Tải bản đầy đủ

Phong cách sáng tác thơ của hồ xuân hương

Phong cách sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương

1. Hồ Xuân Hương, nhà thơ dòng Việt – ” Bà chúa thơ Nôm”

Trong thơ cổ điển của nước ta nếu xét khía cạnh tính cách đân tộc thì có lẽ thơ Hồ
Xuân Hương “Thì treo giải nhất chị nhường cho ai ? “Thơ của bà đã thống nhất
đến cao độ hai tính cách dân tộc và đại chúng . Xuân Hương học thông chữ Hán
nhưng trong thơ mình, Bà chỉ dùng thuần Việt trong lúc các nhà thơ khác cùng thời
như Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan … dung hòa giữa chữ Hán với tiếng Việt
thì nữ sĩ Hồ Xuân Hương chỉ dùng tiếng Việt trước sau như một. Bà không dùng
chữ Hán có nghĩa là Bà nhất khoát thoát ly khỏi sự kìm cặp của lễ nghi phong kiến.
Ngôn ngữ phong phú và tài dùng chữ của Xuân Hương là câu trả lời cho những ai
không tin vào dân tộc mà cho rằng : Tiếng nói của mẹ đẻ là lạc hậu và nghèo nàn.

Ngôn ngữ của Hồ Xuân Hương không chỉ giàu có về từ mà còn giàu có về màu sắc
dân tộc . Bởi vì Hồ Xuân Hương ngoài việc dùng thuần tiếng Việt , Bà đã không
quên lợi dụng những tiểu thuật lạ lùng của tiếng Việt như : nói ví , nói bóng gió ,
nói lái , chơi chữ … làm cho thơ bà kỳ diệu thêm độc đáo thêm .

Có thể nói rằng Hồ Xuân Hương có một vốn từ ngữ rất Việt Nam và cũng không
quá đáng khi nói rằng : Ngôn ngữ ấy rất Hồ Xuân Hương . nó gồm một số từ ngữ

xưa bây giờ không còn dùng nữa hoặc đã khác nghĩa đi, ví dụ như từ : bom, tom…

-Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

- Thân này đâu đã chịu già tom.


(Tự tình)

Nó biến hóa để phổ vào câu thơ những tục ngữ, thành ngữ, ca dao :

Năm thì mười họa hay chăng chớ

(Lấy chồng chung)

Hoặc :

Không có nhưng mà có mới ngoan .

(Dở dang)

Nó không tránh khỏi những từ ngữ thô tục hoặc nói lái thành thô tục, những tiếng
chửi rủa :

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo

Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo

(Chùa Quán Sứ )


Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

(Lấy chồng chung )

Rúc rích thây cha con chuột nhắt

Vo ve mặc mẹ cái ong bầu.

( Quan thị )

Thơ của Hồ Xân Hương sử dụng nhiều từ láy

Có loại thông thường : cheo leo, xanh rì , đỏ lóet, lún phún, phau phau, leo lẻo..

Có loại lạ lùng : Mõm mòm mom, Hỏm hòm hom, dở dom…

…Nứt làm đôi mảnh hỏm hòm hom

Kẽ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn

(Hang Cắc cớ)

Một trái trăng thu chín mõm mòm


Nẩy vừng quế đỏ, đỏ lòm lom

(Hỏi trăng)

Có loại gợi âm thanh độc đáo:

Gió giật sườn non kêu rắc rắc

Sóng dồn mặt nước vỗ long bong

(Kẽm Trống)

Có loại gợi hình:

Cỏ gà lún phún leo quanh mép

Cá diếc le te lách giữa dòng

(Giếng nước)

Dựa vào đặc điểm từ láy tiếng Việt (có giá trị biểu đạt cao) Hồ Xuân Hương đã
khai thác triệt để nó và biến nó thành đặc điểm của riêng mình làm cho lời thơ có


dáng dấp tinh nghịch và độc đáo. Thế giới vô tri vô giác trong thơ Bà luôn cựa
quậy, động đậy, có sức sống tràn trề, mãnh liệt quá chừng.

Thơ của Hồ Xuân Hương tươi trẻ giản dị và hồn nhiên, trong sáng, tạo ấn tượng
đặc biệt độc đáo. Những từ ngữ : Con ốc, quả mít, cái quạt, miếng trầu, cây đu…là
những ngôn ngữ thông thường nhưng do biết cách chọn lọc với hoàn cảnh nên lời
thơ có được cái trong sáng của tiếng nói nhân dân, có hương vị tươi ngon của mớ
rau vừa mơí hái rất dân dã, rất Việt Nam .

Ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương là ngôn ngữ đại chúng. Thơ của bà không chỉ dùng
từ quần chúng mà còn dùng đủ các cách tu từ quần chúng, một câu hai ý hoặc ba ý,
hiểu theo ý nào cũng được: Thanh cũng được, thô cũng được .

Thơ của Bà thường vận dụng một số cách nói quen thuộc trong ca dao, thành ngữ,
có cả khẩu ngữ, ví dụ như: sáng banh, trưa trật..

” Không có nhưng mà có mới ngoan”

“ Không chồng mà chửa ấy mới ngoan

Có chồng mà chửa thế gian sự thường ”

Hoặc :

Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm


Cầm bằng làm mướn, mướn không công .”

Hoặc:

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ,

Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha…

Hồ Xuân Hương là nhà thơ dòng Việt – “Bà chúa thơ nôm” Là chúa cả nội dung
lẫn hình thức . Với tài năng dùng chữ của mình Bà đã sáng tạo nên những dòng
thơ, bài thơ rất dân dã, rất Việt Nam.

2. Cách sử dụng ngôn ngữ của Hồ Xuân Hương:

a. Sự vi phạm qui tắc tu từ tạo sự “lệch chuẩn” ngôn ngữ để tạo nghĩa.

Hồ Xuân Hương sử dụng ngôn ngữ để tạo hình, tạo nhạc và cuối cùng tạo nghĩa.
Cách tạo nghĩa lơ lững có lẽ cơ bản nhất vẫn là sự lệch chuẩn ngôn ngữ thơ với
ngôn ngữ đời thường của Xuân Hương. Những từ ngữ : Lá đa, nguyệt, hoa rữa,
miếng trầu, cái bánh trôi, động Hương Tích, thu, lạnh , Lạch Đào Nguyên….là
những ký hiệu ngôn ngữ di chuyển từ cái miêu tả đến cái ẩn dụ vô cùng đa dạng,
biểu đạt sức sống có tầm cở vũ trụ cái vĩnh cửu. Cái ngạc nhiên, cái đột ngột, cái
bật cười thấm thía nỗi buồn tạo nên bởi cái xô lệch không ăn khớp là những đặc
điểm trong phong cách thơ nôm của Hồ Xuân Hương.


Nếu liên kết các bài thơ: Kẽm trống, Động Hương Tích…Đèo Ba Dội, Đá ông
chồng bà chồng …trong một văn bản chúng ta có thể thấy ở trong những bài thơ
này là những âm điệu mạnh, nhiều vần nhiều âm rất táo bạo thông qua một lớp từ
ngữ được Hồ Xuân Hương sử dụng như: Phòm, ngoàm, hỏen, teo…Chính cách sử
dụng ngôn ngữ khác lạ này đã chuyển nghĩa bình thường thành nghĩa ẩn dụ có
nghĩa là chuyển nghĩa thô thành nghĩa thực, nghĩa ngầm, nghĩa tâm tình. Mỗi bài
thơ là một sự phối hợp liên kết chặt chẽ giữa các động từ chỉ hoạt động, các tính từ
chỉ màu sắc âm thanh, hình dáng…các trạng từ chỉ phẩm chất để biểu đạt tư tưởng
tình cảm thái độ của nhà thơ. Vì lẽ đó ta thấy thơ Hồ Xuân Hương có nhiều nghĩa
và nghĩa nào cũng lấp lửng.

Ở Hồ Xuân Hương các chi tiết tạo nên sự lấp lửng nghĩa của bài thơ, câu thơ là cả
một lớp từ ngữ được lựa chọn chính xác, thích hợp cho cả cái lộ lẫn cái ẩn. Đó là
cả một hệ thống ngôn ngữ tương ứng tạo ra một ngữ cảnh trong đó các từ, nhóm từ
nâng đỡ nhau, dựa vào nhau để thực hiện mệnh lệnh của người cầm bút ..Vì vậy,
chỗ tài tình nhất của Hồ Xuân Hương có lẽ sự lấp lửng ý nọ, ý kia ở một hình
tượng, một từ, một ngữ, một cách nói. Điều mà Bakhtin gọi là “Siêu ngôn ngữ”,
“xuyên ngôn ngữ ” đã được chứng minh trong ngôn ngữ học hiện đại .

Hồ Xuân Hương không nghiên cứu ngôn ngữ học nhưng từ ngữ của Bà dùng vốn
là từ ngữ hoạt động nên ngoài cấu trúc cố định còn hàm chứa nghĩa xã hội, tâm lý.
Nghĩa liên hội, liên tưởng do ngữ cảnh, do dụng ý siêu ngôn ngữ của tác giả .

Chúng ta đến thăm “Động Hương Tích “( Chùa Hương) vào mùa trẩy hội :

Người quen cõi phật chen chân xọc

Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm


Nếu dùng ngôn ngữ thường nhật, ngôn ngữ chuẩn thì hai câu thơ sẽ là:

Người quen cõi phật chen chân bước

Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt nhìn

Từ cách sử dụng ngôn ngữ “lệch chuẩn”, những từ ngữ trong bài thơ được sử dụng
như một hiện tượng nhiễm xạ, cũng “Phát quang” một nghĩa mới. Thậm chí cả
những từ tôn giáo như “Cõi phật”, “Bầu tiên” cũng khoác nghĩa “trần tục”, “cõi
sung sướng “nơi lạc thú”. Do đó bài thơ “Động Hương Tích ” mang nghĩa lấp
lửng.

Ở một bài thơ khác “Đèo Ba Dội ” Hồ Xuân Hương đã sử dụng một số từ ngữ để
miêu tả ” Đèo Ba Dội ” hình dung ra nào cửa son, thông, liễu, rêu phủ, đá xanh
rì…mỏi gối, chùn chân…Tất cả chẳng có gì Hồ Xuân Hương không miêu tả lấp
lửng “Vật” khác được. Có điều ở câu thơ thứ ba tác giả có sử dụng từ “lóet” cách
sử dụng này là một sự lệch chuẩn so với các từ khác ở trong bài thơ như: “rì”, “tùm
hum”, “lún phún”.. là những nghịch âm, những bất đối xứng phá vở sự hài hòa của
câu thơ, bài thơ làm xô lệch nghĩa của bài thơ, đưa trí tưởng tượng của người đọc
chệch khỏi đường ray thông thường, đi vào một liên tưởng mới. Đặc biệt ở hai câu
cuối không dưng lại có mặt “Hiền nhân quân tử ”

Hiền nhân quân tử ai là chẳng

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo


Khi Hồ Xuân Hương đặt ” Hiền nhân quân tử ” với cái ý thèm thuồng “vẫn muốn
trèo”. Không những một đèo mà lại một đèo, một đèo nữa, thì với các nghĩa liên
tưởng và liên hội của chuyện”trèo đèo ” đâm ra mỏi gối ngay lập tức làm cho các
nghĩa: cửa son, hòn đá, cành thông gió thốc, lá liễu đầm đìa… tất cả đều nhuốm
một lớp nghĩa thứ hai, nghĩa liên hội, nghĩa liên tưởng.

Sở dĩ ngôn ngữ của Hồ Xuân Hương lột tả được ý đồ của nữ sĩ, chính nhờ vào tài
năng của việc sử dụng ngôn ngữ, đi từ cái thông thường đến cái ẩn dụ, vì lẽ đó thơ
của Hồ Xuân Hương đều nhuốm lớp nghĩa thứ hai, thứ ba, muốn hiểu theo nghĩa
nào cũng được. Càng đọc thơ của ba thì chúng ta càng khám phá ra nhiều điều mới
mẻ ở người nghệ sĩ này . Chẳng hạn khi đọc bài thơ “Mời trầu” của Hồ Xuân
Hương nghĩa phô của bài thơ nói chuyện quan hệ , chuyện giao tiếp, nhưng không
đơn thuần là chuyện giao tiếp . ” Miếng trầu ” nhất là “miếng trầu hôi ” không
đáng gì rất xoàng xĩnh, Hồ Xuân Hương như hạ mình, nhưng nó là đầu mối của
mọi tình duyên, nó là tất cả tấm lòng khao khát hạnh phúc của một người phụ nữ
không mấy may mắn trong con đường tình duyên. Vì thế, lời mời nghe chân thành
tha thiết nhưng lời thơ vẫn chua chát đến thảm thương.

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi.

Lời thơ vẫn là một sự mong muốn “Có phải duyên thì thắm lại” chứ không phải là
“Quyện lại “, “kết lại”, “xe lại”. Với cách sử dụng từ ngữ độc đáo này nữ sĩ đã thể
hiện một khao khát chứa biết bao đầm ấm và xao xuyến . Thế nhưng ta nghe như
tan vỡ ra, rạn nứt, mất đi. Thành ngữ “bạc như vôi” được đưa vào như là một sự
biểu hiện chua chát đắng cay của một người đàn bà từng trải lòng trước nhân tình
thế thái. Qua miếng trầu hôi miếng trầu cay nữ sĩ dường như muốn giới thiệu thân
thế của mình bằng một giọng điệu đùa cợt nhưng ẩn chứa cả một tấm lòng khát
khao hạnh phúc lứa đôi đến cháy bỏng.


Trong thơ của Hồ Xuân Hương chúng ta thường bắt gặp mượn cảnh để ngụ tình,
mượn vật để nói người. Cái quạt, quả mít , chiếc bánh trôi …..là những vật thể
bình thường. Có thể nói nó là một ẩn dụ hoặc nhân hóa cũng được. Đặc biệt khi sử
dụng từ ngữ lệch chuẩn trong cách biểu đạt, làm cho câu thơ, lời thơ trở nên sinh,
động, uyển chuyển và giàu ý nghĩa. Trong hai bài thơ “Bánh trôi nước” và “Quả
mít” đã sử dụng một tiếng Em không chỉ dừng lại thủ pháp nghệ thuật nhân hóa và
đâu chỉ đơn giản là chuyện “kỹ thuật” mà trong tiếng ấy vẫn chứa đựng vấn đề tâm
lí. Hồ Xuân Hương nhân hoá để nâng vật ngang lên với người, để gắn cho nó
những cảm xúc cảm giác như người.

Trong những các bài thơ nói về phụ nữ có lẽ “Bánh trôi nước ” là bài thơ hay nhất.
Nhà thơ đã mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước để thể hiện vẻ đẹp về hình thể, tâm
hồn của người con gái thân phận bé nhỏ, dù đời có phũ phàng em vẫn giữ phẩm giá
tâm hồn cao đẹp của mình “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”. Cái hay nhất nhà thơ sử
dụng từ mà nói lên một cách dõng dạc, dứt khoát sự kiên trì và cố gắng đến cùng
để giữ “Tấm lòng son ” – Biểu hiện phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ trong xã
hội phong kiến “trọng nam khinh nữ”.

b. Sự vi phạm lệch chuẩn ngôn ngữ như một hình thức bộc lộ cá tính sáng tạo của
Hồ Xuân Hương.

Như chúng ta đã biết mỗi nhà thơ có một cách lựa chọn “kiểu ” ngôn ngữ riêng cho
bản thân mình. Ngôn ngữ của Bà Huyện Thanh Quan không giống ngôn ngữ của
Hồ Xuân Hương, mặc dầu cả hai nữ sĩ cùng chung sống trong một thời đại. Cũng
rất giàu nữ tính, cũng làm thơ Đường luật…Đọc thơ Bà Huyện Thanh Quan ta
cũng bắt gặp trong đó một sự “lệch chuẩn” với ngôn ngữ đời thường. Sở trường
của Bà là sử dụng loại danh từ để sáng tác. Chẳng hạn khi đọc bài thơ “Thăng
Long thành hoài cổ” của bà ta thấy bài thơ chỉ vẻn vẹn 8 câu, mỗi câu bảy chữ, cả
bài thơ 56 chữ nhưng tác giả sử dụng nhiều danh từ : tạo hóa, xe ngựa, hồn thu
thảo, lâu đài …..Hơn nữa những danh từ này đa số là những danh từ Hán Việt nên


nghĩa của nó rất trừu tượng. Đặc biệt đọc thơ của Bà bài thơ nào cũng đều có một
từ chỉ ánh chiều.

Thơ của Hồ Xuân Hương là thơ chạm trổ, hòn đá biết cười, hang động biết nói…
Trong thơ của Bà sử dụng nhiều hình dung từ và động từ chỉ hoạt động đã chứng tỏ
rằng nhà thơ rất chú ý vẻ bề ngoài của sự vật . Với Bà danh từ không đủ khả năng
mà phải có tính từ để miêu tả sắc thái muôn hình muôn vẻ của đời sống, phải có
động từ chỉ hoạt động muôn vật nhất là sự tương tác giữa chúng. Bởi vậy thế giới
thơ Hồ Xuân Hương đầy màu sắc âm thanh, ánh sáng, hình khối ….Thơ của Bà
tràn trề màu sắc và hầu như không mấy khi những màu sắc ở độ không mà nó luôn
đỏ lóet, xanh rì , tối om,…có vai trò trong việc đẩy màu sắc đến độ cực tả , tạo ra
trong văn bản cái không đồng nhất, từ bình thường sang ẩn dụ.

Qua cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo của Hồ Xuân Hương chúng ta có thể nói đến
một sự “nổi lọan ” của thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Sự nổi loạn trước hết là sự vi
phạm qui tắc thông thường của thơ, những từ, những vần lắt léo tạo nên sự lệch
chuẩn ngôn ngữ để tạo nên những nghĩa mới của Hồ Xuân Hương. Chính sự phá
cách này đã tạo bước dừng , gây sự bỡ ngỡ, gây hứng thú người đọc tìm đến nghĩa
hàm ẩn trong thơ của Hồ Xuân Hương. Mặt khác trong thơ của Bà còn sử dụng
nhiều thủ pháp độc đáo khác trong cách dùng ngôn ngữ. Đó là lối chơi chữ, ví dụ
như trong bài "Khóc Tổng Cóc”, chỉ có 28 chữ đã có đến 5 chữ chỉ những con vật
cùng loài : chuột, chàng, bén, nòng nọc, cóc. Hoặc trong bài “bỡn bà lang khóc
chồng", tác giả dùng toàn những từ chỉ tên hành vi bào chế thuốc và tên thuốc:
Cam thảo, quế chi, liên nhục, sao tẩm…bên cạnh đó còn sử dụng cách nói lái: Đẽo
đá, lộn lèo, đứng chéo, trái gió…Hoặc sử dụng các thành ngữ đan cài vào câu thơ
để mở rộng văn bản: cố đấm ăn xôi, năm thì mười họa, bảy nổi ba chìm….

Tóm lại Hồ Xuân Hương có vốn từ ngữ phong phú, rất chính xác và cũng đồng
thời rất độc đáo. Cái độc đáo trong thơ Hồ Xuân Hương chính là vi phạm một số
qui tắc của ngôn ngữ tự nhiên, tạo nên một sự “lệch chuẩn ” khác lạ với ngôn ngữ
đời thường nhưng vẫn được xã hội chấp nhận tạo cho thơ Hồ Xuân Hương mang


tính đa nghĩa, có nội dung khá phong phú , sinh động và hấp đẫn làm nên sức sống
lâu bền với thời gian.

Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ đầu tiên dùng ngôn ngữ của đại chúng được nâng
cao một cách rộng rãi nhất trong văn học. Thơ Bà ít từ Hán Việt, vài ba điển tích
mà cũng rất quen thuộc với nhân dân và không trở ngại gì cho việc hiểu ý thơ. Tất
cả những điều trên khẳng định Hồ Xuân Hương nắm vững ngôn ngữ dân tộc, có ý
thức dân tộc, có cá tính mạnh mẽ, có bản lĩnh, có tài năng.

Kết luận

Có thể không quá đáng khi nói rằng: Thơ Hồ Xuân Hương đã làm được nhiều điều
mà chúng ta tưởng chừng không thể làm được, cái không thể dưói bàn tay điêu
luyện của Hồ Xuân Hương đã trở thành có thể. Trước và sau bà không có ai làm
được điều đó.

Một điều khi nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương, ngôn ngữ thơ của nữ sĩ chúng ta đều
nhận thấy nội dung và hình thức gắn vào nhau quá chặt chẽ. Tất cả các phương tiện
nghệ thuật đều kết hợp mật thiết với nhau để thể hiện nội dung tư tưởng, tình cảm.
Cả nội dung và hình thức thơ Hồ Xuân Hương đều bắt nguồn sâu sắc từ trong đời
sống nhân dân, đó là điều đã làm cho thơ bà trở nên bất tử. Bà là người góp phần
làm phong phú vốn tiếng Việt và giá trị của nó. Chính vì vậy khi tìm hiểu phong
cách thơ Hồ Xuân Hương chúng ta phải thấy rõ điều này. Hồ Xuân Hương xứng
đáng được mệnh danh “Bà Chúa thơ Nôm”.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×