Tải bản đầy đủ

Phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Xây dựng một tình huống tranh chấp có liên quan và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân

MỞ ĐẦU
Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội thông qua với rất nhiều quy định
được sửa đổi, bổ sung theo hướng vì con người, đề cao các giá trị phổ biến về
quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Trong đó, có nhiều sự
thay đổi cơ bản liên quan đến chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng - một
trong những chế định pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong đời sống dân sự để đảm
bảo lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi có thiệt hại xảy ra. Đây chính là cơ sở
pháp lý quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp về BTTH ngoài hợp đồng cũng như ngăn chặn các hành vi trái pháp luật gây
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Trong số những trường hợp được quy định cụ
thể, có một quy định được cho là đã được sửa đổi theo hướng đó – quy định về
trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
Nhà cửa, công trình xây dựng khác là những tài sản lớn, có ý nghĩa quan trọng
đối với mỗi người. Thông thường nhà ở hay các công trình xây dựng khác có được
xây dựng kiên cố nhằm sử dụng trong thời gian dài. Tuy nhiên, nhiều trường hợp
do không đủ chi phí hay để tiết kiệm chi phí hoặc các nhà thầu rút lõi công trình
làm lợi cá nhân mà xây dựng không đảm bảo chất lượng dẫn đến nhà cửa bị sập đổ,
làm công trình xung quanh sụt lún, đổ gây ra thiệt hại về người và tài sản. Ngoài ra,
một số nhà cửa, công trình xây dựng khác mặc dù được xây dựng đảm bảo chất
lượng nhưng do đã sử dụng quá lâu nên không còn chắc chắn dẫn đến sụp đổ gây

ra thiệt hại cho người khác. Để tìm hiểu về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, em xin chọn nghiên
cứu đề bài 14: “Phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Xây dựng một tình huống tranh
chấp có liên quan và đưa ra cách giải quyết theo quan điểm cá nhân”.
NỘI DUNG
I.
Các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
1.
Cơ sở lý luận về trách trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà
cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
1.1.
Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Trách nhiệm BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là một
trường hợp cụ thể được quy định trong Mục 3. Bồi thường thiệt hại trong một số
trường hợp cụ thể của Chương XX BLDS. Đồng thời, trách nhiệm BTTH do nhà
cửa, công trình xây dựng khác gây ra thuộc loại BTTH do tài sản gây ra.


Trong BLDS năm 2005 cũng như BLDS năm 2015 không có quy định
về khái niệm cũng như không có các quy định chung về trách nhiệm BTTH
do tài sản gây ra mà chỉ quy định ở các trường hợp BTTH cụ thể. Tuy nhiên theo
các quy định liên quan ta có thể định nghĩa như sau: Trách nhiệm BTTH do tài sản
gây ra là hậu quả pháp lý bất lợi áp dụng cho CSH, người chiếm hữu, người được
giao quản lý, sử dụng tài sản đã để tài sản gấy thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài
sản và các quyền và lợi ích hợp pháp khác phải BTTH do tài sản gây ra.
Cũng cần lưu ý trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra là một loại trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng.
1.2.
Khái niệm, đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác
Không có một văn bảo nào đưa ra khái niệm về thuật ngữ “nhà cửa” tuy nhiên
có thể hiểu theo nghĩa chung nhất nhà cửa là “nhà để ở nói chung”. Tức là hai khái
niệm “nhà cửa” và “nhà ở” là hai khái niệm đồng nhất về mặt ý nghĩa, đều nói đến
“nhà”- một loại tài sản trong hệ thống pháp luật dân sự. Theo khái niệm được quy
định tại khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014, “nhà ở là công trình xây dựng với
mục đích để ở và phục vụ các như cầu sinh hoạt của gai đình, cá nhân”.Có nghĩa là
nhà cửa là một công trình xây dựng do con người tạo nên. Chính vì thế mà luật gọi
tên các công trình khác nhà cửa là “công trình xây dựng khác”.
Theo qui định tị khoản 10 Điều 3 Luật xây dựng năm 2014, “Công trình xây
dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây
dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm
phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước,
được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng,
công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình
hạ tầng kỹ thuật và công trình khác”. Ngoài ra các công trình xây dựng còn được
liệt kê và phân tích theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị định số 46/2015 về quản lý chất
lượng và công trình xây dựng. Như vậy ở chế định này không chỉ nêu khái niệm về
công trình xây dựng mà còn chỉ rõ các loại công trình xây dựng. Theo đó, chỉ
những công trình xây dựng được quy định theo điều này và các văn bản hướng dẫn
nếu gây thiệt hại sẽ bị áp dụng Điều 605 BLDS để giải quyết.
1.3.
Cơ sở pháp lý
Trước hết, BLDS dành một diều khoản quy định cụ thể về trách nhiệm BTTH
do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra tại Điều 605.
Ngoài ra, vì đây là một trường hợp cụ thể của chế định trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng, nên còn phải chịu sự điều chỉnh của các điều khoản trong phần


quy định chung của Mục 1 và xác định thiệt hại theo Mục 2 cùng chương cùng với
các văn bản luật hướng dẫn thi hành.
1.4.
Các chủ thể phải bồi thường thiệt hại:
Cũng giống như các trường hợp do tài sản gây thiệt hại khác, các chủ thể chịu
trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
ra không phải là người có hành vi trái pháp luật mà là CSH, người chiếm hữu,
người quản lý, sử dụng tài sản gây thiệt hại.
+ CSH: CSH được xác định là người có quyền sở hữu đối với nhà cửa, công
trình xây dựng khác. Việc xác định CSH của loại tài sản này tương đối đơn giản,
bởi chỉ nhà cửa, công trình xây dựng khác thuộc nhóm bất động sản phải đăng ký
quyền sở hữu theo luật định. Do đó chỉ cần căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sở
hữu là có thể xác định được.
+ Người chiếm hữu: Người chiếm hữu có thể hiểu là người nắm giữ quản lý
tài sản. Người chiếm hữu có thể là chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu
không có căn cứ pháp luật.
+ Người được giao quản lý, sử dụng: Người được giao quản lý có thể là cá
nhân, pháp nhân quản lý tài sản thông qua hợp đồng hoặc chủ thể khác giao cho
quản lý, sử dụng. Trong trường hợp CSH chuyển giao quản lý, khai thác, sử dụng
nhà cửa, công trình xây dựng khác cho người khác thông qua hợp đồng thì người
được chuyển giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác đó phải
BTTH.
Những trường hợp sau đây sẽ dẫn đến xuất hiện chủ thể là người được giao
quản lý: Nhà nước giao tài sản thuộc sở hữu nhà nước là nhà cửa, công trình xây
dựng khác cho một số chủ thể là cơ quan tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác và sử
dụng; CSH là cộng đồng dân cư giao tài sản thuộc sở hữu cộng đồng cho những
chủ thể nào đó quản lý; CSH ủy quyền cho người khác quản lý; CSH cho người
khác thuê, mượn;…Khi CSH chuyển giao toàn bộ quyền khai thác, sử dụng nhà
cửa, công trình xây dựng khác, thì người thê trực tiếp quản lý, trông coi nhà cửa,
công trình xây dựng khác để khai thác, sử dụng.
2.
Các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.

Theo Điều 605 BLDS quy định:
“CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công
trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng
khác đó gây thiệt hại cho người khác.


Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây
thiệt hại thì liên đới phải bồi thường”
Theo quy định này, có thể thấy CSH, người chiếm hữu, người được giao quản
lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải BTTH do nhà cửa, công trình
xây dựng khác gây ra dù có lỗi hay không và do bất cứ nguyên nhân nào (tất nhiên
là trừ trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 2 Điều 584 BLDS)
So với quy định này tại BLDS 2005 chỉ khoanh một số nguyên nhân nhất định
như: “sụp đổ, hư hỏng, sạt lở” thì quy định này đã mở rộng phạm vi các trường hợp
BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Quy định cũ sẽ không bao
quát được hết các trường hợp trong thực tế, chẳng hạn như: nhà bị cháy, lún,... Sự
thay đổi này là sự phù hợp giữa quy định pháp luật với đời sống xã hội và phù hợp
với lẽ công bằng. Không những thế, hai căn cứ loại trừ cũng được bỏ đi là “hoàn
toàn do lỗi của người bị thiệt hại” và “sự kiện bất khả kháng”. Bởi những quy định
này đã được quy định tại Điều 584.

Tuy nhiên để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây ra thì cần phải đáp ứng các căn cứ phát sinh trách
nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung hay các điều kiện để phát sinh trách nhiệm
BTTH do tài sản gây ra nói riêng.
Tại khoản 3 Điều 584 BLDS quy định: “Trường hợp gây thiệt hại thì CSH,
người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm BTTH, trừ trường hợp phát sinh
theo quy định tại khoản 2 Điều này”. Đây là lần đầu tiên, căn cứ phát sinh trách
nhiệm BTTH do tài sản gây ra được tách biệt rạch ròi với trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do hành vi gây ra. Theo đó, khi tài sản gây thiệt hại mà không thuộc các
trường hợp loại trừ thì CSH, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi
thường.
Tuy nhiên khi giải quyết các cụ việc về BTTH do tài sản gây ra nói chung, do
nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra nói riêng thì cơ quan có thẩm quyền sẽ
phải xác định các điều kiện cụ thể. Có ba điều kiện cơ bản để phát sinh trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là: Có thiệt hại
xảy ra; có sự kiện gây thiệt hại của tài sản và có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác
động của nhà cửa, công trình xây dựng khác đối với thiệt hại xảy ra. Ngoài ra theo
một số quan điểm, lỗi cũng được coi là một điều kiện.
Điều kiện thứ nhất: có thiệt hại xảy ra.
Đây là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Do đó nhà cửa, công trình xây dựng khác phải gây ra thiệt hại cho người khác thì
mới phải bồi thường, không có thiệt hại thì không phải bồi thường. Cũng cần lưu ý,


trong trách nhiệm dân sự, chỉ cần có thiệt hại dù không nghiêm trọng cũng phải bồi
thường. Bởi lẽ, thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm BTTH vì mục đích của
việc áp dụng trách nhiệm là đền bù tổn thất đã gây ra cho người bị thiệt hại chứ
không phải răn đe hay trừng phạt như hình sự, hành chính.
Như vậy, cần xác định thế nào là thiệt hại. Có thể hiểu, thiệt hại là những tổn
thất thực tế được tính thành tiền, do được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, do tính chất của loại trách nhiệm
này mà các loại thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra chỉ bao gồm
thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng cho người khác. Riêng thiệt hại về danh
dự, uy tín, nhân phẩm không thuộc phạm vi tác động gây thiệt hại của tài sản. Tuy
nhiên, cũng có thể có những trường hợp gây thiệt hại về tinh thần cho những người
xung quanh.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra chỉ áp dụng khi tài sản gây
thiệt hại “cho người khác”. “Người khác” được hiểu là những người khi xảy ra thiệt
hại, không phải là CSH, người được chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản.
Nếu tài sản gây thiệt hại cho CSH, họ phải tự chịu mọi rủi ro đối với thiệt hại do tài
sản của mình gây ra. Trường hợp tài sản gây thiệt hại cho người chiếm hữu, sử
dụng tài sản theo nghĩa vụ lao động, người chiếm hữu, sử dụng bị thiệt hại có thể
được hưởng bồi thường theo chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Nếu thiệt hại gây ra
cho người được chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng theo hợp đồng, việc có làm
phát sinh trách nhiệm bồi thường hay không còn phụ thuộc vào thỏa thuận của các
bên cũng như các quy định khác của pháp luật.
Cách tính mức thiệt hại của từng loại thiệt hại tuân theo nguyên tắc chung
được quy định tại Điều 589, Điều 590, Điều 591 BLDS.
Điều kiện thứ hai: có sự kiện gây thiệt hại của tài sản
Để áp dụng được các quy định đang phân tích thì phải có sự hiện diện của
“nhà cửa, công trình xây dựng khác” trong sự kiện gây thiệt hại. Hay nói cách khác,
sự kiện gây thiệt hại đó phải do tài sản đó tác động gây ra. Đây là một điều kiện
hoàn toàn tất yếu. Bởi lẽ nếu không có sự kiện gây thiệt hại do chính tài sản đó thì
sẽ không thuộc vào chế định BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
này nữa. Thiệt hại xảy ra khi đó sẽ phải do một nguyên nhân khác nên sẽ chịu sự
điều chỉnh của các quy định khác.
Bên cạnh đó cũng cần xem xét tài sản mà gây thiệt hại đó có là đối tượng
được luật điều chỉnh hay không. Cụ thể là phải là nhà cửa, công trình xây dựng
khác mà được nêu trong phần khái niệm ở mục trước. Còn những tài sản không


được quy định thì sẽ không được điều chỉnh theo chế định này. Chẳng hạn như
hang động, nhà di động,…
Điều kiện thứ ba: phải có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà
cửa, công trình xây dựng khác đối với thiệt hại xảy ra.
Có thể thấy đặc điểm của các loại đối tượng này là đều là những bất động sản,
gắn liền với đất và thuộc loại phải đăng ký nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại
cho con người mà không hề có hành vi tác động trực tiếp nào của con người.
Mặt khác, cũng do tính chất không di chuyển được như động vật, con người
hay các loại động sản khác mà nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại
cũng chỉ trong phạm vi con người định vị. Do đó khi xác định quan hệ nhân quả
giữa sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng khác đối với thiệt hại xảy ra cần
lưu ý đến phạm vi gây thiệt hại của những loại tài sản này.
Liên quan đến tài sản gây thiệt hại có thể có 2 loại trách nhiệm bồi thường
thiệt hại sau phát sinh: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người
gây ra có liên quan đến tài sản và trách nhiệm bồi thường trong trường hợp bản
thân tài sản gây ra thiệt hại. Loại trách nhiệm thứ nhất rất dễ gây nhầm lẫn và bị
đánh đồng với loại trách nhiệm thứ hai ở sự “có liên quan đến tài sản”. Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra chỉ được áp dụng khi thiệt hại “do sự
tác động tự thân của tài sản” gây ra. Sự kiện gây thiệt hại của tài sản nằm ngoài sự
kiểm soát, chế ngự của con người và tự thân tài sản có thể gây thiệt hại mà không
có sự tác động trực tiếp và cơ học của con người.
Việc xác định thiệt hại là do “tác động của người” hay “tác động của vật”có ý
nghĩa vô cùng quan trọng khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, là điểm
mấu chốt để phân định ranh giới giữa hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại: do
hành vi của con người gây ra và do tài sản gây ra. Bởi lẽ, nhà cửa, công tình xây
dựng còn có khả năng gây thiệt hại do hành vi của con người tác động (ví dụ A phá
dỡ nhà cửa để xây mới nhưng không may làm đổ tường làm gãy chân B). Trong
tình huống trên, thiệt hại gây ra do hoàn toàn do hành vi của một chủ thể xác định.
Ý chí của chủ thể được thể hiện thông qua hành vi tác động trực tiếp đến nhà cửa.
Hay nói cách khác chúng chỉ đóng vai trò là những công cụ để chủ thể gây thiệt hại
cho người khác dù cố ý hay vô ý. Thông qua hành vi của con người, những tài sản
này gây ra thiệt hại cho người khác nên việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt
hại dựa trên căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại nói chung. Chính
vì vậy khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cần lưu ý để tránh nhầm lẫn
giữa tác động do con người hay tác động do tài sản
Yếu tố lỗi:


Yếu tố lỗi hiện nay vẫn đang là yếu tố gây nhiều tranh cãi. Theo quy định của
BLDS 2005 thì một trong những điều kiện để phát sinh trách nhiệm BTTH là có lỗi
của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, điều này sẽ là không hợp lý với những trường
hợp thiệt hại là do tài sản gây ra. Bởi vì, theo lý luận về Nhà nước và pháp luật thì
lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của
mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Vậy thì, không thể tìm kiếm được yếu tố lỗi
trong trường hợp tài sản - một vật vô tri, vô giác - gây ra thiệt hại. Ngoài ra còn một
cách hiểu,lỗi ở đây là của chủ thể phải chịu trách nhiệm BTTH. Tuy nhiên nếu như
lỗi là một điều kiện thì cũng có nhiều vướng mắc khác. Cụ thể theo quy định tại
Điều 604 BLDS 2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt
hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh
người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh
người gây thiệt hại có lỗi. Như vậy phải chăng là quá cam go cho người bị thiệt hại
bởi việc chứng inh lỗi trong những trường hợp như do nhà cửa, công trình xây
dựng khác gây ra là vô cùng khó. BLDS 2015 đã khắc phục được thiếu sót này khi
bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại”. Cụ thể,
khoản 3 Điều 584 quy định: “CSH, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm
BTTH trong trường hợp tài sản gây thiệt hại”. Sự bổ sung của BLDS 2015 đã sát
thực tế hơn và tạo nên sự thống nhất trong quy định về thực tiễn áp dụng pháp luật,
góp phần làm ổn định và lành mạnh hóa các quan hệ pháp luật dân sự. Mặt khác, tại
quy định cụ thể tại điều 605 cũng không chỉ ra yêu cầu cần có yếu tố lỗi. Như vậy
BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp
đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại.
Theo BLDS 2015 thì có thể hiểu như sau: Lỗi không được coi là căn cứ chủ
yếu phát sinh trách nhiệm BTTH nhưng được xem là căn cứ để xác định chủ thể
chịu trách nhiệm BTTH. Nếu lỗi là hoàn toàn do người bị thiệt hại thì anh ta sẽ phải
tự chịu trách nhiệm về hậu quả xảy ra đối với mình. Chẳng hạn, thấy ngôi nhà
nghiêng ngả, có hiện tượng nứt, lở, bên ngoài có biển cảnh báo đề “Khu vực nguy
hiểm, làm ơn không lại gần” mà anh ta vẫn cố tình xông vào thì khi xảy ra sự cố
làm anh ta bị thương thì CSH hay bất kỳ ai cũng không phải chịu trách nhiệm
BTTH cho anh ta. Hay nếu như lỗi là do người thi công trong việc để nhà cửa, công
trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường. Điều này được quy
định ngay trong khoản 2 Điều 605 BLDS. Đây là quy định hoàn toàn mới trong
BLDS 2015. Trước khi quy định này được bổ sung, việc xác định trách nhiệm
BTTH trong nhiều trường hợp thuộc về người thi công, CSH hay các chủ thể khác
vẫn luôn là vấn đề còn nhiều tranh cãi. Quy định mới này đã khắc phục những khó


khăn đó, khi quy định rõ, riêng đối với người thi công thì khi có lỗi mới phải xét
trách nhiệm bttth. Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này trên thực tế đòi hỏi phải
thật chính xác, bởi vì sẽ dễ bị nhầm lẫn giữa trường hợp nhà cửa, công trình xây
dựng gây thiệt hại với hành vi thi công nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
thiệt hại Mặt khác, quy định tại Điều 605 BLDS cũng còn tồn tại nhiều bất cập ở
chỗ nó chỉ hướng tới trách nhiệm liên đới giữa người thi cộng với CSH hoặc các
chủ thể khác. Tuy nhiên quy định này chỉ phù hợp nếu người thi công và CSH hoặc
các chủ thể khác cùng có lỗi khi nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại.
Còn trong trường hợp mà lỗi hoàn toàn do lỗi của người thi công thì không thể
buộc CSH hoặc các chủ thể khác cùng liên đới bồi thường.
Đối với các chủ thể khác được quy định tại khoản 1 Điều 605 BLDS. Có thể
nhận thấy, quy định tại điều 605 BLDS mới chỉ ra rất chung chung là các chủ thể
phải chịu trách nhiệm mà không hướng dẫn cách xác định thứ tự chịu trách nhiệm
của các chủ thể này. Về nguyên tắc chung, người nào phải chịu trách nhiệm bồi
thường trước hết là người có lỗi để cho nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
Do đó có nhiều quan điểm cho rằng việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH
sẽ được xác định trong các trường hợp như sau:

Thứ nhất, nếu thiệt hại xảy ra là do lỗi của người quản lý.
Khi đó, phải xem xét xem trong thời gian xảy ra sự việc thì chủ thể nào có
nghĩa vụ quản lý nghĩa vụ kiểm tra tình trạng, khắc phục hư hỏng,.. Nếu CSH là
người trực tiếp quản lý, sử dụng thì CSH phải bồi thường. Nếu do người khác được
giao quản lý và họ không thực hiện nghĩa vụ quản lý thì họ phải BTTH.
Cần lưu ý, người chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, trông coi nhà cửa, công
trình xây dựng khác luôn bị suy đoán là có lỗi. Bản chất lỗi trong luật dân sự là “lỗi
suy đoán” hay “người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng
minh mình không có lỗi”. Sự suy đoán này xuất phát từ khả năng quản lý cũng như
kiểm soát sự tồn tại gần như tuyệt đối của người quản lý. Không giống như những
tài sản khác (động vật hay phương tiện giao thông,..) khi gây thiệt hại các chủ thể
có thể không kiểm soát được. Còn đối với tài sản là nhà cửa, công trình xây dựng
khác, nếu không xảy ra các sự kiện bất khả kháng, thì con người hoàn toàn có thể
kiểm soát được sự tồn tại của loại tài sản này.
Việc xác định lỗi của người đang trực tiếp quản lý nhà cửa, công trình xây
dựng khác xuất phát từ nguyên nhân trách nhiệm trông coi bảo quản không để
người khác xâm phạm gây thiệt hại cho tài sản được trông coi và không để tài sản
mình trông coi gây thiệt hại cho người khác. Người được giao quản lý phải có trách
nhiệm và nghĩa vụ phải trông coi nên luôn bị coi là có lỗi khi để cho tài sản mà


mình gây thiệt hại và sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Điều này hoàn
toàn là hợp lý. Bởi lẽ trong quá trình quản lý, người này phải thực hiện các biện
pháp để phát hiện nguy cơ nhà cửa, công trình xây dựng khác có khả năng gây thiệt
hại cho những người xung quanh, khắc phục tình trạng hư hỏng,... Chẳng hạn
người quản lý khu tập thể khi thấy trần đường đi bị bong tróc vỡ các mảng xi măng,
… thì phải lập tức thực hiện các biện pháp như cảnh báo để người xung quanh
tránh xa khu vực nguy hiểm, sửa chữa, thông báo cho người có trách nhiệm,… Rõ
ràng, có thể thấy nếu có những biện pháp ngăn chặn kịp thời kể trên thì những thiệt
hại có thể sẽ không xảy ra. Do đó, nếu CSH đồng thời là người trực tiếp quản lý, sử
dụng thì sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nếu do người khác có nghĩa vụ quản
lý mà không thực hiện tốt các nghĩa vụ quản lý thì họ phải bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại
mà không có sự vi phạm trong quản lý.
Không phải lúc nào người được giao quản lý cũng đều có lỗi. Khi đó, việc xác
định chủ thể chịu trách nhiệm BTTH sẽ phụ thuộc vào việc ai là người được thực
hiện các quyền khai thác công dụng hoặc hưởng lợi các lợi ích phát sinh từ nhà cửa,
công trình xây dựng khác tại thời điểm nó gây thiệt hại. Nếu CSH là người đang
thực hiện các quyền đối với tài sản hoặc đang được hưởng lợi ích từ tài sản đó thì
CSH phải bồi thường, kể cả tại thời điểm đó tài sản đang do người khác trực tiếp
quản lý (ví dụ nhờ trông hộ một ngày thì nhà bị sập gây thiệt hại). Nếu CSH đã
chuyển giao quyền khai thác công dụng hoặc hưởng lợi ích từ nhà cửa, công trình
xây dựng khác cho chủ thể khác (người thuê, người mượn,…) thì khi nhà cửa, công
trình xây dựng khác đó gây thiệt hại thì người này sẽ phải chịu trách nhiệm BTTH.
Tuy nhiên nếu các bên có thỏa thuận thì việc xác định chủ thể bồi thường thiệt hại
sẽ căn cứ vào thỏa thuận đó mà không dựa vào yếu tố lỗi và quyền của chủ thể đối
với nhà cửa, công trình xây dựng khác.

Không thuộc các trường hợp loại trừ.
Căn cứ loại trừ trách nhiệm BTTH được quy định tại khoản 2 Điều 584 cũng
được áp dụng đối với trường hợp tài sản gây ra thiệt hại là nhà cửa, công trình xây
dựng khác. Trách nhiệm chứng minh các căn cứ loại trừ này thuộc về người phải
bồi thường thiệt hại.
Chủ thể bồi thường phải chứng minh được việc gây thiệt hại do nhà cửa, công
trình khác gây ra là hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì sẽ không phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà sẽ do người bị thiệt hại tự chịu.
Hoặc chủ thể phải chứng minh được thiệt hại gây ra là do tác động của sự kiến
bất khả kháng thì chủ thể bồi thường cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường.


Khi đó người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường mà coi đó như là một vụ rủi ro
đối với mình. Không có quy định cụ thể nào liệt kê vè các trường hợp là sự kiện bất
khả kháng. Tuy nhiên có thể chứng minh theo con đường như sau. CSH, người
được giao quản lý, sử dụng mà chứng minh được mình đã thực hiện nghiêm chỉnh
nghĩa vụ quản lý tài sản mà vẫn không thể nhận biết được khả năng gây thiệt hại
của nhà cửa, công trình xây dựng khác,thì lúc này lỗi sẽ thuộc về người thi công.
Bởi nếu như thi công tốt, CSH và các chủ thể khác quản lý chặt chẽ nhà cửa, công
trình xây dựng khác thì chắc chắn phải ngăn chặn được thiệt hại. Nếu tất cả những
nghĩa vụ đó được thực hiện tốt mà vẫn xảy ra thì đó là trường hợp bất khả kháng
bởi họ không thể lường trước được. Chẳng hạn trường hợp động đất làm sập nhà
gây chết người, nhà ven sông bỗng nhiên bị sụt lở,... Khi đó, trách nhiệm BTTH sẽ
được loại trừ theo khoản 2 Điều 584 BLDS.
II.
Tình huống tranh chấp có liên quan và cách giải quyết theo quan
điểm cá nhân.
1.
Tình huống:
Anh A thuê kỹ sư B khảo sát địa chất rồi thuê kiến trúc C vẽ thiết kế ngôi nhà
2 tầng. Sau đó kí hợp đồng với nhà thầu D xây dựng theo đúng thiết kế. Ngôi nhà
xây xong mới vừa bàn giao. Ông A cho người chuyển đồ đạc đến, lúc ấy con trai 10
tuổi và vợ anh cũng đến xem nhà và phụ chuyển đồ. Khi vợ và con trai đang ở trên
tầng 2, bất ngờ, trần nhà đổ sụp xuống làm vợ và con trai anh bị thương, con trai
anh A được chuẩn đoán là chấn thương sọ não. Ngoài ra trần nhà sụp bất ngờ làm
hư hỏng một số tài sản vừa được chuyển đến, trong đó bình pha lê trị giá 3000000
là vỡ hoàn toàn và những tài sản khác như tủ lạnh, ti vi, bàn , đèn,… cũng bị hư
hỏng nhiều. Ông A đòi B C, D liên đới bồi thường thiệt hại. Ông D cho rằng: mình
đã bàn giao nhà cho ông A rồi nên ông A phải tự chịu trách nhiệm.
Ông A đòi B C, D liên đới bồi thường thiệt hại. Ông C cho biết, tuy bản vẽ
trần có hình dáng mới lạ, hình chéo lượn lên xuống, khá phức tạp tuy nhiên đã có
yêu cầu về loại nguyên liệu và các giải pháp kỹ thuật để đảm bảo tính an toàn của
thiết kế. Qua điều tra, phát hiện nguyên liệu làm trần không giống với bản thiết kế.
Nhà thầu D giải thích do nguyên liệu mà ông C yêu cầu không có bán tại khu vực,
nếu mua ở tỉnh khác cũng sẽ đắt đỏ và muốn tiết kiệm cho chủ nhà nên đã sử dụng
xi măng thông dụng.Tuy nhiên D cho rằng ông ta có đầy đủ kinh nghiệm để xây
dựng trần nhà như vậy nên đảm bảo không phải do nguyên liệu. Nguyên nhân xuất
phát từ bản thiết kế hoặc nhân tố khách quan khác. Mặt khác, ông D cho rằng: mình
đã bàn giao nhà cho ông A rồi nên ông A phải tự chịu trách nhiệm.


Cơ quan giám định chuyên môn xác định, đi đến kết luận rằng: nguyên nhân
sụp đổ trần nhà là do chất lượng của nguyên liệu chưa đảm bảo phù hợp với yêu
cầu thiết kế nên không đảm bảo độ an toàn..
2.
Giải quyết tình huống:
Căn cứ vào các tình tiết trong đề bài cùng với quá trình nghiên cứu, tìm hiểu
các quy định của pháp luật và sự tư duy lập luận chúng ta sẽ giải quyết tình huống
trên như sau:

Trước hết xác định các chủ thể bao gồm:
- Ông A: Trong đề bài không nêu rõ ông A là CSH ngôi nhà hay không. Do
đó cần xác định CSH bằng cách căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sở hữu
nhà ở. Tuy nhiên các chi tiết như thuê chủ kỹ sư thiết kế, chủ thầu,.. đều do
ông A phụ trách. Do đó rất có khả năng ông A chính là CSH ngôi nhà.
Hoặc cũng có thể ông A chỉ là người được giao quản lý, sử dụng,… Trong
tình huống này, tạm giả sử ông A là CSH ngôi nhà đang được xây dựng.
- Ông B là kỹ sư khảo sát địa chất
- Ông C là kiến trúc sư thiết kế ngôi nhà
- Ông D là nhà thầu xây dựng ngôi nhà. Hay nói cách khác ông D chính là
người thi công.
Dưới góc độ ngôn ngữ, thi công được hiểu là “tiến hành xây dựng một công
trình theo cách thức đả thêr hiện trên bản vẽ kỹ thuật”. Dưới góc độ pháp lý “Thi
công xây dựngcông trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công tình xây
dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành
bảo trì công trình xây dựng” (khoản 38 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014). Như vậy,
có thể thấy dưới góc độ ngôn ngữ cũng như góc độ pháp lý, người thi công trong
tình huống này chỉ có thể là nhà thầu D. Ông D chính là người đại diện cho đơn vị
thi công. Còn B, C chỉ có nhiệm vụ tạo ra bản vẽ ký thuật để “người thi công” thực
hiện vai trò của mình.
- Vợ và con ông A là những người bị thiệt hại do nhà của ông A sập. Ở đây
rõ ràng chị vợ ông A và đứa con hoàn toàn không có lỗi trong việc trần nhà
sập. Bởi theo tình huống đề bài, ngôi nhà chỉ vừa mới được bàn giao, chị
và con trai mới đến chuyển đồ thì bất ngờ trần nhà sập. Do vậy vợ và con
trai ông A hoàn toàn là nạn nhân – người bị thiệt hại.

Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Thứ nhất, có thiệt hại thực tế xảy ra. Đây là điều kiện tiên quyết, bắt buộc
phải có. Trong tình huống này, thiệt hại xảy ra đã quá rõ ràng. Trước hết là thiệt hại
về sức khỏe con người: do trần nhà bị sụp đổ mà khiến vợ con anh A bị thương,


nhất là con trai 10 tuổi của anh lại bị chấn thương sọ não. Tiếp đến là thiệt hại do
tài sản bị xâm phạm: trong tình huống này CSH cũng là người bị thiệt hại, những
tài sản của gia đình anh A đã bị thiệt hại là không nhỏ - bao gồm tài sản bị hủy hoàn
toàn là bình pha lê 3000000 đồng, và các tài sản khác thì bị hư hỏng; ngoài ra chính
ngôi nhà mà anh A đã bỏ tiền ra xây dựng cũng đã bị thiệt hại. Do đó thỏa mãn điều
kiện thứ nhất
Thứ hai, có sự kiện gây thiệt hại của tài sản là nhà cửa, công trình xây dựng
khác.
Hiện nay, BLDS chưa đưa ra khái niệm về thuật ngữ “nhà cửa” tuy nhiên có
thể hiểu theo nghĩa chung nhất nhà cửa là “nhà để ở nói chung” . Tức là hai khái
niệm “nhà cửa” và “nhà ở” là hai khái niệm đồng nhất về mặt ý nghĩa. Theo khái
niệm được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014, “nhà ở là công trình
xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các như cầu sinh hoạt của gai đình, cá
nhân”. Như vậy có thể thấy trong tình huống này, các chi tiết như ông A cho xây
dựng ngôi nhà 2 tầng, rồi chuyển các đồ đạc đến khi nhà hoàn tất và vợ con ông thì
đến xem. Do đó có thể kết luận rõ ràng, ngôi nhà ở đây là nhà cửa dù ông A có ý
định xây dựng để ở hay cho thuê. Và là ngôi nhà đã được hoàn thành khi xảy ra sự
cố.
Mặt khác, chính ngôi nhà này đã gây ra thiệt hại. Trần nhà đã sụp xuống bất
ngờ trong lúc đồ đạc đã được chuyển lên và vợ con ông đang ở đó mới dẫn đến
thiệt hại. Nếu như trần nhà không đổ thì sẽ không có thiệt hại nào cả. Sự kiện trần
nhà đổ sụp bất ngờ này chính là sự kiện gây thiệt hại dẫn đến trách nhiệm BTTH
của các chủ thể.
Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của nhà cửa đối với thiệt
hại xảy ra.
Để làm phát sinh trách nhiệm BTTH thì tồn tại thiệt hại và sự kiện gây thiệt
hại của tài sản là chưa đủ. Cần phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và nhà
cửa. Trong vụ việc này, phía ông C cho rằng, tuy trần tường được thiết kế mới lạ,
phức tạp, nhưng ông ta đã có các biện pháp đảm bảo an toàn, đó là sử dụng loại
nguyên liệu đặc biệt phù hợp và các yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng để đảm bảo
độ vững chãi cho công trình. Hơn nữa, phía giám định chuyên môn đã xác định
nguyên nhân không phải do bản vẽ. Do đó, nguyên nhân gây sụp đổ không nằm ở
bản thiết kế. Về phía ông D cho rằng, tuy ông sử dụng nguyên liệu khác nhưng với
kinh nghiệm lâu năm trong nghề của mình thì nguyên liệu này có thể đáp ứng được
yêu cầu của thiết kế. Tuy nhiên có thể thấy lời giải thích của ông D không hề có căn
cứ vững chãi. Ai có thể kiểm nghiệm kinh nghiệm của ông. Mặt khác ông không


chỉ ra được nguyên nhân sụp đổ nào khác ngoài lời giải thích chung chung: “do từ
bản thiết kế hoặc nhân tố khách quan khác”. Mặt khác phía cơ quan giám định
chuyên môn đã kết luận: “nguyên nhân sụp đổ trần nhà là do chất lượng của
nguyên liệu chưa đảm bảo phù hợp với yêu cầu thiết kế nên không đảm bảo độ an
toàn”. Do đó có thể đi đến kết luận, nguyên nhân của thiệt hại là do nguyên liệu mà
ông D đã sử dụng.
Ở đây ta chưa vội quy kết trách nhiệm lỗi thuộc về ai mà cần nhấn mạnh rằng
nguyên nhân xảy ra sự cố không trực tiếp nằm ở hành vi của con người mà do nhà
cửa đó gây ra. Có thể thấy, nhà cửa xảy ra sự cố khi công trình đã kết thúc, mà cụ
thể là đã bàn giao cho CSH là ông A. Như vậy, tại thời điểm nhà cửa gây thiệt hại,
hoạt động thi công đã chấm dứt. Do đó dù người thi công có lỗi hay không cũng
không thể kết luận rằng đây là vụ việc do hành vi con người gây ra mà là do tài sản
gây ra.
Như vậy, có thể thấy, trong tình huống này giữa sự kiện trần nhà sụp đổ và
những thiệt hại xảy ra có mối quan hệ nhân quả hay nói cách khác những thiệt hại
xảy ra là do tài sản gây ra.

Tóm lại tình huống này đã thỏa mãn đầy đủ các điều kiện để phát sinh
trách nhiệm BTTH.

Không là trường hợp loại trừ trách nhiệm
Tình huống này không rơi vào các trường hợp loại trừ trách nhiệm được quy
định tại khoản 2 Điều 584 BLDS. Bởi trong tình huống này, cơ quan giám định đã
xác định được nguyên nhân dẫn tới sụp đổ trần nhà là do “chất lượng của nguyên
liệu chưa đảm bảo phù hợp với yêu cầu thiết kế để đảm bảo độ an toàn cho trần
nhà”. Do đó ở đây không có nhân tố khách quan nào, không thể rơi vào trường hợp
thiệt hại do sự kiện bất khả kháng. Mặt khác cũng không do lỗi của người bị thiệt
hại như đã phân tích ở trên.

Xác định trách nhiệm và phân định trách nhiệm
Trong trường hợp này ông B, ông C, ông D đều là những người được ông A,
với tư cách là chủ đầu tư kiêm CSH ngôi nhà thuê để thực hiện mỗi người một
phần việc cụ thể riêng rẽ trong quá trình xây dựng ngôi nhà. Cả 3 đều không được
ông A giao cho quản lý, sử dụng ngôi nhà thông qua bất kỳ một văn bản, hợp đồng
nào. Từ đầu đế cuối chỉ có ông A là CSH ngôi nhà. Theo khoản 3 Điều 584 có quy
định:
“Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì CSH, người chiếm hữu tài sản phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp phát sinh theo quy định tại khoản 2
Điều này”


Khoản 2 được nhắc đến ở đây chính là các trường hợp loại trừ trách nhiệm.
Trong tình huống này, có thể thấy A với tư cách là CSH tuyệt đối, nếu chỉ chiếu
theo duy nhất điều khoản này thì A phải chịu trách nhiệm cho những thiệt hại xảy
ra. Tuy nhiên cần xem xét vào các yếu tố khác nữa để đi đến kết luận.
 Có thể thấy, vợ con ông A như đã phân tích trong phần xác định chủ thể thì
họ hoàn toàn là người bị thiệt hại không có lỗi nên ta loại trừ trách nhiệm của họ.
 Ông A là chủ nhà hoàn toàn không có lỗi trong việc sập nhà. Bởi lẽ, ngôi
nhà chỉ vừa mới được bàn giao, còn rất mới. Với trình độ một người bình thường,
không làm trong lĩnh vực chuyên môn, nhìn bên ngoài, trần nhà chỉ vừa mới xây
một thời gian thì sao có thể nhận biết được tính nguy hiểm của nó. Ngay cả những
người trong lĩnh vực chuyên môn cũng khó có thể nhận biết – ông D nói có kinh
nghiệm nhưng đã không phát hiện được nguy hiểm của trần nhà. Mặt khác, ông A
hoàn toàn không mong muốn thiệt hại này xảy ra. Ông tự biết trình độ của mình
không hiểu biết được những lĩnh vưc chuyên môn trong xây dựng nên đã rất cẩn
thận thuê những người có lĩnh vực chuyên môn để đảm nhiệm, bao gồm: kỹ sư
khảo sát địa chất, kiến trúc sư và nhà thầu xây dựng. Hơn nữa, những thiệt hại lại
chính là vợ con ông, tài sản của gia đình ông nên sự cố này càng không thể là điều
ông mong muốn. Do đó, đủ căn cứ để xác định ông A cũng được loại trừ trách
nhiệm trong trường hợp này.
 Đối với ông B là kỹ sư khảo sát địa chất cũng không là chủ thể phải bồi
thường. Bởi lẽ theo kết luận giám định thì nguyên nhân gây sụp trần nhà không
phải nằm ở địa chất. Chính vì vậy ông B cũng nằm ngoài các chủ thể phải BTTH.
 Còn đối với ông C là kiến trúc sư thiết kế ngôi nhà. Như đã trình bày tuy
trần nhà được thiết kế mới lạ, hình lượn chéo lên xuống phức tạp, nhưng ông ta đã
có các biện pháp đảm bảo an toàn, đó là sử dụng loại nguyên liệu đặc biệt phù hợp
và các yêu cầu kỹ thuật trong xây dựng để đảm bảo độ vững chãi cho công trình.
Nghĩa là ông C đã làm tròn nghĩa vụ của mình là thiết kế và đảm bảo thiết kế đó là
an toãn kỹ thuật. Hơn nữa, phía giám định chuyên môn đã xác định nguyên nhân
không phải do bản vẽ. Do đó, nguyên nhân gây sụp đổ không nằm ở bản thiết kế.
Vậy nên, trong trường hợp này, ông C sẽ không có trách nhiệm BTTH.
Riêng đối với ông D - “người thi công” sẽ phải chịu trách nhiệm BTTH trên
cở sở là lỗi của ông đối vời thiệt hại đã xảy ra. Sở dĩ kết luận như vậy là bởi ngay
trong Điều luật có sử dụng cụm từ “…có lỗi trong việc để…”.
Trong tình huống này kết luận ông D có lỗi là bởi rõ ràng bản thân ông đã
nhận thức được khả năng gây thiệt hại của nhà cửa (trong tình huống này cụ thể là
trần nhà), nhưng ông D đã để mặc cho thiệt hại xảy ra. Trước hết, ta kết luận được


ông D nhận thức được khả năng gây thiệt hại của nhà cừa là vì rõ ràng ông biết, bản
vẽ thiết kế trần nhà này là một thiết kế mới lạ, phức tạp do đó không thể xây dựng
một cách thông thường. Ông C là người thiết kế cũng đã yêu cầu nguyên liệu và
các giải pháp kỹ thuật, mà ông D thì chắc chắn đã biết về những yêu cầu này. Bởi lẽ
ông D đã có sự tìm mua vật liệu nhưng do trong khu vực (mà cụ thể là trong phạm
vi tỉnh) nên mới giải thích do trong tỉnh không bán. Mặt khác những lời giải thích
của ông hoàn toàn không có cơ sở và không chặt chẽ. Ông cho rằng đi mua nguyên
liệu ở tỉnh khác sẽ “đắt đỏ và muốn tiết kiệm cho chủ nhà nên đã sử dụng xi măng
thông dụng”. Có lẽ chúng ta sẽ phải tự đặt ra câu hỏi, giữa ông D và chủ nhà có
tình thân gì mà đến mức lo nghĩ cho nhau như thế? Trong hoàn cảnh này, rõ ràng
việc ông D nên làm là báo cho chủ sở hữu nhà là ông A biết tình hình để ông ta có
lựa chọn quyết định nên đi mua nguyên vật liệu yêu cầu hay không. Việc ông D cố
tình không nói mà tự ý làm đã cho thấy thái độ thờ ơ của ông D đối với những thiệt
hại có thể xảy ra. Những chi tiết này cũng cho thấy ông D đã có dấu hiệu cố tình bỏ
mặc thiệt hại xảy ra. Bởi lẽ, giả sử nếu ông D thông báo cho CSH, thì vì lí do an
toàn của chính bản thân mình mà chắc hản ông A sẽ không lựa chọn việc sử dụng xi
măng thông thường, thiệt hại cũng sẽ không xảy ra. Mặt khác trong tình huống còn
chưa nhắc tới việc khi thanh toán thì ông D có khai báo dùng xi măng thông thường
hay loại nguyên liệu “đắt đỏ” kia hay không, khi đó lỗi của ông D sẽ là lỗi cố ý.
Tóm lại ông D là người có lỗi trong thi công nên đủ cơ sở để kết luận ông D phải
chịu trách nhiệm BTTH.
Theo khoản 2 Điều 605 BLDS quy định: “Khi người thi công có lỗi trong việc
để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”.
Quy định như vậy không có nghĩa là người thi công chỉ phải chịu trách nhiệm liên
đới chứ không bao giờ chịu ttracsh nhiệm toàn bộ. Bởi lẽ trong trường hợp nhà cửa,
công trình xây dựng khác gây thiệt hại mà lỗi hoàn toàn thuộc về người thi công
như trong tình huống này thì không thể bắt buộc CSH hoặc các chủ thể khác cùng
liên đới bồi thường được. Đây chỉ là do cách quy định vẫn còn bất cập như đã phân
tích trong phần lý luận. Vậy nên, trong sự tình huống này, ông D vẫn phải chịu toàn
bộ trách nhiệm BTTH.
Tuy nhiên, nếu đứng về phía ông D, nếu ông vẫn tự tin vào kinh nghiệm của
mình thì ông ta nên thực hiện việc điều tra kỹ càng hơn nữa để xác định kết luận
của giám định đã hoàn toàn chính xác hay chưa. Giả sử với thiết kế như vậy mà
dùng vật liệu ông C yêu cầu thì có hoàn toàn chắc chắn hay không. Nếu như ông
chứng minh được thiết kế của ông C có vấn đề thì có thể không phải gánh chịu toàn
bộ khoản BTTH.


Như vậy, qua những phân tích trên đây có thể thấy, theo tình tiết được cung
cấp thì ông D là người duy nhất chịu trách nhiệm BTTH. Mà ông D là chủ thầu các
công trình xay dựng nhiều năm kinh nghiệm nên tạm thể suy đoán ông D đủ năng
lực chịu trách nhiệm BTTH mà cụ thể là phải tự bồi thường theo khoản 1 Điều 586
BLDS (trong thực tế phải kiểm tra). Do đó khi đã đầy đủ các căn cứ phát dinh trách
nhiệm BTTH, ông D phải tuân thủ các nguyên tắc về BTTH và phải bồi thường các
thiệt hại bao gồm:

Đối với thiệt hại là sức khỏe của vợ và con ông A.
Ông D phải bồi thường hoàn toàn các chi phí theo theo Điều 590 quy định về
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

Đối với thiệt hại về tài sản của ông A (bao gồm bình pha lê 3000000
đồng và các đồ vật khác, cùng chính trần nhà đã bị sụp đổ).
Trong tình huống không nhắc đến tài sản các đồ vật bị thiệt hại được nêu là
của ai nhưng do cả vợ con ông A đều đang bị thương nặng, con ông lại chỉ mới 10
tuổi, nên ta tạm coi đây là tài sản của ông A.
Cần xác định tổng thiệt hại theo cách xác định thiệt hại tại Điều 589 BLDS để
yêu cầu ông D bồi thường.
KẾT LUẬN
Nước ta đan trên đà phát triển theo hướng trở thành một nước công nghiệp
hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, quá trình đô thị hóa đã và đang
diễn ra với tốc độ nhanh, nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai...
Ngoài ra, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao nên hoạt
động xây dựng gia tăng mà nhà cửa, công trình xây dựng là tài sản thuộc nhóm có
khả năng gây thiệt hại cho con người về mặt tài sản, sức khỏe và tính mạng, dễ làm
phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Chế định BTTH ngoài hợp đồng là
một trong những chế định dân sự thể hiện nguyên tắc tôn trọng; bảo vệ quyền dân
sự, khi người gây thiệt hại có lỗi phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Tuy nhiên
có thể thấy, tuy đã có sự sửa đổi bổ sung theo hướng dần hoàn thiện, tuy nhiên vẫn
còn nhiều điểm hạn chế gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng, đòi hỏi các nhà làm
luật cần nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×