Tải bản đầy đủ

BC BDTX GV 2018 2019

TRƯỜNG THPT KHÁNH AN
TỔ KHOA HỌC TỰ NHIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Khánh An, ngày … tháng … năm 2019

BÁO CÁO
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA GIÁO VIÊN
NĂM HỌC 2018-2019
Họ và tên giáo viên: LÊ KIM THÙY
Ngày tháng năm sinh: 11/09/1987
Tổ chuyên môn: TỔ KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Năm vào ngành giáo dục: 2012
Nhiệm vụ được giao trong năm học: Tin học lớp 10C2, 10C3, 11C3, 11C4
I.

NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 1: THEO KẾ HOẠCH HT

II.
III.


NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2: THEO KẾ HOẠCH HT
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 3:
1. THPT 1: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
2.
3. THPT 10: RÀO CẢN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT
4. THPT 12: Khắc phục trạng thái tâm lí căng thẳng trong học tập cho học sinh
THPT
KẾT QUẢ - NỘI DUNG BDTX

1. THPT 1: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1

VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA LỨA TUỔI HỌC SINH THPT

Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì
và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi, được chia
làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)
Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó được
giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý. Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào
nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng
thành về mặt xã hội. Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao
động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi. Chính vì vậy mà các nhà tâm lý
học Macxit cho rằng: Khi nghiên cứu tuổi thanh nên thì cần phải kết hợp với quan điểm của tâm
lý học xã hội và phải tính đến quy luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi. Do sự phát triển của
xã hội nên sự phát triển của trẻ em ngày càng có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng
trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế hệ trước, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm
hơn khoảng 2 năm. Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn. Nhưng việc phát triển tâm lý


của tuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã
hội (vị trí của thanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và
một loạt nhân tố khác…) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi. Trong thời đại ngày nay, hoạt
động lao động và xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em kéo dài làm cho sự
trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm. Do đó có sự kéo dài của thời kì tuổi thanh
niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các em được coi là người lớn,
nhưng mặt khác thì lại không). Điều đó cho ta thấy rằng thanh niên là một hiện tượng tâm lý


xã hội.
1.2
1.2.a

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỌC SINH
THPT
Đặc điểm về sự phát triển thể chất

Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự phát triển thể
chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân đối. Cơ thể của các em đã đạt tới
mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người
lớn. Các em có thể làm những công việc nặng của người lớn. Hoạt động trí tuệ của các em có
thể phát triển tới mức cao. Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình
thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn. Tư duy ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí
có điều kiện phát triển mạnh. Ở tuổi này, các em dễ bị kích thích và sự biểu hiện của nó cũng
giống như ở tuổi thiếu niên. Tuy nhiên tính dễ bị kích thích này không phải chỉ do nguyên nhân
sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân (như hút thuốc lá, không giữ
điều độ trong học tập, lao động, vui chơi…)
Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên. Thể
chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người ta hay nói: “Tuổi 17
bẻ gãy sừng trâu”. Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý
và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em.
1.2.b
2.1

Điều kiện sống và hoạt động
Vị trí trong gia đình

Trong gia đình, các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt
đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình. Các em cũng thấy được
quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình. Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề
nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình. Có thể nói rằng cuộc sống của
các em trong độ tuổi này là vừa học tập vừa lao động.
2.2

Vị trí trong nhà trường

Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp
và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên. Đòi hỏi các em tự giác, tích cực độc lập hơn, phải biết
cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo. Nhà trường lúc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì
nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức mà còn có tác dụng
hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em. Việc gia nhập Đoàn TNCS HCM trong
nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần
trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình.
2.3 Vị trí ngoài xã hội


Xã hội đã giao cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt
động bình đẳng như người lớn. Tất cả các em đã có suy nghĩ về việc chọn nghề. Khi tham gia
vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội
được mở rộng,các em có dịp hòa nhập và cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em
tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này.
Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh THPT, các em có hình dáng người lớn, có những nét của
người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn. Thái độ đối xử của
người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó là : Một mặt người lớn luôn nhắc
nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và
thái độ hợp lý. Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của
người lớn…
1.3
1.3.a

HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ

Hoạt động học tập

Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với học sinh THPT nhưng yêu cầu cao
hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em. Muốn lĩnh hội được sâu sắc các
môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao.
Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những
điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ. Hứng thú học tập
của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa
dạng, sâu sắc và bền vững hơn.
Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt. Học sinh đã
lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước
ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập. Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên
mạnh mẽ. Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái
vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành
trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao
động của xã hội. Điều này đã làm cho học sinh THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo
quan điểm tương lai của mình. Các em bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học. Rất
hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau với các môn học. Do vậy, giáo viên phải làm cho
các em học sinh hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp
và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh.
Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên
xác định và được thể hiện rõ ràng hơn. Các em thường bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng
đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó. Điều này đã kích thích
nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thúc trong các lĩnh vực tương ứng. Đó là những
khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em. Nhà trường cần có những hình
thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp để tạo
ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc của các em.
1.3.b

Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ

Lứa tuổi học sinh THPT là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển trí tuệ. Do cơ thể các
em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển
các năng lực trí tuệ.
Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn. Quá trình quan sát gắn
liền với tư duy và ngôn ngữ. Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở


các em. Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ
nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết
luận vội vàng không có cơ sở thực tế.
Trí nhớ của học sinh THPT cũng phát triển rõ rệt. Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo
trong hoạt động trí tuệ. Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện
pháp ghi nhớ một cách khoa học. Có nghĩa là khi học bài các em đã biết rút ra những ý chính,
đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu,
so sánh. Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ,
trường hợp nào càn diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi
nhớ. Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có những em có thái độ coi
thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài.
Hoạt động tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh. Các em đã có khả năng tư duy lý
luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập và sáng tạo hơn. Năng lực phân tích, tổng hợ, so sánh,
trừu tượng hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu
tượng. Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những quy luật và nguyên tắc chung của các hiện
tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu…Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy
sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học. Trước một vấn đề các em thường đặt
những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn. Thanh
niên cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những
câu triết lý.
Nhìn chung tư duy của học sinh THPT phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy
bén hơn. Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh. Tuy nhiên, ở
một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản
thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư
duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng.
Việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của người giáo viên.
1.4

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CHỦ YẾU CỦA HỌC SINH THPT

1.4.a Sự phát triển của tự ý thức
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó
có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này. Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu
cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã
hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời
sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng. Các em không chỉ nhận thức về cái
tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai. Các em không
chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong. Các em có
khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi
đánh giá. Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá
tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…
Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc nhưng đôi
khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của người lớn. Một mặt, người lớn phải
lắng nghe ý kiến của em các, mặt khác phải giúp các em hình thành được biểu tượng khách
quan về nhân cách của mình nhằm giúp cho sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn,
tránh những lệch lạc, phiến diện trong tự đánh giá. Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho
các em có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cách của bản thân.


1.4.b Sự hình thành thế giới quan
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các em sắp bước vào
cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về
các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người. Các em quan tâm đến
nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với
tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn
có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu
như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích
có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ hoặc sống thụ động…
Nhìn chung, ở tuổi này các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây
dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày. Các em có thể hiểu sâu
sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện
khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó. Vì vậy, giáo viên phải
khéo léo, tế nhị khi phê phán những hình ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn cho
mình một hình ảnh lý tưởng đúng đắn để phấn đấu vươn lên.
1.4.c Xu hướng nghề nghiệp
Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân và các
phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy. Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt
động và điều chỉnh hoạt động của các em . Càng cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng
được thể hiện rõ rệt và mang tính ổn định hơn. Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể
chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp. Tuy vậy, sự hiểu biết về yêu
cầu nghề nghiệp của các em còn phiến diện, chưa đầy đủ, vì cậy công tác hướng nghiệp cho
học sinh có ý nghĩa quan trọng. Qua đó giúp cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp sao cho phù
hợp với hứng thú, năng lực và phù hợp với yêu cầu của xã hội.
1.4.d Hoạt động giao tiếp
- Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu cầu
sống cuộc sống tự lập. Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình
cảm và tự lập về đạo đức, giá trị.
- Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh. Trong tập thể,
các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể.
Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có những người được nhiều người
yêu mến và có những người ít được bạn bè yêu mến. Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về
nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân.
- Tình bạn đối với các em ở tuổi này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tình bạn thân
thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiêm, ước mơ, lí tưởng, cho
phép các em học được cách nhận xét, đánh giá về mình. Nhưng tình bạn ở các em còn mang
màu sắc xúc cảm nhiều nên thường có biểu hiện lí tưởng hóa tình bạn. Có nghĩa là các em
thường đòi hỏi ở bạn mình phải có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế
của bạn.
- Ở tuổi này cũng đã xuất hiện môt loại tình cảm đặc biệt – tình yêu nam nữ. Tình yêu
của lứa tuổi này còn được gọi là “tình yêu bạn bè”, bởi vì cá em thường che giấu tình cảm của
mình trong tình bạn nên đôi khi cũng không phân biệt được đó là tình bạn hay tình yêu. Do vậy
mà các em không nên đặt vấn đề yêu đương quá sớm vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc học tập. Tình
yêu của nam nữ thanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng vì thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị từ


chối, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương. Giáo viên cần thấy rằng đây là bắt đầu
một giai đoạn bình thường và tất yếu trong sự phát triển của con người. Tình yêu ở lứa tuổi
thanh niên về cơ bản là tình cảm lành mạnh, trong sáng nhưng cũng là một vấn đề rất phức
tạp, nó đòi hỏi sự khéo léo tế nhị của giáo viên. Một mặt giáo viên phải làm cho các em có
thái độ đúng đắn trong quan hệ tình cảm với bạn khác giới, phải làm cho các em biết kìm chế
những cảm xúc của bản thân; mặt khác, phải nghiên cứu từng trường hợp cụ thể để đưa ra
cách giải quyết thích hợp. Bất luận trong trường hợp nào cũng đều không được can thiệp
một cách thô bạo, không chế nhạo, phỉ báng, ngăn cấm độc đoán, bất bình mà phải có một
thái độ trân trọng và tế nhị, đồng thời cũng không được thờ ơ, lãnh đạm tránh những phản
ứng tiêu cực ở các em.
1.5 . MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI HỌC SINH THPT
Học sinh THPT được sinh ra trong một môi trường xã hội có nhiều thuận lợi, nhưng ở
các em cũng có những ưu điểm và nhược điểm mà trong công tác giáo dục cần lưu ý:
- Ở một số thanh niên tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu còn yếu, trình độ giác ngộ
về xã hội còn thấp. Các em có thái độ coi thường lao động chân tay, thích sống cuộc sống xa hoa
lãng phí, đua đòi, ăn chơi…
- Thanh niên là lứa tuổi mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái đẹp
hình thức nên dễ bị cái đẹp bề ngoài làm lung lay ý chí, có mới nới cũ…
- Thanh niên rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, rất lạc quan yêu đời nhưng cũng dễ
bi quan chán nản khi gặp thất bại.
- Thanh niên là tuổi đang phát triển về tài năng, tiếp thu cái mới nhanh, rất thông minh
sáng tạo nhưng cũng dễ sinh ra chủ quan, nông nổi, kiêu ngạo ít chịu học hỏi đến nơi đến chốn
để nâng cao trình độ. Các em thích hướng đến tương lai, ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá
khứ.
* Một số vấn đề GVCN cần lưu ý trong công tác giáo dục học sinh THPT
- Trước hết, cần chú ý xây dựng mối quan hệ tốt giữa học sinh với giáo viên (với tư cách
là người lớn) được dựa trên quan hệ bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Người lớn phải thực sự tin
tưởng vào các em, tạo điều kiện để các em thỏa mãn tính tích cực, độc lập trong hoạt động. Tạo
điều kiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các em bằng cách tổ chức các dạng hoạt động
khác nhau để lôi kéo các em tham gia vào đó một cách tích cực nhằm giáo dục lẫn nhau và tự
giáo dục.
- Giúp đỡ tổ chức Đoàn thanh niên một cách khéo léo tế nhị để hoạt động Đoàn được
phong phú hấp dẫn và độc lập. Người lớn không được quyết định thay hay làm thay cho các em.
Nếu làm thay các em sẽ cảm thấy mất hứng thú, cảm thấy phiền toái khi có người lớn.
- Người lớn cần phối hợp các lực lượng giáo dục để tạo nên sức mạnh tổng hợp đến các
em ở mọi nơi, mọi lúc theo một nội dung thống nhất.
- Nhìn chung thanh niên mới lớn là thời kỳ đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời con
người. Đây là thời kì lứa tuổi phát triển một cách hài hòa, cân đối, là thời kì có sự biến đổi lớn
về chất trong toàn bộ nhân cách để các em sẵn sàng bước vào cuộc sống tự lập. Do đó, giáo viên
chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của lứa tuổi này để có nội dung, phương pháp giáo dục
thích hợp nhằm đem lại hiệu quả tối ưu trong hoạt động sư phạm.
- Ưu điểm:


+ Hiểu được tâm lý của học sinh THPT từ đó có phương pháp giảng dạy và giáo dục phù hợp.
Xây dựng mối quan hệ tốt giữa học sinh với giáo viên
+ Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho HS thông qua bộ môn GDCD
+ Định hướng tư vấn nghề nghiệp cho học sinh.
+ Phối hợp với Ban giám hiệu, Đoàn trường và cha mẹ học sinh để giáo dục học sinh tốt hơn.
- Hạn chế: Còn nóng vội trong việc giáo dục HS.
- Kết quả:
Có sự thay đổi về phương pháp giảng dạy và giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng
học sinh
2. THPT 3 : Giáo dục học sinh THPT cá biệt.
2.1. Phương pháp thu thập thông tin học sinh cá biệt
- Nội dung tìm hiểu:
+ Những tác động tích cực và tiêu cực đến học sinh từ gia đình, bạn bè và môi trường
sống.
+ Những khó khăn về từng phương diện của học sinh: Khó khăn về học tập, sức khỏe,
bản thân gia đình; tâm lí cá nhân, thiếu niềm tin vào bản thân;
sự lôi kéo, áp lực của nhóm bạn, những thói quen tiêu cực...
+ Những nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng học sinh
cá biệt: Năng lực giao tiếp, ngôn ngữ; năng lực tư duy lôgic và toán học; năng lực tưởng tượng;
năng lực âm nhạc; năng lực nội tâm; năng lực quan hệ tương tác, quan hệ xã hội; năng lực thể
thao vận động; năng lực tìm hiểu thiên nhiên.
+ Niềm tin, quan niệm của học sinh về các giá trị trong cuộc sống.
+ Khả năng nhận thức, nhu cầu, động cơ học tập.
+ Tính cách với những đặc điểm cơ bản.
+ Hành vi, thói quen chưa tốt và những nguyên nhân.
- Phương pháp tìm hiểu:
+ Tìm hiểu về học sinh thông qua nhóm bạn thân.
+ Tìm hiểu về học sinh thông qua gia đình.
+ Tìm hiểu về học sinh thông qua cán bộ lớp, tổ.
+ Tìm hiểu về học sinh thông qua các bạn ngồi xung quanh trong lớp học.
+ Tìm hiểu về học sinh thông qua các giáo viên khác và cán bộ Đoàn.
+ Tìm hiểu về học sinh thông qua hàng xóm của gia đình.
- Hồ sơ học sinh có các tư liệu sau: Phiếu đặc điểm gia đình học sinh; sổ (phiếu) theo dõi
sự phát triển của cá nhân từng học sinh thông qua các phương pháp, kỹ thuật tìm hiểu đặc thù;
các kết quả, thông tin thu thập được về học sinh thông qua các phương pháp, kỹ thuật tìm hiểu
đặc thù; học bạ; sổ liên lạc. Những thông tin về học sinh cá biệt có thể được lưu trữ cả dưới dạng
các file mềm chứa trong máy tính để vừa đảm bảo an toàn và dễ truy cập khi cần thiết.
- Nguyên nhân đến hiện tượng học sinh cá biệt:
+ Chưa có mục đích học tập rõ ràng, chưa nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của
bản thân.
+ Một số em có niềm tin sai về giá trị của con người và cuộc sống.
+ Chán nản.
+ Rối loạn hành vi xã hội của học sinh cá biệt.
2.2. Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt
- Giáo viên cần phải tiếp cận cá nhân và xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện
với học sinh cá biệt.
- Giúp học sinh biết nhận thức đúng về điểm mạnh và điểm yếu của bản thân.
- Giúp học sinh nhận thức được hậu quả của những hành vi tiêu cực và tất yếu phải
thayđổi thói quen, hành vi cũ.


- Giáo viên cần phải quan tâm hỗ trợ các em vượt qua những khó khăn và đáp ứng nhu
cầu chính đáng của học sinh cá biệt.
- Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt nỗ lực học tập và hoàn thiện
nhân cách cho học sinh.
- Lập kế hoạch phát triển cá nhân, khơi dậy hoài bão và ý thức tự giáo dục của học sinh.
- Áp dụng mô hình thay đổi nhận thức – hành vi để cải thiện niềm tin, suy nghĩ chưa
hợp lý của học sinh cá biệt.
- Áp dụng biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đối với cả tập thể lớp và học sinh cá biệt
(tước bỏ hoạt động yêu thích cho đến khi khắc phục được lỗi; tạm
dừng việc học tập để học sinh tự kiểm điểm bản thân…).
- Thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi, chặt chẽ giữa giáo viên với cha mẹ học sinh
thường xuyên, tạo niềm tin với gia đình học sinh để hợp tác quản lý, giáo dục học sinh.
- Trước hết, cần chú ý xây dựng mối quan hệ tốt giữa học sinh với giáo viên (với tư cách
là người lớn) được dựa trên quan hệ bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Người lớn phải thực sự tin
tưởng vào các em, tạo điều kiện để các em thỏa mãn tính tích cực, độc lập trong hoạt động. Tạo
điều kiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các em bằng cách tổ chức các dạng hoạt động
khác nhau để lôi kéo các em tham gia vào đó một cách tích cực nhằm giáo dục lẫn nhau và tự
giáo dục.
- Giúp đỡ tổ chức Đoàn thanh niên một cách khéo léo tế nhị để hoạt động Đoàn được
phong phú hấp dẫn và độc lập. Người lớn không được quyết định thay hay làm thay cho các em.
Nếu làm thay các em sẽ cảm thấy mất hứng thú, cảm thấy phiền toái khi có người lớn.
- Cần phối hợp các lực lượng giáo dục để tạo nên sức mạnh tổng hợp đến các em ở mọi
nơi, mọi lúc theo một nội dung thống nhất.
- Nhìn chung thanh niên mới lớn là thời kỳ đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời con
người. Đây là thời kì lứa tuổi phát triển một cách hài hòa, cân đối, là thời kì có sự biến đổi lớn
về chất trong toàn bộ nhân cách để các em sẵn sàng bước vào cuộc sống tự lập. Do đó, giáo viên
chúng ta phải nhận thức đầy đủ vị trí của lứa tuổi này để có nội dung, phương pháp giáo dục
thích hợp nhằm đem lại hiệu quả tối ưu trong hoạt động sư phạm.
2.3. Phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của HS cá biệt
- Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách: Nếu học sinh cá biệt
thựchiện hành vi không mong đợi nào đó thì giáo viên chỉ đánh giá hành vi đó, mà không quy
kết hành vi đó thành nét nhân cách của học sinh. Ví dụ: Học sinh đã lấy trộm tiền của bạn để đi
chơi game, không vì thế mà giáo viên và học sinh trong lớp coi em là đồ ăn cắp và dán nhãn cho
em là có tính ăn cắp (nét nhân cách) mà cần coi đây là hành vi không mong đợi trong thời điểm
không đấu tranh được ý muốn chơi game nên đã lấy tiền của bạn.
- Đánh giá theo quan điểm tích cực đối với học sinh cá biệt: Đánh giá đúng không chỉ
giúp các em nhìn nhận đúng bản thân với những điểm mạnh cần phát huy và những tồn tại cần
khắc phục mà còn tạo động lực cho học sinh nỗ lực rèn luyện, tu dưỡng.
- Ưu điểm:
+ Hiểu được phương pháp thu thập thông tin HS cá biệt, phương pháp giáo dục HS cá biệt,
phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện của HS cá biệt.
+ Áp dụng vào trong hoạt động giảng dạy và chủ nhiệm.
+ Áp dụng biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đối với cả tập thể lớp và học sinh cá biệt.
+ Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh cá biệt nỗ lực học tập và hoàn thiện nhân
cách cho học sinh.
+ Phối hợp với gia đình HS, GVBM, Đoàn trường trong việc quản lý và giáo dục HS.
+ Thiết lập mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa giáo viên với học sinh.
- Hạn chế: Còn nóng vội trong việc giáo dục HS.
- Kết quả:
Có sự thay đổi về phương pháp giáo dục HS cá biệt, áp dụng biện pháp giáo dục kỷ luật tích
cực.


3. MODULE THPT 10
RÀO CẢN TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT
A. MỤC TIÊU
1. Kiến thức:
- Hiểu được khái niệm cơ bản khó khăn về tâm lý, rào cản tâm lý, các biểu hiện, nguyên
nhân, ảnh hưởng của rào cản tâm lý trong học tập của HS THPT.
2. Kỹ năng:
- Vận dụng các kiến thức về khó khăn tâm lý, rào cản tâm lý trong học tập để lí giải nguyên
nhân và những ảnh hưởng của rào cản tâm lý đến kết quả học tập của học sinh.
- Vận dụng các PP, kỹ năng để hỗ trợ HS.
3. Thái độ:
Có thái độ đúng đắn đối với rào cản tâm lý trong học tập, rèn luyện, các hành vi phát
hiện và phòng chống rào cản tâm lý và những ảnh hưởng của nó trong học tập.
- Khái niệm rào cản tâm lí và rào cản tâm lí trong học tập là gì?
+ Rào cản tâm lí là những khó khăn tâm lí ở mức độ cao, trở thành những thách thức, trở
ngại ở mức độ lớn, làm giảm động lực hoạt động của con người, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả
hoạt động.
+ Rào cản tâm lí trong học tập chẳng qua là những khó khăn tâm lí trong học tập nhưng
ở mức độ cao, có ảnh hưởng đến động lực tiến hành các hành động học tập ở HS và có ảnh
hưởng đến kết quả học tập.
B- NỘI DUNG
CÁC KHÓ KHĂN TÂM LÝ VÀ KHÓ KHĂN
TÂM LÝ TRONG HỌC TẬP CỦA HS THPT
I. Những biểu hiện của rào cản tâm lí trong học tập của học sinh trung học phổ thông
1. Về mặt nhận thức
2. Về mặt xúc cảm, tình cảm
3. Về mặt hành vi
II. Nhiệm vụ
1. Phân tích khái niệm khó khăn tâm lí và khó khăn tâm lí trong học tập.
2. Phân tích các biểu hiện do ảnh hưởng tâm lí của HS THPT ở trường, ở ngành và đề ra các
giải pháp khắc phục..
3. Phân tích một hoặc một số ví dụ về khó khăn tâm lí trong học tập và rào cản tâm lí trong
học tập của HS.
III. Xác định nguyên nhân và ảnh hưởng của rào cản tâm lí đến việc học tập của học sinh.
* Chủ quan:


* Nguyên nhân khách quan:
IV. Cần định hướng tạo điều kiện cho mọi người học tập suốt đời


một số vấn đề cần khắc phục nhằm giảm ảnh hưởng rào cản tâm lí trong học tập của
hs thpt cơ bản như sau:

1. Rào cản giao tiếp
2. Rào cản từ ngoại hình
3.Rào cản từ ngôn ngư
4. Rào cản từ Cảm xúc
5. Rào cản từ thiếu kiến thức
6. Rào cản từ thiếu kinh nghiệm

* Kêt quả nghiên cứu:
Module này giúp giáo viên hiểu rõ học sinh ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
nhưng đồng thời cũng chịu nhiều áp lực tâm lí từ phía gia đình, nhà trường, xã hội đối với hoạt
động học tập và các hoạt động khác. Nắm bắt được những vấn đề khái quát chung về rào cản
tâm lí trong học tập, khái niệm, nguyên nhân và ảnh hưởng của rào cản tâm lí đến học tập của
học sinh THPT. Từ đó biết cách phát hiện và phòng tránh những rào cản tâm lí trong học tập để
nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh. Nắm được phương pháp và kĩ năng hỗ trợ tâm lí cho
học sinh, phát hiện và phòng tránh rào cản tâm lí trong học tập.
Từ việc nắm bắt được những kiến thức cần thiết về lí thuyết, giáo viên sẽ vận dụng được các
kiến thức về khó khăn tâm lí, rào cản tâm lí để nhận biết được những biểu hiện của rào cản tâm
lí trong học tập của học sinh THPT; Vận dụng các phương pháp, kĩ năng để hỗ trợ một cách tốt
nhất cho học sinh trong học tập đặc biệt giáo viên có thể áp dụng những biện pháp sau để giúp
học sinh tránh được những rào cản tâm lí trong học tập:
- Luôn luôn làm chủ cảm xúc của bản thân bởi khi mất kiểm soát về cảm xúc học sinh sẽ
dễ đưa ra những quyết định sai lầm hoặc có hành vi lệch lạc.
- Quản lí được những căng thẳng của ản thân
- Giảm mức độ cao của stress để có sức khoẻ tốt cho việc học và thi.
Giáo viên có thể tham gia tư vấn trực tiếp cho học sinh hoặc hướng dẫn học sinh tham gia tư
vấn từ người khác như: cha mẹ, bạn bè, anh chị….
- Ưu điểm:
+ Hiểu được các rào cản học tập của học sinh
+ Áp dụng vào trong hoạt động giảng dạy và chủ nhiệm.
+ Áp dụng biện pháp giáo dục ý thức việc học tập ở nhà của học sinh.
+ Động viên, khích lệ, tạo động lực cho học sinh học tập
+ Phối hợp với gia đình HS, GVBM, Đoàn trường trong việc quản lý và giáo dục HS.
- Hạn chế: Còn nóng vội trong việc giáo dục HS.
- Kết quả:
HS không còn bị rào cản trong học tập.
4. MODULE THPT 12: Khắc phục trạng thái tâm lí căng thẳng trong học tập cho học sinh
THPT
1. Căng thẳng tâm lí và stress trong học tập:Trước hết chúng ta khái quát chung về stress:


- Stress là hiện tượng rất phức tạp và rất khó định nghĩa chính xác. Trong cuộc sống thường nhật
khái niệm này thường được dùng để mô tả trạng thái bực bội hoặc tâm lí bất an.
- Stress xuất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường để ứng phó.
- Stress là tình trạng căng thẳng thể hiện mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của
cơ thể.
- Stress là phản ứng của con người đối với một tác nhân được coi là có hại cho cơ thể và tâm lí
con người.
*Từ đó chúng ta khái niệm về stress trong học tập:
- Về đặc điểm tâm sinh lí cơ bản:
Học sinh THCS có độ tuổi ứng với tuổi thiếu niên, do vậy các em còn có tên gọi khác là thiếu
niên, từ 11 đến 15 tuổi.
- Đây là thời kì phức tạp và quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân.
- Thời kì này có một số tên gọi: quá độ, tuổi khủng hoảng, tuổi già trẻ con non người lớn…
+ Một số đặc điểm tâm lí cơ bản sau:
- Phát triển không cân đối giữa chiều cao và cân nặng.
- Sự phát triển về mặt sinh lí. Điều kiện sống có nhiều thay đổi theo hướng mở rộng.
- Xu hướng muốn vươn lên làm người lớn.Đời sống tình cảm sâu sắc và phức tạp.
- Khái niệm về stress trong học tập:
Trong học tập, học sinh chịu nhiều áp lực, không chỉ ở yêu cầu, nội dung tri thức môn học mà
còn ở phương pháp, thái độ giảng dạy của giáo viên. Những điều đó tạo nên stress ở các em.
Đó là những biến đổi tâm lí khi các em giải quyết những vấn đề trong học tập; là những biến đổi
trong quá trình nhận thức của học sinh.
Nếu những vấn đề, những mâu thuẫn trong nhận thức của học sinh không được giải quyết, sẽ
dẫn đến mất cân bằng tâm sinh lí của học sinh. Stress trong học tập của học sinh THCS nảy sinh.
- Stress trong học tập là tổng hòa một quá trình những biến đổi đáp ứng của cả hai mặt: phản
ứng sinh học và đáp ứng về mặt tâm lí. Nó gồm nhiều giai đoạn đáp ứng ở những mức độ khác
nhau tạo nên sự biến đổi cả về năng lượng sinh lí và cả năng lượng tâm lí nhận thức của học
sinh, tạo ra năng lượng tâm lí mới ở bản thân học sinh cả về sinh lí và về tâm lí. Nó có tác dụng
củng cố, phát triển khả năng giải quyết vấn đề của học sinh, giúp học sinh thích ứng tốt nhất với
môi trường tri thức mới. Nếu những vấn đề, những mâu thuẫn trong nhận thức của học sinh
không được giải quyết thì có thể phá vỡ sự cân bằng tâm – sinh lí của học sinh, có thể dẫn đến
những rối loạn thích nghi tạm thời, làm cho các em khó hoặc không thể dối mặt, giải quyết vấn
đề trong học tập đang đặt ra đối với các em.
2. Bản chất , nguồn gốc và cách ứng phó của stress trong quá trình học tập ở học sinh a.
Bản chất của stress trong quá trình học tập ở học sinh


- Chúng ta biết stress kì sự phản ứng của cơ thể trước các tác nhân bên ngoài.Trong học tập, học
sinh chịu rất nhiều tác động áp lực, không chỉ ở yêu cầu, nội dung tri thức môn học mà còn ở
phương pháp giảng dạy, thái độ giảng dạy của giáo viên. Những điều đó tạo nên stress ở các em.
Đó là những biến đổi tâm lí của học sinh khi các em giải quyết những vấn đề trong học tập. Cụ
thể hơn đó là những biến đổi trong quá trình nhận thức của các em. Điều này có nghĩa là stress
trong học tập ở học sinh chỉ là một quá trình, nó chỉ xuất hiện khi các nhiệm vụ học tập trở
thành tình huống có vấn đề của mình. Stress trong học tập là tổng hòa một quá trình những biến
đổi đáp ứng của cả hai mặt: Phản ứng sinh học và đáp ứng về mặt tâm lí, nó bao gồm nhiều giai
đoạn đáp ứng ở những mức độ khác nhau tạo nên sự biến đổi cả về năng lượng sinh lí và cả
năng lượng tâm lí nhận thức của học sinh, tạo ra năng lượng tâm lí mới ở bản thân học sinh cả
về tâm lí và sinh lí nó có tác dụng củng cố phát triển khả năng giải quyết vấn đề của học sinh,
giúp học sinh thích ứng tốt nhất với môi trường tri thức mới. Nếu những vấn đề, những mâu
thuẩn trong nhận thức của học sinh không được giải quyết thì có thể phá vỡ sự cân bằng tâm lí
của học sinh, có thể dẫn đến những rối loạn thích nghi tạm thời, làm cho các em khó hoặc không
thể đối mặt giải quyết vấn đề trong học tập đang đặt ra đối với các em.Bản chất của stress: stress
là nhịp sống luôn luôn có mặt ở bất kì thời điểm nào trong sự tồn tại của chúng ta. Một tác động
bất kì tới một cơ quan nào đó đều gây ra stress. Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự
tổn thương, ngược lại có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau: stress bình thường khỏe
mạnh(eustress), stress độc hại hay gọi là stress tiêu cực(dystress). Với bản chất của stress, mỗi
chúng ta cần cố gắng tự điều chỉnh và có thể giúp mọi người tìm ra nguồn gốc và có hướng khắc
phục stress một cách phù hợp hơn.
b.

Nguồn

gốc

gây

ra

stress.

- Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến stress, các nhà nghiên cứu khoa học cho rằng stress có tính
chất tích tụ, trường diễn ngấm dần nên nó xuất hiện cần phải kiểm soát và giải tỏa chúng. Nếu
không những tác động nhỏ nhặt hàng ngày sẽ được dồn nén và khi bùng phát nó sẽ gây ra những
tác hại không nhỏ.
+Nguồn gốc từ môi trường bên ngoài:Nguồn gốc từ cuộc sống gia đình: Những tác nhân gây ra
stress từ phía gia đình thường gặp nhất trong những tác nhân gây ra stress. Đó là những vấn đề
có liên quan đến yếu tố kinh tế và tình cảm, những kì vọng của những người trong gia đình đối
với mỗi thành viên. Những yếu tố này thường phối hợp với nhau tác động mạnh mẽ đến cuộc
sống, sinh hoạt, nhận thức, tình cảm và hành vi của các thành viên trong cuộc sống gia đình
cũng như hoạt động ngoài xã hội.
Thời hạn của công việc phải hoàn thành, các vấn đề tài chính, áp lực công việc, môi trường làm
việc không thuận lợi, thay đổi về thời gian làm việc,…hay do sự mất mát của người thân, mâu
thuẫn

trong

gia

đình,

quan

hệ

bạn



không

tốt,




- Nguồn gốc từ môi trường xã hội: Đó là những yếu tố liên quan đến môi trường sống học tập và
làm việc và những mối quan hệ ứng xử xã hội, tâm lí xã hội, trong đó có chủ thể trong hoạt
động.
- Nguồn gốc từ môi trường tự nhiên là những yếu tố như khí hậu, thời tiết, cảnh quan, tiếng ồn,
giao

thông,

ô

nhiễm

môi

trường…

+ Nguồn gốc bản thân:Yếu tố sức khỏe: Những rối loạn bệnh lí mới xã hội, những bệnh lí ở giai
đoạn cuối hoặc những bệnh lí mãn tính. Các vấn đề về thể chất: Thay đổi cơ thể, không đủ chất
dinh dưỡng, ốm đau, bệnh tật…Đôi khi, cách chúng ta suy nghĩ hay phiên giải những điều đã
hoặc sẽ xảy ra đem đến cho chính mình rất nhiều căng thẳng.
- Yếu tố tâm lí: Đó là thái độ thích nghi của các thuộc tính tâm lí bao gồm năng lực ý chí, tình
cảm, nhu cầu, thái độ nhận thức, kinh nghiệm của chủ thể. Ngoài ra có thể là những yếu tố có
liên quan đến vô thức(giấc mộng, linh cảm…)hoặc những dồn nén từ thời thơ ấu, trong quá khứ.
- Stress sinh thái: Rối loạn chu kì nhịp sinh học; rối loạn nhịp ăn ngủ; stress do chấn thương và
bệnh tật; stress do tiếng ồn và các tác động vật lí, sinh hóa.
- Stress tâm lí-xã hội: Được hình thành trong các mối quan hệ và ứng xử xã hội, đây là những
yếu tố quan trọng gây nên những biến đổi, thậm chí là rối loạn trong đời sống tâm lí. Sự thất
vọng, điều này có thể do nguyên nhân từ phía khách quan hoặc do chủ quan, thất vọng bao gồm
cả khủng hoảng lòng tin, sự hụt hẫng…Sự quá tải là trạng thái mà số lượng kích thích vượt quá
khả năng ứng xử của chủ thể hay sự thiếu tải do những kích thích tác động đơn điệu, tẻ nhạt,
buồn chán, không tương xứng với khả năng của chủ thể.
Nguyên nhân của stress trong học tập của học sinh:
*Các yếu tố khách quan-môi trường tâm lí-xã hội: Bên cạnh những điều kiện thuận lợi thì môi
trường xã hội cũng có thể mang đến nhiều bất lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cách như:
những tệ nạn tràn lan trong xã hội, nó tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau. Điều này có ảnh
hưởng không nhỏ tới việc định hướng giá trị nhân cách, lối sống, quan hệ và học tập của các em
học sinh. Tất cả những biến động của thời đại đang liên tục tác động mạnh mẽ tới mọi tầng lớp
trong xã hội trong đó có cả học sinh, buộc họ phải đấu tranh để lựa chọn các động cơ mà thích
ứng. Bản thân học sinh trong tương lai sẽ là nguồn nhân lực cho xã hội, họ đang cố gắng học
tập, trau dồi tri thức, kinh nghiệm để đáp ứng yêu cầu của xã hội ngày một cao. Những yếu tố đó
của môi trường, của thời đại đều có ảnh hưởng đến stress trong học tập của học sinh.
* Các yếu tố chủ quan:
- Về mặt sinh lí: Bị mắc những chứng bệnh đau đầu, đau lưng khi ngồi vào bàn học, sức khỏe
yếu…
- Về mặt tâm lí:


+ Nhận thức của học sinh trước các tình huống học tập: Vốn hiểu biết đã có mâu thuẫn với
nhiệm vụ học tập mới, khó trong khi trình độ nhận thức còn hạn chế, bất lực với khả năng học
tập của mình…
+ Thái độ của học sinh trước các nhiệm vụ của môn học đề ra: Thấy mình không có khả năng
học, không hứng thú với môn học, không tìm ra được phương pháp học tập thích hợp…
+ Cách thức đáp ứng của học sinh trước các nhiệm vụ học tập: Đứng trước một bài toán khó,
cách ghi nhớ và vận dung trí nhớ khi đứng trước một vấn đề, cách đương đầu và giải quyết với
một nhiệm vụ học tập hay một vấn đề của cuộc sống, cách bố trí thời gian trong học tập, thi cử
và nghỉ ngơi, ít dành thời gian cho việc giải trí, vui chơi…
c. Cách ứng phó với stress trong học tập của học sinh:
* Quản lí được căng thẳng của bản thân: Việc đầu tiên là học sinh phải biết nhận ra các dấu hiệu
của stress: những bất thường về thể chất, thần kinh và các mối quan hệ xã hội. Ứng phó với
stress là khả năng giữ thăng bằng khi xảy ra những tình huống những sự việc đòi hỏi quá sức.
Một số cách đối phó với stress:
- Hãy xem xung quanh có điều gì có thể thay đổi để xoay chuyển tình hình khó khăn.
- Đừng để tâm đến những việc lặt vặt, việc nào thật quan trọng thì làm làm trước, tạm gạt bỏ
những việc không thật sự quan trọng sang một bên.
- Tránh những phản ứng thái quá. Không được trốn tránh bằng những trò vô bổ.
- Đặt những mục tiêu cụ thể cho bản thân, cắt bớt khối lượng công việc.
- Thay đổi cách nhìn nhận mọi việc.Chữa stress bằng các hoạt động thể chất.
*Phương pháp trợ giúp học sinh ứng phó với stress trong học tập:
- Chăm sóc sức khỏe và tránh những nguy hiểm có thể có.
- Can thiệp sớm một cách trực tiếp, chủ động và bình tĩnh.
- Tập trung vào những vấn đề của hiện tại.
- Cung cấp những thông tin chính xác vè những gì đã xảy ra.
- Không nói những điều không có khả năng thực thi.
- Cung cấp và đảm bảo về những trợ giúp tâm lí.
- Tập trung vào những lợi thế, khả năng phục hồi của học sinh.
- Khuyến khích ý chí tự lực.
- Quan tam đến cảm xúc của những người xung quanh.
- Ứng phó nhằm vào giải quyết vấn đề: Làm thay đổi tác nhân gây ra stress hoặc thay đổi mối
quan hệ giữa con người với tác nhân đó thông qua những hành động trực tiếp và hoặc những
hành động giải quyết vấn đề, cụ thể: chống trả hoặc làm yếu mối đe dọa; bỏ chạy; ngăn ngừa
stress trong tương lai hoặc làm giảm ảnh hưởng của stress.


- Ứng phó nhằm vào cảm xúc: Làm thay đổi bản thân thông qua các hành động khiến bản thân
cảm thấy dễ chịu hơn nhưng không làm thay đổi các tác nhân gây ra stress, cụ thể: Các hoạt
động nhằm vào thân thể; các hoạt động nhằm vào nhận thức; các quá trình vô thức làm méo mô
thực tại có thể đưa tới stress nội tâm.
*Qua môdun này chúng ta tìm ra một số biện pháp giúp giảm bớt căng thẳng tâm lí:
- Thể dục, thể thao hay vận động.
- Cười thoải mái, thư giãn: nghe nhạc, đọc sách, xem phim…
- Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lí.Ngủ đủ giấc,ngủ sâu, ngủ đúng giờ.
- Sự chia sẻ, hỗ trợ từ người thân, bạn bè.
- Sắp xếp thời gian hợp lí, có kĩ năng lập kế hoạch.
- Rèn luyện tư duy tích cực…
- Để giảm stress cho học sinh, nhà trường nên thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể, tổ
chức thảo luận dân chủ để hiểu rõ mục đích, ý nghĩa và nội dung của các phong trào thi đua, sau
đó sẽ lựa chọn các hoạt đông cụ thể phù hợp với sở thích hứng thú, năng lực, nhu cầu tâm lí của
học sinh.
- Các hoạt động kích thích cho học sinh cơ hội tìm kiếm, phát hiện tri thức, hình thành những kĩ
năng phù hợp, những cảm xúa tích cực, kĩ năng sống cần thiết.
- Nhà trường cần sáng tạo nhiều hình thức tuyên truyền, vận động các phong trào thi đua, đổi
mới, nâng cao chất lượng dạy và học, tham gia các phong trào sẽ giúp các em hình thành tự tin,
giảm stress đáng kể.
Nội dung khắc phục trạng thái căng thẳng trong học tập của học sinh
Để khắc phục trạng thái căng thẳng trong học tập của học sinh hay Stress thì chúng ta phải hiểu
được khái niệm Stress và nguồn gốc gây ra Stress:
Khái niệm cơ bản về Stress.
Stress trong tiếng anh có nghĩa là nhấn mạnh, thuật ngữ này còn được dùng trong Vật lí học để
chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu. Hans Selye người Canada nghiên cứu và mô tả Stress có hai
loại Stress khác nhau, đối lập nhau Stress bình thường khoả mạnh là euStresss, Stress độc hại
hay còn gọi là Stress tiêu cực là diStresss.
Tác giả Tô Như Khê cho rằng “Stress tâm lý chính là phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách
chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiệt trong tình huống mà con người chủ quan
thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích mà do
sự đánh giá chủ quan về các nhân tố đó ”
Nguồn gốc gây ra Stress có các nguồn gốc từ môi trường bên ngoài và nguồn gốc từ bản thân.
-

Nguồn gốc từ từ môi trường bên ngoài:

+ Tác động từ cuộc sống gia đình.


+ Tác động từ môi trường xã hội.
+ Tác động từ môi trường tự nhiên.
-

Nguồn gốc từ bản thân:

+ Do yế tố về sức khoẻ.
+ Do yếu tố về tâm lý.
Stress trong học tập đối với học sinh đây là “thời kỳ quá độ” độ tuổi khủng hoảng “Già trẻ con
non người lớn”… đây là thời kỳ chuyển từ tuo63u thơ sang tuổi trưởng thành nên các em thường
có một số đặc điểm về tâm lý như sau:
- Sự phát triển không cân đối giữa chiều cao và trọng lượng.
- Sự phát triển về mặt sinh lý cũng như sự biến đổi căn bản về cơ thể.
- Sự thay đổi về điều kiện sống.
- Xu hướng vươn lên làm người lớn có ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động tâm lí.
- Nhu cầu mở rộng mối quan hệ với người lớn nuốn người lớn nhìn nhận mình một cách
bình đẳng.
- Dễ bị xúc động, dễ bị kích động. vui buồn chuyển hoá dễ dàng dẫn đến tình cảm còn
mang tính bồng bột.
Từ những nguồn gốc trên đã dẫn đến trạng thái Stress và Stress cũng gây ảnh hưởng không nhỏ
đối với việc học tập của học sinh THCS chính vì đó chúng ta cần phải truyền thụ cho các em có
các phương pháp và kỹ năng ứng phó với Stress trong học học tập, các phương pháp hỗ trợ tâm
lý cho học sinh để các em có thể phát hiện và ứng phó với Stress trong học tập đó là:
-

Các em có thể quản lí được căng thẳng của bản thân bằng việc các em nhận diện được các

biểu hiện của Stress.
-

Các em có thể giảm mức độ của Stress để có một sức khoẻ tốt trong học tập và thi cử như:

+ Có chế độ ăn đầy dủ và cân bằng dưỡng chất.
+ Các em có thể uống cafê hoặc trà đậm vào buổi sáng để kích thích hệ thần kinh trung ương
làm cho tỉnh táo vì Café và trà đậm có chứa chất cafein.
-

Hứng dẫn cho các em các liệu pháp để giảm Stress có hại như:

-

Ngâm tắm, ca hát, chơi đùa với thú nuôi, thư giãn, cười,thưởng thức nghệ thuật, Massage,

tập thể dục buổi sáng, ngồi thiền – Yoga…
Tích cực hoá hoạt động học tập là sự phát triển ở mức độ cao hơn trong tư duy, đòi hỏi một quá
trình hoạt động "bên trong" hết sức căng thẳng với một nghị lực cao của bản thân, nhằm đạt
được mục đích là giải quyết vấn đề cụ thể nêu ra. Tính tích cực trong hoạt động nhận thức của
học sinh thể hiện ở những hoạt động trí tuệ là tập trung suy nghĩ để trả lời câu hỏi nêu ra, kiên trì
tìm cho được lời giải hay của một bài toán khó cũng như hoạt động chân tay là say sưa lắp ráp


tiến hành thí nghiệm. Trong học tập hai hình thức biểu hiện này thường đi kèm nhau tuy có lúc
biểu hiện riêng lẻ.
Đối với bộ môn vật lý, việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh gắn liền với việc đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng kết hợp các phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa hoạt động nhận thức; khai thác thí nghiệm trong dạy học vật lý theo hướng tích cực hóa hoạt
động nhận thức của học sinh và đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
trong dạy học hiện nay.
Nội dung của tiểu luận này đề cấp đến hai vấn đề chính:
– Phân tích các biện pháp tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí.
– Đề xuất một giáo án dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh.
2. Trình bày cách sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đối với bộ môn vật lý ?
Vật lý học là bộ môn khoa học nghiên cứu về cấu trúc, tính chất và các hình thức biến đổi cơ
bản nhất của vật chất. Quá trình nhận thức vật lý khá phức tạp, cùng một lúc phải vận dụng
nhiều phương pháp của riêng bộ môn vật lý cũng như phương pháp của các khoa học khác.
Muốn hoạt động nhận thức vật lý có kết quả trước hết phải quan tâm đến việc hình thành kỹ
năng, kỹ xảo thực hiện các thao tác trên. Bên cạnh đó phải có phương pháp suy luận, có khả
năng tư duy trừu tượng, tư duy logic, tư duy sáng tạo.
2. Những hành động chính của hoạt động nhận thức vật lí
Hoạt động nhận thức thức vật lý là khá phức tạp. Tuy nhiên có thể kể đến các hành động chính
của hoạt động nhận thức vật lý sau:
– Quan sát hiện tượng tự nhiên, nhận biết đặc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng.
– Tác động vào tự nhiên, làm bộc lộ những mối quan hệ, những thuộc tính của sự vật, hiện
tượng. Xác định mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng.
– Xác định mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng.
– Xây dựng những giả thiết hay mô hình để lý giải nguyên nhân của hiện tượng quan sát được.
Từ giả thiết, mô hình suy ra những hệ quả.
– Xây dựng các phương án thí nghiệm để kiểm tra các hệ quả.
– Đánh giá kết quả thu được từ thí nghiệm.
– Khái quát hóa kết quả, rút ra tính chất, quy luật hình thành các khái niệm, định luật và thuyết
vật lý.
– Vận dụng kiến thức khái quát vào thực tiễn.
- Ưu điểm:
+ Khắc phục tâm lí căn thẳng trong giờ học,
+ Áp dụng vào trong hoạt động giảng dạy và chủ nhiệm.
+ Học sinh yêu thích bộ môn nhiều hơn


+ Giúp HS hiểu bài, nhớ lâu kiến thức
- Hạn chế: Còn nóng vội trong việc giáo dục HS.
- Kết quả:
Có sự thay đổi về phương pháp giảng dạy trong bộ môn, giúp HS có sự yêu thích bộ môn hơn
- Số tiết: 38
- Hình thức:
+ Tự học:
THPT 1, 3, 10, 12 vào tháng 3
- Đánh giá:
+ Ưu điểm: Qua quá trình tự bồi dưỡng giúp tôi nâng cao năng lực năng lực chuyên
môn và nghiệp vụ, đảm bảo cho việc giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn.
+ Hạn chế: việc nắm bắt tâm lý học sinh chưa đạt hiệu quả cao
Xếp loại: Đạt
TỔ TRƯỞNG

GIÁO VIÊN

DƯ HOÀI BẢO
HIỆU TRƯỞNG



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×