: Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất trước
hết là chi phí văn phòng, các văn phòng “không giấy tờ” chiếm diện tích nhỏ gọn
hơn, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu cũng giảm đi nhiều lần. Điều quan trọng
hơn là các nhân viên có năng lực được giải phóng khỏi nhiều công đoạn, sự vụ, có
thể tập trung vào nghiên cứu, phát triển để đưa đến những lợi ích to lớn lâu dài.
- Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị: Thương mại điện tử giúp giảm được các chi
phí bán hàng và tiếp thị, nhờ bằng phương tiện internet một nhân viên bán hàng có
thể giao dịch được với nhiều khách hàng hơn, catalogue điện tử trên mạng phong
phú hơn nhiều và thường xuyên được cập nhật một cách nhanh chóng so với bản
catalogue in ấn chỉ có khuôn khỏ giới hạn và luôn lỗi thời.


- Giảm chi phí giao dịch: Thương mại điện tử qua internet giúp người tiêu thụ
và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được
hiểu từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh
toán,..). Thời gian giao dịch qua internet chỉ bằng 7% so với thời gian giao dịch qua
Fax hay bằng 0,0005% so với giao dịch qua đương bưu điện.
- Cải tiến quan hệ trong công ty, với đồng nghiệp, đối tác, bán hàng: Thương
mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập cũng cố mối quan hệ giữa các thành tố
tham gia vào quá trình thương mại: thông qua mạng các thành tố tham gia có thể
giao tiếp trực tiếp và liên tục với nhau gần như không còn khoản cách địa lý và thời
gian nữa; nhờ đó cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và
liên tục; các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng
trên bình diện toàn quốc, taonf khu vực, toàn thế giới và có cơ hội để lựa chọn.
- Tăng năng lực phục vụ khách hàng của các doanh nghiệp vì giờ đây họ co sự
hỗ trợ đắc lực của các phương tiện điện tử, do vậy khách hàng được phục vụ một
cách tố nhất trong một khoảng thời gian nhanh nhất.
- Mở rộng phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp: Thương mại điện tử giúp
doanh nghiệp giảm được các loại chi phí, khả năng phục vụ khách hàng lại tăng,
nhân lực ccungx được giảm đi đáng kể nên việc mở rộng pham vi kinh doanh là
điều không còn khó khăn nữa.
Đối với cá nhân:
- Thuận tiện hơn khi tiến hành mua các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ vì bây
giờ họ không còn phải xếp hàng ngồi đợi, thời gian giao dịch rất nhanh và thuận
tiện.
- Tăng khả năng lựa chọn các loại hình sản phẩm hàng hóa dịch vụ: khách hàng
có thể lựa chọn nhà cung cấp nào mang lại cho họ nhiều tiện ích nhất. Khi Thương
mại điện tử xuất hiện, nhiều doanh nghiệp sau khi tiếp cận với lính vực mới này sẽ
mang lại cho khách hàng nhiều dịch vụ hoặc cung cấp hàng hóa cho khách hàng
một cách thuận tiện nhất.


- Tiếp cận mặt hàng dễ dàng hơn: nhờ Thương mại điện tử, khách hàng có thể
tiếp cận với các mặt hàng, dịch vụ không chỉ bằng phương pháp truyền thống mà
còn thông qua các phương tiện điện tử hiện đại, điều này mang lại rất nhiều thuận
lợi cho họ.
- Khách hàng có thể được hưởng các dịch vụ nhiều hơn khi tham gia cào các
giao dịch mua hàng hóa dịch vụ.
Những tác động to lớn của Thương mại điện tử đối với các doanh nghiệp là điều
không phải bàn cãi và ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó. Thương
mại điện tử đã đưa đến cho ngành ngân hàng một loại hình dịch vụ mới: nhanh
chóng, hiệu quả, đó là dịch vụ ngân hàng điện tử.
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đã làm cho nền
kinh tế xích lại gần nhau hơn, không có sự phân tách về mặt địa lý, không gian và
thời gian. Sự phát triển của Thương mại điện tử đã tác động đến ngân hàng, đặt ra
cho ngân hàng những cơ hội và những thách thức mới.
Thương mại điện tử tạo nên một hình thức cạnh tranh mới, buộc ngân hàng
pahir chọn những dịch vụ mà khách hàng cần, quyết định quy mô các chi nhánh
ngân hàng trong hệ thống và mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng.
Sự tham gia của Thương mại điện tử cũng làm nảy sinh các vấn đề về công
nghệ ngân hàng. Các ngân hàng giải quyết được những thách thức này sẽ quyết định
được sự ảnh hưởng của mình đối với thị trường điện tử hóa.
Đứng trước yêu cầu đó, ngân hàng đã cho ra đời nhiều dịch vụ mới: dịch vụ
ngân hàng qua điện thoại sử dụng mã cá nhân, dịch vụ ngân hàng qua mạng internet
mà gọi chung là ngân hàng điện tử.
1.4.2 Môi trường pháp lý.
Môi trương pháp lý là một yếu tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng đến hoạt động
của mọi lĩnh vực đời sống, xã hội. Trong mỗi quốc gia, các ngân hàng chỉ có thể áp
dụng dịch vụ ngân hàng điện tử khi tính pháp lý của nó được thừa nhận (biểu hiện
cụ thể bằng thừa nhận pháp lý giá trị của các giao dịch điện tử, các thanh toán điện
tử, chứng từ điện tử,…) và có các cơ quan xác thực (chứng nhận chữ ký điện tử).


Môi trường pháp lý ổn định sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển của loại hình
dịch vụ mới này vì nó được đảm bảo các hoạt động của chình mình bằng hệ thống
pháp luật của quốc gia mình. Chính vì vậy, môi trường pháp lý của mỗi quốc gia đòi
hỏi ngày càng hoàn thiện hơn, ổn định hơn để đảm bảo thông suốt các hoạt động
của ngân hang điện tử.
1.4.3 Hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin.
Ngân hàng điện tử ra đời như đã phân tích trên là do sự phát triển không ngừng,
mạnh mẽ của công nghệ thông tin. Chính vì vậy, chỉ có thể tiến hành thực tế và một
cách có hiệu quả các hoạt động của ngân hàng điện tử khi có một hạ tầng cơ sở
công nghệ thông tin đủ năng lực. Đòi hỏi về hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin gồm
hai mặt: Một là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ và thiết bị; hai là tính phổ cập
về kinh tế (đủ rẻ để đông đảo người dân có thể tiếp cận được). Do tính chất đặc biệt
quan trọng của công nghệ thông tin trong sự phát triển của ngân hàng điện tử, nên
các ngân hàng muốn phát triển loại hình dịch vụ này cần phải có nguồn vốn quan
trọng ban đầu để đầu tư và hoàn thiện hạ tâng cơ sở công nghệ thông tin của ngân
hàng mình.
1.4.4 Hạ tầng cơ sở nhân lực.
Khi phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử, có thể các ngân hàng giảm được đáng
kể nguồn nhân lực do có nhiều công đoạn được tự động hóa và có máy móc hỗ trợ
đắc lực. Những cũng chính điều này đòi hỏi mỗi nhân viên ngân hàng phải trang bị
cho mình những kiến thức, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu
quả, có thói quen làm việc bằng các phương tiện điện tử hiện đại, đồng thời các
nghiệp vụ ngân hàng lại càng phải nắm chắc hơn, vì họ không còn làm việc trực tiếp
với khách hàng nữa. Ngoài ra, các ngân hàng cần phải có đội ngũ chuyên gia thông
tin đủ mạnh sãn sàng đáp ứng các vấn đề về công nghệ thông tin, đào tạo, cập nhật,
… Con người luôn là nhân tố mang tính quyết đến sự thành công của bất kỳ hoạt
động nào, phát triển nhân lực mạnh mẽ sẽ góp phần to lớn cho những thành công
của ngân hàng điện tử.
1.4.5 Tính cạch tranh.


Cạnh tranh là động lực của sự phát triển, chỉ có cạnh tranh các ngân hàng mới
tử đổi mới mình để khỏi tụt hậu với các ngân hàng khác. Càng cạnh tranh nhiều các
ngân hàng càng phải hoàn thiện mình hơn, đưa ra các dịch vụ tốt hơn, hoàn hảo
hơn, nhiều tiện ích hơn đẻ có thể thu hút nhiều khách hàng hơn.
Ngay nay, các ngân hàng trên thế giới nói chung và các ngân hàng Việt Nam nói
riêng đã nhận thức được tầm quan trọng của ngân hàng điện tử so với ngân hàng
truyền thống nên đã, đang và sẽ lựa chọn, phát triển loại hình dịch vụ ngân hàng
điện tử để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng.
Ngân hàng điện tử là ngân hàng mà các dịch vụ được dung cấp qua các phương
tiện ký thuật điện tử, khách hàng không cần phải đến trực tiếp tại các chi nhánh của
ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được các giao dịch và nắm bắt được thông tin tài
chính của mình. Ngân hàng điện tử ra đời mang lại lợi ích to lớn cho ngân hàng, chi
phí đầu tư và chi phí cho công tác điều hành giảm xuống đáng kể, năng suất lao
động của nhân viên được nâng cao và quan trọng hơn là được khách hàng quan tâm
tới và được đánh giá là những tổ chức hàng đầu về ứng dụng kỹ thuật tiến bộ cho
phép ngân hàng có thể phục vụ khách hàng mọi lúc, mọi nơi.
1.5.Vai trò của hoạt động ngân hàng điện tử trong hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng thương mại


CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG E-BANKING
TẠI NH TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1. Thực trạng phát triển hoạt động e-banking tại Việt Nam
2.1.1. Bối cảnh thúc đẩy sự ra đời và phát triển của ngân hàng điện tử tại
Việt Nam
Cùng với xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập
kinh tế thế giới. Nội dung cơ bản của quá trình này là việc Việt Nam nhất trí thực
hiện các cam kết kinh tế quốc tế trong khuôn khổ các hiệp định, mà nổi bật là Việt
Nam đã ký kết với các tổ chức quốc tế là: Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế
quan có hiệu lực chung cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), diễn đàn hợp
tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), hiệp định thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ và tổ chức thương mại thế giới (WTO). Các cam kết trên đã tác động tới
mọi ngành, trong đó có ngân hàng. Các cam kết trên cho thấy, hội nhập sẽ mở ra
hàng loạt các cơ hội kinh doanh cho các ngân hàng Việt Nam, đông thời cũng đặt
cho ngành này những thách thức to lớn của sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đặc
biệt những ngân hàng quốc tế mở chi nhánh ở Việt Nam. Đứng trước nguy cơ này
các ngân hàng ở Việt Nam buộc phải có chính sách phát triển phù hợp để có thể
tăng khả năng cạnh tranh,và ngân hàng điện tử là sự lựa chọn thích hợp.
2.1.2. Thực trạng phát triển hoạt động ngân hàng điện tử tại Việt Nam.
Ở Việt Nam, dịch vụ ngân hàng điện tử đã được khởi động từ năm 1994, nhưng
phải tới năm 2002, công nghệ thông tin Việt Nam mới đủ sức thích ứng với việc
triển khai loại hình dịch vụ này. Tuy vậy, có thể khẳng định thương mại điện tử nói
chung và ngân hàng điện tử nói riêng vẫn là lĩnh vực tương đối mới mẻ ở Việt Nam.
Trong một cuộc điều tra gần đây của phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam
cho thấy chỉ có 10% số doanh nghiệp tỏ ra quan tâm đến thương mại điện tử, trong
đó có 1%-2% là thực sự triển khai dịch vụ này.
Đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, dù được cho là luôn đi đầu
trong việc phát triển công nghệ, vẫn còn rất nhiều bất cập. Trong số khoảng 100
ngân hàng, bao gồm 6 ngân hàng thương mại nhà nước, gần 50 ngân hàng cổ phần,
4 liên doanh, 24 chi nhánh và gần 30 văn phòng đại diện của các ngân hàng n ước


ngoài, chỉ có số ít (khoảng 15%) là thực sự quan tâm đến dịch vụ ngân hàng điện tử.
Các ngân hàng như: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng TMCP
Á Châu ACB,… là những ngân hàng đi đầu trong việc phát triển dịch vụ này.
2.1.2.1. Hệ thống máy rút tiền tự động
Trước tiên phải kể đến việc triển khai dịch vụ thanh toán thẻ và dịch vụ ngân
hàng tự động qua máy ATM (automatic teller machine) tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam. Đây là hai loại hình dịch vụ phát triển mạnh mẽ ở các ngân hàng
trong thời kỳ gần đây.
Cash card là loại thẻ cho phép rút tiền mặt từ tài khoản tại ngân hàng thông qua
các máy rút tiền tự động ATM. Với mỗi thẻ rút tiền mặt khách hàng sẽ có mã số xác
định chủ thẻ PIN (personal indentification number), mã số xác định chủ thẻ được
bảo mật riêng và chỉ có chủ thẻ mới biết. Ngay lần đầu tiên sử dụng thẻ, chủ thẻ đã
được yêu cầu phải thay đổi mã PIN được cấp trước đó, do vậy tính bảo mật rất cao.
Khi sử dụng máy rút tiền tự động, khách hàng đưa thẻ vào máy và nhập mã số. Sau
đó theo sự chỉ dẫn trên màn hình video, khách hàng có thể rút tiền mặt (nhưng giới
hạn đến một mức nhất định), kiểm tra số dư trên tài khoản của mình hoặc gửi thêm
tiền. Nhiều ngân hàng Việt Nam đã xúc tiến phát hành loại thẻ của riêng ngân hàng
mình đồng thời gia tăng số lượng các máy ATM, trong đó phát triển mạnh nhất là
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, đây được coi là ngân hàng hàng đầu
Việt Nam trong phát triển mạng lưới ATM. Hiện tại, Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam đa có trên 100 máy ATM và đang mở rộng mạng lưới trên 200
máy ATM, doanh số thanh toán năm 2002 đạt gần 1800 tỷ đồng và 6 tháng đầu năm
2003 đạt gần 1000 tỷ đồng.
Cùng ATM, việc phát triển hoạt động thanh toán thẻ cũng rất phát triển ở Việt
Nam. Thị trường thẻ của Việt Nam sôi động với sự tham gia của nhiều ngân hàng
thương mại. Theo đánh giá của của các tổ chức thẻ quốc tế và các chuyên gia ngân
hàng tài chính trong nước thì thị trường thẻ của Việt Nam sẽ còn phát triển mạnh
mẽ hơn trong giai đoạn tiếp theo và đầy tiềm năng cho các ngân hàng đầu tư và phát
triển. Thẻ ATM được đưa vào Việt Nam từ năm 1990 và ngân hàng đầu tiên phát
triển thẻ là Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam. Cũng trong năm này Ngân


hàng Ngoại thương Việt Nam trở thành đại lý thanh toán thẻ Visa đầu tiên ở Việt
Nam của ngân hàng BFCE Singapore, sau đó là đại lý thanh toán thẻ Mastercard
của công ty MBF Malaixia và đại lý thanh toán thẻ JCB của công ty JCB Nhật Bản.
Đến nay, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động của
mình và là một trong số ít các ngân hàng của Việt Nam triển khai đầy đủ cả năm
loại thẻ tín dụng quốc tế là: Visa, JCB, Mastercard, American Express, Diner Club.
Vietcombank cũng là ngân hàng duy nhất ở Việt Nam là đại lý phát hành thẻ
American Express, Vietcombank còn kết hợp với Vietnam Airline để cho ra đời thẻ
Amex Bông Sen Vàng. Đây là loại thẻ có tích điểm cho mỗi lần khách hàng đi máy
bay và thông thường là loại thẻ có hạn mức chi tiêu cao và dành cho KH ở giới
thương gia. Có thể nói, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng khai sinh,
mở rộng và phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam.
Năm 1996 là giai đoạn bắt đầu sôi động của thị trường thẻ với sự tham gia của
nhiều ngân hàng. Nếu như đầu thập kỷ 90 mới chỉ có hai ngân hàng có uy tín được
chấp nhận làm đại lý thanh toán thẻ là Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng
TMCP Á Châu ACB, thì đến thời kỳ này còn có một loạt ngân hàng thương mại nhà
nước và ngân hàng TMCP như: Ngân hàng Công thương, Đông Á, Sài Gòn Thương
Tín,… và các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh cũng đã
triển khai các nghiệp vụ với một số loại thẻ quốc tế. Hạn mức của thẻ Visa/Master
Card chuẩn là 50 triệu đồng hoặc trên 50 triệu đồng đối với thẻ Visa/Master Card
vàng. Với tiện ích sử dụng trước nguồn vốn của ngân hàng để thanh toán tiền hàng
hóa dịch và dịch vụ,… tại gần 7000 điểm chấp nhận thanh toán toán thẻ, như: các
siêu thị, nhà hàng, khách sạn, đại lý vé máy bay, công ty du lịch, cửa hàng bán đồ
lưu niệm,… người sử dụng cũng có thể rút tiền mặt tại hơn 500.000 máy ATM ở
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Khách hàng còn dễ dàng thanh toán các
khoản chi phí, học phí, sinh hoạt phí,…bằng các thẻ Debit quốc tế hoặc thẻ Credit
2.1.2.2. Dịch vụ Internet banking
Internet banking được coi là linh hồn của e-banking, nhưng ở Việt Nam số
lượng các doanh nghiệp triển khai dịch vụ này là rất ít. Thực tế cho thấy rằng, số
lượng các công ty và cá nhân sử dụng internet ở nước ta còn quá thấp (chỉ khoảng


0,2% so với con số 7,98% của toàn thế giới) Chính điều này đã làm hạn chế việc
triển khai internet banking tại Việt Nam. Ngân hàng thương mại trong nước đầu tiên
cung cấp dịch vụ internet banking là Ngân hàng Công thương Việt Nam, đay thực
sự là ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực này, cho dù dịch vụ cung cấp vẫn chưa
thể so sánh với các ngân hàng khác trên thế giới.
2.1.2.3. Dịch vụ thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng
Cùng với các hoạt động triển khai thị trường thẻ, máy rút tiền tự động,.. thì hệ
thống thanh toán bù điện tử liên ngân hàng cũng được đưa vào vận hành chính thức
từ ngày 01/01/2003 thay thế hoàn toàn việc trao đổi trực tiếp chứng từ giấy, nhờ đó
rút ngắn được thời gian chuyển tiền và đảm bảo độ chính xác cao. Hệ thống thanh
toán điện tử liên ngân hàng cũng ngày càng được mở rộng, đến nay, hệ thống đã có
gần 200 chi nhánh của 50 thành viên, tăng gần gấp 4 lần ban đầu (54 chi nhánh, 6
thành viên), số lệnh xử lý mỗi ngày và doanh số thanh toán cũng tăng lên rất nhiều
đã góp phần đẩy mạnh tốc độ thanh toán và mở rộng thanh toán không dùng tiền
mặt trong nền kinh tế. Việc triển khai tích cực của hệ thống thanh toán bù điện tử
liên ngân hàng giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ góp phần thúc đẩy hoạt
động giữa các ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử và như vậy sẽ góp phần
đẩy nhanh tốc độ triển khai e-banking tại Việt Nam.
2.1.2.4 Các dịch vụ khác
Cùng với ATM và các loại thẻ thì từ năm 2002, nhiều ngân hàng đã đưa vào sử
dụng các dịch vụ: dịch vụ ngân hàng tại nhà (home-banking) và dịch vụ ngân hàng
qua điện thoại (phone-banking). Bằng hình thức này, phần lớn các yêu cầu được đáp
ứng là thông báo những thông tin cơ bản như lãi suất, tỷ giá ngoại tệ hàng ngày,
kiểm tra số dư tài khoản,… Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng tại nhà chưa được phổ
biến tại các ngân hàng trong nước mà việc cung cấp dịch vụ này vẫn chủ yếu là do
các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và đối tượng phục vụ chủ yếu là các doanh
nghiệp. Hệ thống ngân hàng thương mại trong nước mới chỉ có duy nhất ở Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam cung cấp dịch vụ này với tên gọi là Vietcombank
Money.


Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào ngành ngân hàng đã mang lại rất nhiều
kết quả đáng khích lệ. Thời gian qua, ngành ngân hàng đã xây dựng được hệ thống
thanh toán liên ngân hàng. Với hệ thống này, thời gian hoàn thành một giao dịch đã
giảm đi đáng kể. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng được hệ thống thông tin điều
hành, quản lý, điều khiển nguồn vốn, quản lý tín dụng,…
Nhành ngân hàng đã đề ra các giải pháp công nghệ thông tin trong thời gian tới
với một số nội dung chủ yếu sau: xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin Việt
Nam tiến tới hiện đại hóa các hoạt động ngân hàng, đưa ra nhiều dịch vụ nhằm đảm
bảo ngân hàng Nhà Nước thông qua hệ thống này thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ
của mình, giám sát các hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng thương mại phải đảm
bảo có các dịch vụ hiện đại, phục vụ tốt nhất cho phát triển kinh tế đất nước và phù
hợp với xu thế phát triển của thế giới.
E-banking là xu hướng phát triển tất yếu của tất cả các ngân hàng trên thế giới
và Việt Nam, có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ quá trình hội nhập, phát triển
kinh tế Việt Nam và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hiện nay, ở Việt Nam đã ngày
càng nhiều các ngân hàng tiếp cận các phương thức kinh doanh mới này và các hoạt
động trên có thẻ coi là những bước thử nghiệm đầu tiên cho phương thức kinh
doanh mới này và kết quả ban đầu là tích cực.
Hiện nay, việc triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử đang diễn ra rất mạnh mẽ ở
nhiều ngân hàng cả quốc doanh, ngân hàng cổ phẩn cũng như những ngân hàng có
vốn của nước ngoài. Chính sự luôn đổi mới của các ngân hàng đã làm cho ngân
hàng điện tử ngày càng có một vị trí vũng chắc trên thị trường tài chính ngân hàng
của Việt Nam.
2.1.3 Đánh giá chung
2.2 Thực trạng phát triển hoạt động ngân hàng điện tử tại Ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam (sau này viết tắt là: Ngân hàng Vietcombank)
2.2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (báo cáo
thuờng niên 2010)


Ngân hàng Vietcombank được thành lập ngày 01/04/1963, với tổ chức tiền thân
là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước), trải qua hơn 47 năm xây dựng
và phát triển, Vietcombank đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và
phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của một ngân hàng đối ngoại
chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước, đồng thời tạo những
ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu. Là ngân
hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn để thực hiện thí điểm
cổ phần hoá, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã chính
thức hoạt động ngày 2 tháng 6 năm 2008, sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ
phần hoá thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày
26/12/2007. Với thế mạnh về công nghệ, Vietcombank là ngân hàng tiên phong
trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng và
không ngừng đưa ra các sản phẩm dịch vụ điện tử nhằm “đưa ngân hàng tới gần
khách hàng” như: Dịch vụ Internet banking, VCB-Money (Home banking), SMS
Banking, Phone banking…
Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày
nay đã phát triển rộng khắp toàn quốc với mạng lưới bao gồm Hội sở chính tại Hà
Nội, 1 Sở giao dịch, gần 400 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty
con tại Việt Nam, 2 công ty con tại nước ngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore,
4 công ty liên doanh, 2 công ty liên kết. Bên cạnh đó VCB còn phát triển một hệ
thống Autobank với gần 16.300 máy ATM và điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS)
trên toàn quốc. Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân
hàng đại lý tại 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Năm 2010-2011 đánh dấu sự thành công của Vietcombank trong việc thay đổi
chiến lược kinh doanh chuyển từ một ngân hàng bán buôn thành một ngân hàng đa
năng trên cơ sở vừa phát huy lợi thế, vừa củng cố, giữ vững vị thế của ngân hàng
bán buôn đồng thời đẩy mạnh hoạt động bán lẻ để đa dạng hoá hoạt động, tối đa hóa
lợi nhuận. Vietcombank đã liên tục nghiên cứu đưa ra thị trường các sản phẩm đa
dạng với tiện ích cao cho các hoạt động: huy động vốn, tín dụng thể nhân, dịch vụ
ngân hàng điện tử, dịch vụ chuyển tiền v.v..,nhiều sản phẩm bán lẻ thu hút được
lượng khách hàng lớn như: dịch vụ ngân hàng hiện đại VCB-Ib@nkìng, VCB-


SMSB@nking; v.v, từng bước khẳng định Vietcombank đang tiến dần vào vị thế
mục tiêu là một trong 5 ngân hàng hàng đầu về dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Với bề dày kinh nghiệm và đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, được đào tạo
bài bản trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, có kiến thức về kinh tế thị trường, trình
độ ngoại ngữ, có khả năng thích nghi nhạy bén với môi trường kinh doanh hiện đại
và mang tính hội nhập cao…,Vietcombank vẫn luôn là sự lựa chọn hàng đầu cho
các tập đoàn lớn, các doanh nghiệp trong và ngoài nước cũng như của 5,2 triệu
khách hàng cá nhân.
Hoạt động quản trị của Vietcombank cũng tiếp tục được thực thi theo quan điểm
đièu hành linh hoạt và quyết liệt, tạo đột phá trong hoạt động bản lẻ đi đôi với đẩy
mạnh bán buôn, bám sát với diễn biến thị trường từng bước đưa ngân hàng phát
triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp và hiệu quả, với mục tiêu chiến lược đưa
Vietcombank trở thành tập đoàn tài chính đa năng nằm trong Top 70 các định chế
tài chính lớn nhất châu Á và giữ vị thế hàng đầu tại Việt Nam.
2.2.2 Thực trạng phát triển hoạt động e-banking tại Ngân hàng
Vietcombank
2.2.2.1 Sự ra đời và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng
Vietcombank
Như chúng ta đã biết, vào cuối thể kỷ 20, ngành công nghệ thông tin học phát
triển cực mạnh và việc áp dụng công nghệ thông tin vào ngành ngân hàng ngày một
nhanh chóng và rộng khắp. Nền kinh tế nước ta đã mở rộng cánh của với chủ
trương phát triển kinh tế của Đảng là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sớm đưa
nước ta thoát khỏi nghèo đói và mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế
của nước ta là “Đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt
đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng
an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được hình
thành về cơ bản: vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×