Tải bản đầy đủ

SKKN REN KY NANG KE CHUYEN CHO HS LOP 3 THU

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học, Kể chuyện là phân
môn nhằm rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đọc, nói và nghe Tiếng Việt. Phân
môn Kể chuyện lớp 3 hướng tới hai yêu cầu: củng cố kĩ năng kể chuyện đã được
hình thành từ các lớp 1, 2 và phát triển kĩ năng kể từng đoạn câu chuyện sáng tạo
theo tranh minh họa cho học sinh lớp 3.
Ở lớp 3, để củng cố và phát triển kĩ năng này, các em được rèn luyện thông
qua các hoạt động: kể lại từng đoạn câu chuyện theo tranh minh họa hoặc theo
gợi ý; bước đầu biết cùng các bạn dựng lại từng đoạn câu chuyện theo phân lối
vai; bước đầu biết kể lại từng đọan câu chuyện theo lời của nhân vật.
Với học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng, kể chuyện đòi
hỏi phải rèn luyện trở thành một kĩ năng, góp phần hoàn chỉnh kĩ năng nghe, nói,
đọc, viết Tiếng Việt. Mà thực tế, trong nhà trường chưa có thầy cô nào đi sâu vào
nghiên cứu việc rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh, do vậy tôi mạnh dạn nghiên
cứu vấn đề làm thế nào để Rèn kĩ năng Kể chuyện cho học sinh lớp 3 làm sáng
kiến kinh nghiệm cho cá nhân mình áp dụng trong dạy học.
2. Nhiệm vụ của sáng kiến kinh nghiệm.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến việc rèn kĩ năng kể
chuyện cho học sinh lớp 3.

- Nghiên cứu thực trạng rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 3.
- Tìm hiểu nguyên nhân khiến học sinh lớp 3 kể chuyện chưa hay và không
có hứng thú học phân môn kể chuyện.
- Đề xuất một số giải pháp có hiệu quả để rèn kĩ năng kể chuyện cho học
sinh lớp 3.
- Giúp học sinh nhận thấy vai trò của kể chuyện trong cuộc sống cũng như
trong học tập nhằm nâng cao động cơ học tập để các em tự giác rèn luyện có như
vậy mới đạt hiệu quả cao.
- Tìm hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến thiếu sót của từng em để có biện pháp
khắc phục kịp thời, hợp lý.
- Theo dõi quá trình rèn luyện của từng em để kịp thời giúp đỡ, động viên
các em.
1


- Sử dụng phối hợp linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh.
3. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Học sinh lớp 3A năm học 2013-2014 Trường TH Đồng Việt.

PHẦN II
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận:
Kể chuyện là một kĩ năng rất cần thiết của học sinh tiểu học. Mục đích
chính của kể chuyện là phát triển kĩ năng nghe và nói cho học sinh; củng cố, mở
rộng và tích cực hóa vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình tượng và tư duy lô gíc,
nâng cao sự cảm nhận về hiện thực đời sống qua nội dung câu chuyện; bồi
dưỡng tình cảm tốt đẹp, trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềm vui
tuổi thơ trong hoạt động học tập môn Tiếng Việt. Mặt khác, thông qua việc tiếp
xúc, nghe và kể lại những văn bản truyện, vốn từ ngữ cũng như tư duy hình
tượng, tư duy lôgíc của các em được nâng cao; sự cảm nhận về hiện thực cuộc
sống qua nội dung câu chuyện cũng trở nên sâu sắc hơn.
Vì vậy rèn kỹ năng kể chuyện cho học sinh lớp 3 là một việc làm thật sự
cần thiết nhất là trong giai đoạn đổi mới như hiện nay.
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong chương trình lớp 3, nội dung kể chuyện chính là câu chuyện các em
học ở bài tập đầu tiên trong tuần. Phân môn kể chuyện không được bố trí tiết
riêng mà được bố trí trong 2 tiết của bài tập đọc. Học sinh luyện đọc và tìm hiểu
bài, đọc trong khoảng 1,5 tiết rồi chuyển sang nội dung kể chuyện trong 0,5 tiết
còn lại.
Ở lớp 3, có các dạng kể chuyện sau đây:
a) Kể chuyện theo tranh minh họa.
Với dạng kể chuyện này, thầy cô giáo có thể yêu cầu học sinh:
2


- Kể theo đúng thứ tự các tranh minh họa hay sắp xếp lại tranh minh họa
cho đúng diễn biến của câu chuyện rồi mới kể.
- Kể một đoạn của câu chuyện hay toàn bộ câu chuyện.
- Kể theo ngôn ngữ trong bài tập đọc, kể theo lời của một nhân vật hoặc kể
bằng lời của mình.
b) Kể chuyện theo tranh bằng lời của em.
Với dạng kể chuyện này, thầy cô giáo có thể yêu cầu học sinh:
Kể một đoạn câu chuyện hay kể toàn bộ câu chuyện.
Kể theo ngôn ngữ trong bài tập đọc, kể theo lời của một nhân vật hay lời
của mình.
c). Tự đặt tên cho các đoạn rồi kể lại câu chuyện.
Với dạng kể chuyện này, thầy cô giáo yêu cầu học sinh:
Kể một đoạn câu chuyện hay kể toàn bộ câu chuyện.
Kể theo ngôn ngữ trong bài tập đọc, kể theo lừoi của một nhân vạt hay lời
của mình.
d) Phân vai dựng lại câu chuyện.
Đề bài yêu cầu các em làm việc theo nhóm: phân vai, mỗi người một vai,
nói lời nhân vật mình đóng vai theo trí nhớ, không nhìn sách, có thể kèm với
động tác, cử chỉ, điệu bộ như đang đóng kịch.
Mục tiêu của phân môn kể chuyện là nhằm phát triển lời nói cho học sinh,
bồi dưỡng cho các em những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, cung cấp những kiến
thức về vốn sống và văn học, nêu những tấm gương có tác dụng giáo dục. Vì vậy
rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh là một việc làm cần thiết của cá nhân tôi
cũng như của mỗi giáo viên. Điều đó đồng nghĩa với việc cần nghiên cứu xem
hiện nay việc rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 3 có những khó khăn gì?
Làm thế nào để tất cả các em học sinh đều kể chuyện hay và yêu thích nghe – kể
chuyện? Vì vậy mà tôi muốn được góp thêm một giải pháp cụ thể để giúp học
sinh lớp 3 của tôi chủ nhiệm kể chuyện tốt.
3. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.
Từ xa xưa, kể chuyện được coi là một bộ môn nghệ thuật. Trong thời thơ
ấu của mình, có lẽ ai cũng đều tiếp nhận được những ấn tượng không bao giờ
phai nhạt về những câu chuyện dân gian qua giọng kể của mẹ, của bà hoặc
những người thân khác trong gia đình. Nhưng đó là cách kể truyền miệng nên ít
3


nhiều cũng ảnh hưởng đến việc cảm thụ cái hay, cái đẹp của mỗi câu chuyện.
Trong bối cảnh hiện nay, có lẽ cách kể truyền miệng ấy ít còn được duy trì và
phát huy vì sự phát triển của công nghệ thông tin.
Thực tế vì nhiều lý do khác nhau, đa số các em học sinh kể chuyện chưa
hay dù đó là các câu chuyện được học trong chương trình. Qua quá trình điều tra,
tôi nhận thấy sở dĩ học sinh chưa học tốt phân môn Kể chuyện là vì:
- Học sinh chưa có sự chuẩn bị trước khi kể nên chưa cảm thụ được nội
dung câu chuyện.
- Một số em thiếu tự tin, mất bình tĩnh khi đứng trước đám đông.
- Các em chưa hiểu thế nào là kể sáng tạo quá chú tâm vào việc làm thế
nào để kể khác hơn tác giả mà không chú ý đến việc kể diễn cảm.
- Một số em chưa nắm được kỹ thuật kể chuyện nên còn lúng túng.
- Một số học sinh chưa nhận thức được vai trị của kể chuyện hoặc ý thức
học tập chưa cao nên không cố gắng học tập và rèn luyện.
4. Các biện pháp tiến hành:
4.1. Hướng dẫn học sinh đọc hiểu câu chuyện:
Người kể phải đọc đi đọc lại câu chuyện, đọc nhiều lần thì mới hiểu hết ý
nghĩa, ngôn từ của câu chuyện. Đọc diễn cảm để lắng nghe âm điệu của tác giả
và lời nói, giọng điệu cử chỉ, điệu bộ của từng nhân vật. Từ đó phải suy nghĩ về
những sự việc, con người trong câu chuyện, phải đồng cảm với suy nghĩ, tâm tư
của tác giả, số phận của nhân vật.
Để tìm hiểu thấu đáo truyện giáo viên có thể đặt những câu hỏi như sau:
- Câu chuyện thuộc loại truyện gì?
- Câu chuyện nêu vấn đề gì? Xảy ra bao giờ ở đâu?
- Truyện có mấy nhân vật, đại diện cho tầng lớp người nào trong cuộc
sống? Cuộc đời, số phận của từng nhân vật ra sao?
- Câu chuyện xảy ra, diễn biến với các sự kiện như thế nào? Kết thúc ra
sao?
- Thông qua câu chuyện có thể rút ra ý nghĩa gì cho cuộc sống hiện tại?
- Thử tóm tắt nội dung câu chuyện.
4.2.Cách sử dụng lời kể trong khi kể chuyện:
Khi đọc truyện, người đọc cần trung thành với ngôn từ trong văn bản. Khi
kể chuyện lời kể thoát ra khỏi văn bản và trở thành ngôn từ của người kể. Trên
4


cơ sở nắm vững cốt truyện, nhớ kĩ các tình tiết, hiểu thấu đáo nội dung và nghệ
thuật của truyện, người kể chọn lựa lời kể phù hợp.
- Lời kể có khi được lược bỏ đi chi tiết rườm rà, không cần thiết.
- Ngược lại có thể thêm thắt một số đoạn ngắn miêu tả nhân vật, tả cảnh
nhằm bộc lộ tình cảm, tâm trạng, tính cách nhân vật cho câu chuyện trở nên sinh
động hấp dẫn hơn.
- Trong các truyện dân gian, thỉnh thoảng có xen vào lời nói có vần điệu,
những câu cố định, thì người kể phải giữ nguyên văn trong lời kể của mình.
- Việc sử dụng từ ngữ trong lời kể cần phù hợp với câu chuyện.
4.3. Lựa chọn ngữ điệu kể:
Ngữ điệu kể bao gồm các yếu tố sau:
- Sự lên cao giọng hoặc hạ thấp giọng ở những lời kể khc nhau (câu kể,
câu hỏi, câu cảm thán, câu cầu khiến).
- Sự ngắt nghỉ trong lời kể (tạo sự chờ đợi, không khí yên tĩnh,…)
- Cường độ (to/ nhỏ) và tốc độ nhanh/ chậm) của lời kể.
- Sắc thái tình cảm của giọng kể (vui, buồn, hờn, giận, chanh chua, độc ác,
cay nghiệt, hiền từ, tôn kính, trang trọng, châm biếm, âu yếm, dịu dàng, mệt mỏi,
say sưa …)
Tùy theo đặc điểm nội dung nghệ thuật của truyện, tùy theo tình cảm, tâm
trạng, tính cách của nhân vật, người kể cần lựa chọn ngữ điệu kể phù hợp. Nếu
giọng kể đều đều từ đầu đến cuối thì thật là buồn chán.
4.4. Cử chỉ điệu bộ của người kể:
Kể chuyện là một hoạt động mang tính nghệ thuật, do đó có yêu cầu diễn
xuất. Diễn xuất trong kể chuyện bao gồm ngữ điệu kể và sự thể hiện qua nét mặt,
điệu bộ của người kể.
Tùy theo nội dung câu chuyện và diễn biến của các tình tiết mà nét mặt,
điệu bộ của người kể cần phối hợp một cách tự nhiên cùng với lời kể.
Lưu ý: Kể chuyện không phải là diễn kịch. Sự diễn xuất qua nét mặt, cử
chỉ không nên quá cường điệu mà chỉ là sự phối hợp tự nhiên với ngữ điệu kể.
4.5. Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho kể chuyện:
Có thể sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho kể chuyện như: các tranh ảnh,
đồ vật, cảnh vật liên quan đến câu chuyện, máy ghi âm… để minh họa, dẫn dắt
5


câu chuyện, dồng thời còn chắp cánh cho trí tưởng tượng bay bổng, phong phú
của người nghe về câu chuyện.
4.6. Thực hiện trong tiết dạy:
Ở hoạt động này, giáo viên cần lưu ý đến đặc điểm riêng của từng loại bài
để dễ dàng hướng dẫn học sinh và tiến trình bài dạy diễn ra một cách nhẹ nhàng
nhằm rèn luyện kĩ năng kể chuyện cho học sinh một cách tốt nhất.
a. Kể chuyện theo tranh minh họa
Tôi đã thực hiện những thao tác sau đây để hướng dẫn học sinh kể chuyện
cho tốt:
Bước 1. Định hướng để học sinh xác định yêu cầu.
Cần cho học sinh thấy rõ đề bài yêu cầu các em dựa vào bức tranh minh
họa để kể lại từng đoạn câu chuyện hoặc toàn bộ câu chuyện.
Bước 2. Hướng dẫn tập kể chuyện. Hướng dẫn học sinh tập kể theo các ý:
- Quan sát tranh, sắp xếp lại tranh minh họa cho đúng diễn biến của câu
chuyện (nếu tranh chưa đúng thứ tự ).
- Xác định tình tiết của câu chuyện được thể hiện trong bức tranh. Mỗi bức
tranh minh họa đã thể hiện một tình tiết chính ấy bằng cách trả lời câu hỏi: Tranh
vẽ cảnh gì?
Bước 3. Kể lại từng đọan hoặc toàn bộ câu chuyện theo tranh.
Khi kể lại chuyện, chỉ cần kể đúng cốt chuyện, không phải lặp lại nguyên
văn lời của SGK. Các em chú ý phối hợp giọng điệu, lời kể với nét mặt, cử chỉ
khi thể hiện câu chuyện qua giọng kể.
b. Kể chuyện theo gợi ý bằng lời
Về dạng kể chuyện này, nên hướng dẫn các em thực hiện theo những thao
tác sau để kể cho tốt:
Bước 1. Định hướng để học sinh xác định yêu cầu.
Đề bài yêu cầu các em dựa vào các câu hỏi gợi ý để kể lại từng đoạn câu
chuyện hoặc toàn bộ câu chuyện.
Bước 2. Hướng dẫn tập kể chuyện. Hướng dẫn học sinh tập kể theo các ý:
- Trả lời các câu hỏi gợi ý hoặc căn cứ vào cắc gợi ý để xác dịnh tình tiết
chính của đoạn văn.
6


- Chuyển những lời kể của người dẫn chuyện bằng những lời kể của nhân
vật (nếu đề yêu cầu ).
Bước 3. Kể lại từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện.
Khi kể lại câu chuyện, em chỉ cần kể đúng cốt chuyện, không phải lặp lại
nguyên văn lời của SGK. Phối hợp giọng điệu, lời kể với nét mặt, cử chỉ khi em
thể hiện câu chuyện qua giọng đọc.
c. Tự đặt tên cho các đoạn rồi kể lại
Về dạng kể chuyện này, các em nên thực hiên theo những thao tác sau để
kể cho tốt:
Bước 1. Định hướng để học sinh xác định yêu cầu.
Đề bài yêu cầu em làm gì? (Đặt tên cho từng đoạn của câu chuyện; Kể lại
từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện).
Bước 2. Hướng dẫn tập kể chuyện. Hướng dẫn học sinh tập kể theo các ý:
- Căn cứ vào nội dung chính của các đọan văn, em đặt tên cho từng đoạn,
sao cho tên ấy nói được ý chung nhất của đoạn, tên đoạn nên ngắn gọn.
- Chuyển những lời kể của người dẫn chuyện bằng những lời kể của nhân
vật (nếu đề yêu cầu).
Bước 3. Kể lại từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện.
Khi kể lại câu chuyện, em chỉ cần kể đúng cốt chuyện, không phải lặp lại
nguyên văn lời của SGK. Phối hợp giọng điệu, lời kể với nét mặt, cử chỉ khi em
thể hiện câu chuyện qua giọng đọc.
d. Phân vai dựng lại câu chuyện
Về dạng kể chuyện này, các em nên thực hiện những thao tác sau để kể
chuyện cho tốt
Bước 1. Định hướng để học sinh xác định yêu cầu.
Đề bài yêu cầu các em làm việc theo nhóm: phân vai, mỗi người một vai,
nói lời nhân vật mình đóng vai theo trí nhớ, không nhìn sách, có thể kèm với
động tác, cử chỉ, điệu bộ như đang đóng kịch.
Bước 2. Hướng dẫn tập kể chuyện. Hướng dẫn học sinh tập kể theo các ý:
- Phân vai (mỗi bạn nhận một vai).
Bảng phân vai:
7


+ Người dẫn chuyện
+ Nhân vật thứ nhất
+ Nhân vật thứ hai
+ Nhân vật thứ ba...
- Học thuộc lời nói mà vai kể của mình đảm nhiệm.
Bước 3. Kể chuyện theo vai, phối hợp giọng điệu, lời kể với nét mặt, cử
chỉ khi em thể hiện câu chuyện qua giọng kể.
4.7. Giáo viên cần lưu ý khi hướng dẫn học sinh kể chuyện:
- Nếu có em đang kể bỗng lúng túng vì quên chuyện, giáo viên có thể nhắc
một cách nhẹ nhàng để em đó nhớ lại câu chuyện.
- Nếu có em kể thiếu chính xác, cũng không nên ngắt lời thô bạo. Chỉ
nhận xét khi em đó đã kể xong.
- Nên động viên, khuyến khích để các em tự tin, hồn nhiên như là đang kể
cho anh, chị, em hay bạn bè nghe.
- Giáo viên cần quan niệm đúng mức về kể sáng tạo. Chúng ta không coi
việc học sinh kể thuộc lòng câu chuyện, kể chính xác từng câu chữ trong văn bản
truyện là thiếu sáng tạo. Chỉ trong trường hợp học sinh kể như đọc văn bản, vừa
kể vừa cố nhớ lại một cách máy móc từng câu chữ trong văn bản, giáo viên mới
nhận xét kể như thế là chưa tốt.
Sau mỗi lần học sinh kể, cả lớp và giáo viên nhận xét nhanh theo những
yêu cầu sau:
- Về nội dung: Kể có đủ ý đúng trình tự không?
- Về diễn đạt: Nói đã thành câu chưa? Dùng từ có phù hợp không? Đã biết
kể bằng lời của mình chưa (mức độ cao)?
- Về cách thể hiện: Giọng kể có thích hợp, có tự nhiên không? Đã biết
phối hợp giữa lời kể với điệu bộ, nét mặt chưa?
Cần đặc biệt khen ngợi những học sinh có lời kể sáng tạo.
5. Kết quả dạy học:
Qua quá trình tìm hiểu và áp dụng, biện pháp này đã mang lại hiệu quả
cao trong quá trình rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh lớp 3. Các em có hứng
thú tích cực học tập và đa số học sinh có kĩ năng kể chuyện tốt .
8


Dưới đây là bảng thống kê số học sinh thực hiện được các yêu cầu
khi kể chuyện:
Về nội dung
Đợt kiểm
tra
Tháng
9/2013
Tháng
11/2013
Tháng
1/2014
Tháng
3/2014

TSHS

Về cách thể hiện

Về cách diễn đạt

Đạt

Chưa
đạt

Đạt

Chưa
đạt

Đạt

Chưa
đạt

21

10

11

3

18

5

16

21

13

8

7

14

7

14

21

17

4

10

11

12

9

21

19

2

15

6

14

7

PHẦN III
KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
- Nâng cao hiệu quả dạy học kể chuyện lớp 3.
- Tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nhận thấy tầm quan
trọng của phân môn kể chuyện từ đó giáo dục động cơ học tập cho các em.
- Đem lại cho các em nhiều lợi ích trong nghe, nói, đọc, viết.
- Hình thành kĩ năng kể chuyện cho các em, giúp các em diễn đạt tư
tưởng, tình cảm một cách rõ ràng, chính xác. Đó cũng là cơ sở để các em học tốt
các môn học khác và bồi dưỡng những tình cảm đạo đức tốt đẹp.
2. Khả năng phát triển của sáng kiến:
- Sáng kiến của tôi có thể áp dụng cho tất cả học sinh khối 2 và khối 3 ở
Tiểu học.
- Ngoài ra sáng kiến này còn là tài liệu tham khảo áp dụng cho phân môn
Tập làm văn lớp 4, 5 ở dạng bài Kể chuyện đã nghe, đã đọc.

9


3. Bài họckinh nghiệm:
Việc nghiên cứu kĩ tài liệu, sách báo, tham khảo nội dung, phương pháp
dạy học Kể chuyện và kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp là một việc làm cần
thiết đối với mỗi giáo viên.
Người giáo viên nên có cái nhìn tổng quát về tổng thể chương trình của
môn Tiếng Việt để thấy được giữa các mạch kiến thức liên quan như thế nào? Vai
trò ý nghĩa của chúng ra sao? Từ đó có sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy,
có sự linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong hoạt động dạy học để biết mình phải
làm gì?
Phát huy hết hiệu quả của từng biện pháp dạy học, phối hợp linh hoạt các
biện pháp để mọi học sinh trong lớp đều được hoạt động.
Giáo viên là người khơi gợi ý thức, quyết tâm và lòng tự tin của học sinh;
động viên nhắc nhở kịp thời để học sinh tự giác nâng cao kết quả rèn luyện.
Giáo viên cần phối hợp chặt chẽ với gia đình và cộng đồng để giáo dục
học sinh một cách toàn diện.
4. Ý kiến đề xuất:
- Nhà trường có thể trang bị các phương tiện hỗ trợ cho kể chuyện như:
các tranh ảnh, đồ vật, cảnh vật liên quan đến câu chuyện, máy ghi âm… để minh
họa, dẫn dắt câu chuyện hấp dẫn hơn.
- Trên đây là tất cả suy nghĩ và những việc tôi đã làm cũng như những kết
quả tôi đã thu được trong năm học 2013 – 2014.
Trên đây là một số kinh nghiệm về Rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh
lớp 3 mà tôi đã áp dụng trong quá trình dạy học. Ngoài kinh nghiệm của bản
thân, tôi còn luôn học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp để nâng cao cho chuyên
môn của mình. Việc rèn kĩ năng kể chuyện cho học sinh đã thu được những kết
quả khả quan, song chắc rằng không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy, rất mong
các bạn đọc đồng nghiệp sẽ cùng tôi khắc phục những thiếu sót để chúng ta cùng
nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đào tạo một thế hệ trẻ với những con người
phát triển toàn diện, đáp ứng với công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất
nước. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thày cô đồng nghiêp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Việt, ngày 8 tháng 3 năm 2014
Người viết
Đỗ Thị Thư
10


TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT

Tên tài liệu

Tác giả

Nhà xuất bản

1

Sách giáo khoa lớp 3
tập 1,2

Nguyễn Minh Thuyết
(chủ biên)

Nhà xuất bản giáo
dục

2

Hỏi đáp về dạy học
Tiếng việt 3

Nguyễn Minh Thuyết
(chủ biên)

Nhà xuất bản giáo
dục

3

Rèn kĩ năng kể chuyện
cho học sinh lớp 3

Lê Anh Xuân

Nhà xuất bản giáo
dục

( chủ biên)
MỤC LỤC

Tên mục

Trang

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.

1

2. Nhiệm vụ của sáng kiến kinh nghiệm.

1

3. Phương pháp nghiên cứu.

2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

2

PHẦN II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận:

2
2

2. Cơ sở thực tiễn:
3. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu.
4. Các biện pháp tiến hành:

3
4
8

5. Kết quả dạy học:
PHẦN III. KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:

9

2. Khả năng phát triển của sáng kiến:

9

3. Bài họckinh nghiệm:

10

4. Ý kiến đề xuất:

10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

11

MỤC LỤC

11
11


12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×