Tải bản đầy đủ

Hỏi đáp môn triết học của cao học khối tn CN

1
TS. Nguyễn Văn Thiện
Hỏi đáp môn triết học của cao học khối tn & CN
(120 phút)
Xin lưu ý
1) Câu nào có những dòng gạch chân là để tham khảo thêm
2) Nội dung rất dài nên có thể rút gọn khi trình bày, đồng thời cần bổ sung thêm những suy
luận sáng tạo của học viên.
**********************************
Câu 1: Trình bày các nội dung vấn đề cơ bản của triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học:
Mối quan hệ giữa giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa vật chất và ý thức, hay giữa tự
nhiên và tinh thần được gọi là "vấn đề cơ bản lớn" hay "vấn đề tối cao" của triết học. Ph.Ăngghen viết:
"Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với
tồn tại"1.
Quan hệ giữa tư duy và tồn tại, hay giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học bởi vì:
* Dựa vào việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học để làm chuẩn mực phân biệt CNDV và
CNDT cùng các hình thái lịch sử của chúng.
* Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học quyết định sự hình thành thế
giới quan và phương pháp luận của các nhà nghiên cứu; xác định bản chất của các trường phái triết học đó.
* Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để giải quyết các vấn đề khác của triết học.

Các nội dung vấn đề cơ bản của triết học:
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau và cái
nào quyết định?
Việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai
trường phái lớn. Những nhà triết học cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức
của con người được gọi là các nhà duy vật; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của
CNDV. Ngược lại, những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên được gọi là các nhà duy
tâm; họ hợp thành những môn phái khác nhau của CNDT.
CNDV có các hình thái cơ bản: CNDV chất phác, ngây thơ thời cổ đại, CNDV máy móc, siêu
hình thế kỷ XVII - XVIII, CNDV biện chứng.
CNDT tồn tại dưới hai dạng chủ yếu: CNDT khách quan và CNDT chủ quan
Một trường phái triết học được gọi là nhất nguyên luận (duy vật hoặc duy tâm) khi lấy việc thừa
nhận chỉ một trong hai nguyên thể (vật chất hoặc ý thức) là cái có trước và quyết định cái kia, nghĩa là cho
rằng thế giới chỉ có một nguồn gốc duy nhất. Trong lịch sử triết học ngoài những nhà duy vật và duy tâm
có quan điểm nhất nguyên còn có những nhà triết học xem vật chất và ý thức là hai nguyên thể song song
tồn tại, không cái nào có trước; chúng là hai nguồn gốc tạo nên thế giới. Học thuyết triết học của họ là nhị
nguyên luận mà Đềcáctơ là đại biểu. Có nhà triết học, như Lépnít (người Đức) chẳng hạn, lại cho rằng vạn
vật là do vô số nguyên thể độc lập cấu thành. Đó là quan điểm đa nguyên luận triết học.
Triết học nhị nguyên luận biểu hiện tính không triệt để khi giải đáp mặt thứ nhất của vấn đề cơ
bản của triết học, vì vậy, nó thường sa vào CNDT. Còn đa nguyên luận triết học là một học thuyết triết học
duy tâm.
Nội dung vừa trình bày trên của câu 1 (Mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học trả lời
cho câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định?) có thể
diễn đạt lại gọn hơn là:
- CNDV: Vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức ...
- CNDT: ý thức có trước vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất ...
- Thuyết nhị nguyên: cho rằng vật chất và ý thức là hai nguyên thể song song tồn tại, không
cái nào có trước; chúng là hai nguồn gốc tạo nên thế giới ...

1

C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hn, 1995, t.21, tr.403


2
Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: ý thức của chúng ta có thể phản ánh trung thực thế giới khách
quan hay không? Nói cách khác, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
Đa số các nhà triết học (cả các nhà duy vật và các nhà duy tâm) khẳng định con người có khả
năng nhận thức được thế giới:


Các nhà triết học duy vật xuất phát từ chỗ cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau và là sự phản
ánh của vật chất nên khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thế giới khách quan.
Các nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận thế giới là có thể nhận thức được. Nhưng vì họ xuất
phát từ quan niệm cho rằng ý thức có trước vật chất, vật chất phụ thuộc vào ý thức nên theo họ nhận thức
không phải là phản ánh thế giới mà chỉ là tự nhận thức, tự ý thức về bản thân ý thức. Chẳng hạn, Hêghen
(duy tâm khách quan) cho rằng, quá trình con người nhận thức giới tự nhiên chẳng qua là quá trình "ý niệm
tuyệt đối" tự nhận thức bản thân mình. Còn Béccơli (duy tâm chủ quan), cho rằng nhận thức chỉ là phức
hợp của các cảm giác mà thôi.
Tuy nhiên, cũng có một số nhà triết học cho rằng con người không thể nhận thức được thế giới
hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó. Học thuyết của họ được gọi là "thuyết không thể
biết". Đại biểu nổi tiếng nhất của những người theo thuyết "không thể biết" là Hium (nhà triết học Anh) và
Cantơ (nhà triết học Đức). Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào,
mà cũng không biết được sự vật đó có tồn tại hay không. Còn Cantơ thì thừa nhận có một thế giới sự vật
tồn tại, ông gọi đó là "vật tự nó"; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới ấy mà chỉ là
nhận thức được những hiện tượng của nó mà thôi.
Vấn đề mà những người theo thuyết không thể biết đặt ra và đã không giải quyết được là: làm thế
nào để biết được rằng những cảm giác, biểu tượng và nói chung ý thức của con người có phù hợp với sự
vật mà con người muốn nhận thức hay không? Nhưng nếu từ đó đi tới phủ nhận khả năng nhận thức thế
giới của tư duy con người, phủ nhận chân lý khách quan lại là sai lầm và rơi vào CNDT.
Sai lầm trên ở trào lưu triết học "hoài nghi luận" mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ
đại). Những người theo hoài nghi luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức
đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt chân lý khách quan.
Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư
tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời Trung cổ vì nó thừa nhận sựạp. Bản chất của sự sống là một quá trình phát triển biểu hiện tính thống nhất, tính liên hệ của
thế giới tự nhiên.

22

C.Mác và Ph.Ăngghen (1994),Toàn tập, t.20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.471.


16
Năm 1859, Đácuyn, một nhà sinh học nổi tiếng của Anh đã xây dựng lý luận duy vật về nguồn
gốc và sự phát triển của các thực thể sinh vật, qua học thuyết tiến hóa. Học thuyết tiến hóa là sự chứng
minh có căn cứ về quá trình vận động, biến đổi từ thấp đến cao của động vật và thực vật, thông qua quá
trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo. Đây là cơ sở để khẳng định nguồn gốc duy vật về sự hình thành và phát
triển của sự sống, đối lập với sự sáng tạo ra thế giới mang tính chất thần thánh của chủ nghĩa duy tâm, tôn
giáo.
Câu 9. Anh (chị) hãy phân tích vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối
với sự phát triển của khoa học.
* Khi nói tới vai trò thế giới quan và phương pháp luận bao giờ cũng được thể hiện thông qua chủ
thể hoạt động - tức con người.
* Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, vì thế nó tác động trở lại tồn tại xã hội
thông qua hoạt động của con người. Tùy thuộc vào lập trường duy vật hay duy tâm; phương pháp luận biện
chứng hay siêu hình mà sự tác động của nó sẽ đưa lại những kết quả khác nhau trong hoạt động thực tiễn
của con người - chủ thể hoạt động (cả hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn).
- Thế giới quan:
Triết học ra đời từ đời sống xã hội. Những vấn đề được triết học đặt ra và tìm lời giải đáp trước
hết là những vấn đề thế giới quan.
Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người và xã hội loài người.
Bằng một hệ thống các quan niệm về thế giới, con người tìm cách khám phá những bí mật của thế giới tự
nhiên vì đó là môi trường tồn tại, là "thân thể vô cơ" của nó, vì bản thân con người cũng là sản phẩm và là
một bộ phận của thế giới.
Mọi vấn đề thế giới quan đều nảy sinh từ đời sống con người. Đến lượt mình, thế giới quan đã
được hình thành lại trở thành nhân tố định hướng cho con người tiếp tục quá trình nhận thức thế giới.
Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển
như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại.
Đó là chức năng thế giới quan của triết học.
CNDV và CNDT là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng
đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập và cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT
trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng
xã hội đối lập nhau.
Cuộc đấu tranh trong triết học, đương nhiên, không phải ở đâu và khi nào cũng gắn liền với cuộc
đấu tranh trên lĩnh vực chính trị - xã hội. Nhưng lịch sử đã chứng kiến, CNDV triết học đã biểu hiện thế
giới quan và góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của tầng lớp chủ nô dân chủ (chủ nô tiến bộ) chống tầng
lớp chủ nô quý tộc (chủ nô bảo thủ), của giai cấp tư sản chống giai cấp phong kiến, của khoa học chống tôn
giáo; ngược lại, CNDT đã sử dụng làm công cụ biện hộ về lý luận cho các giai cấp thống trị và các lực
lượng phản động.
- Phương pháp luận:
Cùng với chức năng thế giới quan triết học còn có chức năng phương pháp luận. Sự phát triển
của triết học không chỉ diễn ra trong cuộc đấu tranh giữa CNDV với CNDT mà còn là cuộc đấu tranh giữa
hai phương pháp xem xét cơ bản đối lập nhau.
Một lý luận triết học, khi lý giải các sự vật, hiện tượng theo một quan điểm nhất định, đã đồng
thời thể hiện một phương pháp xem xét nhất định, hơn nữa, còn là một quan điểm chỉ đạo về phương pháp.
Do đó một học thuyết triết học không những thể hiện ra là một thế giới quan nhất định mà còn là một
phương pháp chung nhất của sự xem xét thế giới - biện chứng hoặc siêu hình.
Phương pháp luận là một hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những
cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn cùng với bản thân học thuyết về hệ
thống đó.
Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung của toàn bộ nhận thức khoa học; trong đó
bản thân thế giới quan cũng đã mang một ý nghĩa về phương pháp luận (sự khác nhau giữa thế giới quan
và phương pháp luận chỉ có ý nghĩa tương đối).
Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của khoa học
Triết học là cơ sở để giải thích và định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của các khoa học.
Triết học có vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của khoa học:
Triết học trước Mác là không triệt để. Duy vật nhưng siêu hình, còn phép biện chứng lại trong vỏ
bọc duy tâm thần bí. Bởi vậy, nó không trở thành công cụ khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới.


17
Sự hạn chế trong tư tưởng triết học sẽ dẫn tới cản trở khoa học và hoạt động thực tiễn. Thời kỳ
Trung cổ ở Tây Âu, do sự thống trị của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo đã kìm
hãm sự phát triển của khoa học cũng như triết học. Nhiều nhà khoa học bị giáo hội Thiên chúa giáo truy
lùng, bắt bớ, tù đày, giết hại. Những nhà khoa học như Brunô bị thiêu sống trên giàn lửa, Côpécních bị
hành hình ... Bởi mỗi phát minh của khoa học lúc đó sẽ chống lại các tín điều tôn giáo ...
Sự ra đời của triết học Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX đã trở thành công cụ nhận thức và
cải tạo thế giới.
Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy
vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất chủ
nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành
lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả về giới tự nhiên cũng như đời
sống xã hội và tư duy con người.
Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khác quát sự vận động và phát triển của
hiện thực; do đó, nó không chỉ là lý luận về về phương pháp mà còn là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là
lý luận về thế giới quan.
Hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật mácxít, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại
đã trở thành nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên tắc xuất
phát của phương pháp luận.
Như vậy, trong triết học mácxít, thế giới quan và phương pháp luận thống nhất với nhau một cách
hữu cơ. Nắm vững triết học Mác - Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan khoa học mà còn là xác
định một phương pháp lận đúng đắn. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích
cụ thể theo tinh thần biện chứng; đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tùy tiện trong việc vận dụng
phương pháp biện chứng. Sự thống nhất thế giới quan và phương pháp luận khoa học làm cho triết học
Mác, như V.Lênin nhận xét: "chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị", đồng thời là "công cụ nhận thức vĩ đại".
Tuy nhiên, triết học Mác - Lênin không thay thế cho các bộ môn khoa học khác trong việc nhận
thức thế giới. Nó đoạn tuyệt với quan niệm xem triết học là "khoa học của các khoa học" như tham vọng
của nền triết học tự nhiên trước kia, mà xem sự gắn bó với các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho
sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác - Lênin đưa lại thế giới quan và phương pháp luận
đúng đắn cho sự phát triển của khoa học. A.Anhxtanh, nhà vật lý nổi tiếng của thế kỷ XX đã nhận xét:
"Các khái quát hóa triết học cần phải dựa trên các kết quả khoa học. Tuy nhiên, một khi đã xuất hiện và
được truyền bá rộng rãi, chúng thường ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng khoa học khi chúng chỉ ra
một trong rất nhiều phương pháp phát triển có thể có" 23.
Chính vì vậy, để đẩy mạnh sự phát triển của khoa học cụ thể cũng như của bản thân triết học, sự
hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần
thiết. Ngày nay, trong kỷ nguyên khoa học và công nghệ, sự gắn bó đó càng trở nên đặc biệt quan trọng.
Trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, cuộc đấu tranh duy vật với duy tâm
không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình
đó lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri
thức hết sức lớn lao của các khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy
vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất
phương hướng và đi đến những kết luận sai lầm về triết học, thậm chí "sa vào chỗ dị đoan ngu xuẩn nhất,
sa vào thần linh học" 24.
Cùng với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, các trào lưu cách mạng xã hội đã và đang tạo
nên sự biến đổi sâu sắc và hết sức năng động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự thực hiện những
nhiệm vụ to lớn nhằm mục tiêu tiến bộ xã hội do thời đại đặt ra đòi hỏi ở con người thế giới quan khoa học
vững chắc và năng lực tư duy sáng tạo.
Từ sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội mà triết học Mác trở thành
thế giới quan khoa học và phương pháp luận chung cần thiết cho sự phát triển tiếp tục của khoa học. Việc
hiểu biết các quy luật chung nhất của hiện thực khách quan sẽ giúp nghiên cứu có kết quả các quy luật đặc
thù. Điều này V.I.Lênin đã đánh giá rất lớn:
“Nếu không có một cơ sở triết học vững vàng thì tuyệt nhiên không có khoa học tự nhiên nào hay
chủ nghĩa duy vật nào có thể tiến hành đấu tranh chống được sự lấn bước của những tư tưởng tư sản và sự
phục hồi của thế giới quan tư sản. Muốn tiến hành cuộc đấu tranh ấy và đưa nó đến thành công hoàn toàn;
23
24

I.A.Anhxtanh và Inphendơ: Sự phát triển của vật lý học, Mátxcơva, tr.48 (tiếng Nga).
C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tập 20, tr. 508.


18
nhà khoa học tự nhiên phải là một nhà duy vật hiện đại, một đồ đệ tự giác của chủ nghĩa duy vật mà
C.Mác là người đại diện, nghĩa là nhà khoa học tự nhiên ấy phải là một nhà duy vật biện chứng”. Luận
điểm đánh giá này cũng đúng cho tất cả các khoa học xã hội.
Câu 10. Anh (chị) hãy phân tích vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của
xã hội.
1. Khoa học
Khoa học là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bởi
thực tiễn phản ánh dưới dạng lôgíc trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những mối liên hệ bản chất,
những quy luật của tự nhiên, xã hội và bản thân con người.
Sự ra đời và phát triển của khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người. Khoa học giữ một
vai trò đặc biệt trong hoạt động của con người và vai trò đó ngày càng tăng lên trong đời sống xã hội.
Trong thời đại ngày nay, mọi bước tiến quan trọng của lịch sử đều xuất phát từ tri thức khoa học và vai trò
của khoa học trở nên to lớn đến mức có thể gọi thời đại ngày nay là thời đại khoa học và công nghệ.
Đặc điểm của khoa học:
- Khoa học là một dạng hoạt động phức hợp của con người, bao gồm hoạt động tinh thần và hoạt
động vật chất, lý luận khoa học và thực tiễn khoa học. Nhưng với tư cách là một hình thái ý thức xã hội,
khoa học có nhiều đặc điểm riêng khác với các hình thái ý thức xã hội khác về nội dung, về phương thức
hoạt động, về quy luật phát triển và về chức năng xã hội.
- Khoa học tồn tại dưới dạng hệ thống lý luận chung nhất hoặc dưới dạng cụ thể của các tri thức
khoa học chuyên ngành.
- Tri thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác hình thành nên các khoa học
tương ứng với từng hình thái đó. Thí dụ: đạo đức và đạo đức học, chính trị và chính trị học, nghệ thuật và
các khoa học nghiên cứu nghệ thuật v.v..
- Khoa học không chỉ khác với các hình thái ý thức xã hội khác mà còn khác với nhận thức thông
thường.
Khoa học trong mọi thời đại xét đến cùng là do sản xuất quyết định. Chính nhu cầu của thực tiễn
sản xuất, của xã hội là cơ sở, là động lực phát triển của khoa học. Tuy nhiên, khoa học có tính độc lập
tương đối của nó.
2. Cách mạng khoa học - công nghệ và hậu quả của nó
Bản chất của khoa học - công nghệ
Từ giữa thế kỷ XX nhân loại đã bước vào “cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật” với sự ra đời của
sản xuất tự động hóa. Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật mà ngày nay, giai đoạn mới của nó là khoa học
và công nghệ đã và đang đem lại những thành tựu kỳ diệu cho loài người, tác động to lớn đến tất cả các
nước trên thế giới dù có những chế độ chính trị xã hội khác nhau.
Cách mạng khoa học và công nghệ là bước nhảy vọt về chất trong việc nhận thức giới tự nhiên và
vận dụng các quy luật của nó. Bản chất của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại chính là ở chỗ cải
biến về chất các lực lượng sản xuất hiện có trên cơ sở biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Trước kia, khoa học chủ yếu là tổng kết từ thực nghiệm và sản xuất trực tiếp; còn ngày nay,
nghiên cứu khoa học dẫn đến tạo ra kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới và muốn giải quyết những vấn đề kỹ
thuật, công nghệ đòi hỏi phải nghiên cứu cơ bản, trực tiếp từ khoa học. Nhiều ngành sản xuất mới ra đời
trên nền tảng của các thành tựu khoa học. Sản xuất ngày càng trở thành sự áp dụng khoa học vào thực tiễn
kỹ thuật và công nghệ. Tri thức khoa học được vật hóa, được kết tinh vào mọi yếu tố của lực lượng sản
xuất - tức là đối tượng lao động, kỹ thuật và quá trình công nghệ - và cả trong những hình thức tổ chức của
sản xuất. Tri thức khoa học còn được bao hàm trực tiếp trong hoạt động của người lao động sản xuất, trở
thành một bộ phận không thể thiếu được, khăng khít của mỗi người làm việc trong quá trình sản xuất, dần
dần chiếm địa vị chủ đạo thay cho thói quen và kinh nghiệm thông thường. Người lao động sản xuất chủ
yếu sẽ không phải là đối tượng hóa sức lao động của mình mà chủ yếu là vận dụng tri thức khoa học để
điều khiển, kiểm tra quá trình sản xuất tự động hóa, đề xuất sáng kiến, sử dụng hợp lý thiết bị, nguyên liệu,
năng lượng và để tổ chức hoạt động của mình một cách có hiệu quả nhất. Việc quản lý sản xuất và các quá
trình công nghệ (nhất là các hệ thống quản lý tự động) chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở khoa học. Đồng
thời, hoạt động nghiên cứu khoa học và thiết kế tham gia vào kết cấu của quá trình sản xuất như một mắt
khâu trực tiếp. Như vậy, khoa học không còn đứng bên ngoài sản xuất mà chuyển thành một mắt khâu bên
trong, thống nhất chặt chẽ với những mắt khâu khác của sản xuất.
Ngoài ra, khoa học còn trở thành một ngành hoạt động của sản xuất vật chất với quy mô ngày
càng lớn, bao hàm hàng loạt những viện, trường, phòng, trạm trại và cả nhiều xí nghiệp nữa. Đội ngũ
những người làm công tác khoa học tăng lên nhanh chóng và không ngừng. Ngân sách đầu tư cho khoa học


19
mỗi ngày chiếm tỉ lệ càng cao và hiệu quả đầu tư ngày càng lớn. Có thể coi khoa học như một ngành
kinh tế quốc dân đặc biệt - ngành sản xuất ra tri thức mới.
Những hậu quả xã hội của cách mạng khoa học và công nghệ
Giữa tiến bộ xã hội và tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ có liên quan mật thiết với nhau. Tùy
thuộc vào chế độ xã hội mà vai trò, tính chất phát triển của khoa học cũng như của cách mạng khoa học kỹ thuật cùng những hậu quả xã hội do chúng đem lại cũng sẽ rất khác nhau.
Chủ nghĩa tư bản dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để áp bức và bóc lột quần
chúng lao động. Giai cấp tư sản coi khoa học là phương tiện để tăng lợi nhuận, là phương tiện để duy trì và
bảo vệ chủ nghĩa tư bản, để củng cố sự thống trị của mình. Nên giai cấp tư sản đã khuyến khích sự phát
triển của khoa học; đẩy nhanh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, sử dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ vào kinh tế và quân sự, quan tâm đầu tư lớn cho khoa học. Sự thật hiển nhiên là, cùng với sự phát
triển của tự động hóa thì nạn thất nghiệp cũng tăng lên, sự phân cực xã hội ngày càng sâu sắc.
Trong chủ nghĩa xã hội, tiến bộ khoa học và công nghệ hướng về con người, bởi mục đích cao
nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, phát triển con người toàn diện.
Nước ta đang trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội nên khoa học và công nghệ có vị trí vô cùng
quan trọng. Nhiệm vụ của chúng ta là phải cấp thiết làm cho khoa học và công nghệ thật sự trở thành động
lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×