Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu phong cách nguyễn bỉnh khiêm qua một bài thơ

Tìm hiểu phong cách Nguyễn Bỉnh Khiêm qua một bài thơ
Đăng vào Tháng Năm 25, 2016 by caulacbovanhoc2015
Tìm hiểu phong cách Nguyễn Bỉnh Khiêm qua một bài thơ
10:07 | 11/06/2015
PHAN NGỌC

Giàu (,) ba bữa, khó (,) hai niêu,
Yên phận (,) thì hơn hết mọi điều
Khát, uống chè mai: hơi (,) ngọt ngọt;
Sốt, kề hiên nguyệt: gió (,) hiu hiu.
Giang sơn tám bức, là tranh vẽ;
Phong cảnh tứ mùa, ấy gấm thêu
Thong thả: hôm (,) khuya nằm, sớm thức,
Muôn vàn đã đội đức trời Nghiêu.

Tìm hiểu phong cách Nguyễn Bỉnh Khiêm qua một bài thơ
Ảnh: internet
1. Đây là bài thứ 3 trong số 161 bài thơ nôm của quyển Thơ văn Nguyễn Bỉnh
Khiêm (NXB Văn Học, Hà Nội 1983). Bài này được chọn vì xưa nay ai cũng cho
là của tác giả. Việc khảo sát một tác giả xưa về bất kỳ mặt nào cũng chỉ nên bó hẹp
vào một số bài rất ít gọi là tư liệu tối thiểu, và chỉ phân tích, mô hình hóa trong

phạm vi ấy thôi. Khi ta đã nắm được cái tập hợp các kiểu lựa chọn tiêu biểu cho tác
giả, ta sẽ dùng nó kiểm tra lại các bài còn lại để đoán định những bài còn ngờ vực
và nếu cần, để sửa lại cách công thức hóa. Nói chung, các kiểu lựa chọn này sẽ lặp
lại gần như nguyên vẹn ở mọi bài. Tôi giữ nguyên cách phiên, chỉ chấm câu lại cho


gần cách chấm câu người xưa hơn. Chỗ nào không thể chuyển thành cách chấm
câu hiện đại tôi để trong ngoặc đơn. Ta sẽ thấy chính cách chấm câu này mới sát
với nghệ thuật tác giả.

2. Bài thơ là một thông báo. Phong cách thay đổi theo người nhận thông báo. Khi
người nhận thông báo là độc giả mua hàng hóa, phong cách sẽ chịu ảnh hưởng của
thị hiếu và thay đổi khá nhanh như dưới thời Pháp thuộc. Thời ông, thơ văn không
phải hàng hóa, nên phong cách tác giả thường giữ nguyên suốt đời. Nó là triều đình
thì tác phẩm sẽ mang tính tán dương, nó là bạn bè thì tác phẩm sẽ mang tính thù
tạc của sinh hoạt nho sĩ, nó là bình dân thì tác phẩm sẽ có màu sắc phê phán. Các
nhà thơ như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, làm thơ theo từng sự việc của đời
mình. Riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm không nhằm một đối tượng cụ thể nào. Trong số
161 bài thơ nôm của tuyển tập, 144 bài không có đề mục, những bài còn lại đều là
những lời khuyên về đạo đức. Trong số 89 bài thơ chữ Hán chỉ có 13 bài thơ chủ
đề cụ thể kể lại việc làm khi hành quân theo nhà Mạc hay thù tạc với bạn bè, còn
nữa cũng là thơ vô đề. Độc giả của ông là toàn bộ hậu thế, nhân dân Việt Nam, kẻ
mà ông tin là sẽ hiểu ông, sẽ thể tất cho một cuộc sống bất đắc dĩ của ông. Ông
không thể phát huy mặt năng động chủ quan để cứu đời, cứu dân. Ông sống trong
một thời nội chiến, làm người chứng kiến bất lực một xã hội đang tan rã mà hình
ảnh cụ thể đã được Nguyễn Dư miêu tả trong Truyền kỳ mạn lục. Ông chỉ còn cách
tự cứu lấy lương tâm của mình. Chính vì vậy con người đỗ trạng nguyên, làm quan
to, được họ Mạc, họ Trịnh, họ Nguyễn sùng bái, đã từ bỏ giàu sang, danh lợi, quay
về với làng xã “lấy cảnh núi sông non nước làm vui” (tựa tập thơ Am Bạch Vân).

Ông là một ẩn sĩ nhưng không phải một ẩn sĩ Ấn Độ chạy vào núi sống để thờ thần
linh, không phải một ẩn sĩ Trung Quốc quay lưng với chính trị, tự thổi phồng mình,
tự tôn thờ mình. Thơ ông chẳng có gì là huênh hoang của thơ triết lý Trung Quốc.
Ông quay về sống trong vòng tay của làng mạc họ hàng, dạy học trò, bình dị,
khiêm tốn, như cha ông chúng ta.


3. Một bài thơ thường có một tổ chức rất chặt nên khó lòng lấy một câu ở bài này
để lắp vào một bài khác. Nghệ thuật của ông trái lại mang tính lắp ghép. Ông có
một số mô típ lặp đi lặp lại với đôi chút thay đổi để tạo nên mọi bài thơ. Đi con
đường ấy, diện mạo từng bài không rõ, không thể mang một đề mục riêng không
tìm thấy ở một bài khác. Nhưng phong cách tác giả cũng không vì thế mà kém hiển
nhiên,

Nếu ta thử tìm các mô típ trong số 80 bài thơ đầu là những bài không hề bị ngờ vực
về mặt tác giả thì sẽ thấy bài này là sự lắp ghép của 6 mô típ.

Câu 1: Giàu (,) ba bữa; khó (,) hai niêu, tức là ta phải vui với cái nghèo. Người
giàu kẻ nghèo thực tế không hơn nhau mấy.

Câu 2: Yên phận (,) thì hơn hết mọi điều. Tức là con người phải bằng lòng với số
phận mình.

Câu 3-4: Khát, uống chè mai: hơi (,) ngọt ngọt;
Sốt, kề hiên nguyệt: gió (,) hiu hiu. Cuộc sống giản dị tự nó đã là hạnh phúc.

Câu 5-6: Giang sơn tám bức, là tranh vẽ;
Phong cảnh tứ mùa, ấy gấm thêu. Tức là hãy tìm cái vui ở thiên nhiên, một thiên
nhiên gần gũi ở ngay cạnh mình, không phải trốn đời mới thưởng thức được.

Câu 7: Thong thả: hôm (,) khuya nằm, sớm thức. Tức là mình là công dân có bổn
phận với đất nước. Mô típ này khẳng định dứt khoát tác giả không theo Lão Trang.


4. Nếu ta tìm hiểu tư tưởng tác giả qua tần số xuất hiện các câu thơ làm thành
những mô típ thì tư tưởng ấy như sau:

Con người phải am hiểu lẽ thịnh suy, thăng giáng của tạo vật (54) để qua đó tìm lẽ
sống, xuất hay xử cho hợp với mệnh trời (26). Là người dân, tôi có bổn phận với
dân với nước (14), nhưng trong tình thế hiện nay khi cái xấu đã thắng, dù tôi có
muốn xông ra bảo vệ chính nghĩa cũng không làm được (51). Tôi chỉ còn một cách
là: từ bỏ danh lợi (57) để giữ lấy lương tâm, nhân cách mình (15), vui với đạo lý
thánh hiền (24), vâng theo tình nghĩa làng xóm (29). Phải bằng lòng với cái nghèo
(24), tránh tranh đua để giữ tấm lòng thanh thản (32), sống giản dị như bà con thôn
xóm (25), tìm nguồn vui ở một thiên nhiên gần gũi, ngay cạnh mình (59), an hưởng
phận mình (35).

Tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm là thế. Con người lỗi lạc về lý học đến mức sứ thần
Trung Quốc là Chu Xán phải phục chẳng hề nhắc đến một thuật ngữ lý học: tính,
khí, ly, tâm… Nhân vật mà truyền thuyết nâng lên địa vị một tiên tri, biết trước hậu
thể năm trăm năm chẳng hề nói bóng gió gì đến hậu vận. Ông trạng nguyên hay
chữ nhất nước chẳng thiết gì đến chữ nghĩa, điển tích từ chương. Con người được
cả thời đại tôn sùng chẳng buồn nhắc tới danh tiếng của mình. Thậm chí ông không
nhắc đến cá nhân mình. Đây là một phong cách lạ, trước ông không có mà sau ông
cũng không. Nhưng ông hiểu được cái bí quyết để giành được lòng tin của hậu thế.
Phải gạt bỏ mọi “bánh vẽ” của cuộc đời (công danh, chức tước, chữ nghĩa, trang
tức) để xuất hiện giản dị và chân thành. Không rên la, thậm chí không thở dài,
không đóng vai một người thuyết phục, giáo dục. Hãy quên cái con người của
cương vị xã hội (bằng tôi, nhà sư, nho sĩ…) để làm con người trong lòng mọi
người. Chính vì vậy thơ ông lần đầu tiên trong văn học ta nói với mọi người. Nếu
muốn nói đến ý nghĩa triết học của thơ ông thì nó là ở đấy.

5. Để đạt đến điều đó, hình thức phải hết sức đạm bạc, câu thơ không nói với giác
quan mà nói với cảm nghĩ. Nhịp thơ phải rất chậm để dành chỗ cho sự suy nghĩ.
Mọi trang trí, từ chương, điển tích, chữ nghĩa đều phải loại trừ để cho tâm hồn bắt


gặp tâm hồn. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đạt đến trình độ cao nhất của cái giản dị nghệ
thuật nhờ những kiểu lựa chọn đặc biệt.

Bài thơ theo thể thơ Đường nhưng lại được xây dựng theo kiểu thơ Tống. Thơ
Đường kỵ lối chứng minh bằng suy luận, trái lại – thơ ông là thơ chứng minh.
Trong bài này đã có 3 chữ chứng minh: là (c.5),thì (c.2), ấy (c.5) là những chữ nhà
thơ Đường phải tránh. Nhưng dù là cấu tứ theo kiểu Đường hay kiểu Tống cũng
đều trang trọng. Do đó, ông phải phá vỡ sự trang trọng này để đạt đến giản dị tối
đa:

a) Câu đầu sáu chữ xây dựng hệt như một tục ngữ.

b) Chữ dùng chủ yếu là chữ đơn tiết thuần Việt chỉ có một chữ láy âm (thong thả)
hai chữ điệp âm (ngọt ngọt, hiu hiu). Ngay cả hai từ Hán Việt (giang sơn, phong
cảnh) thì cũng đều là những từ ai cũng biết. Chữ trời Nghiêu với nghĩa thời thái
bình thịnh trị là rất dễ hiểu. Bài thơ cách ta bốn trăm năm mà đọc như thơ ngày
nay. Chỉ có hai từ dùng là lạ đối với người Bắc (sốt với nghĩa nóng bức, hôm là
ngày) nhưng đối với các nơi khác thì vẫn quen thuộc.

c) Bốn câu đối nhau xây dựng theo mã của tục ngữ chứ không phải theo mã câu
đối Trung Quốc. Nghĩa câu 3-4 là: Khi nào khát, ta uống nước chè nấu bằng gỗ
hồng mai (cách uống rất bình dị của nông thôn) ta cảm thấy thú vị vì hơi (vị) nó
ngọt ngọt. Khi nào trời bức, ta nằm ở hiên gần ánh trăng, cảm thấy mát vì gió thổi
hiu hiu. Nghĩa câu 5-6 là: Núi sông tám hướng tự nó đã đẹp là những bức tranh vẽ
mà các nhà quyền quí vẫn treo, phong cảnh bốn mùa thay đổi tự nó đã tươi như
gấm thêu rồi (vật quí). Như vậy hạnh phúc là rất gần gũi: nó ở ngay cạnh ta, trong
lòng ta. Gốc của cái nhìn này là ở Thiền tông, không phải gốc dân dã, nhưng cái
nhìn được xây dựng theo kiến trúc dân dã. Đó là kiến trúc của Ăn-vóc, học-hay,
của chồng công vợ tức là kiến trúc vị ngữ – vị ngữ: Nếu ăn thì người có vóc lớn,
nếu học sẽ biết. Xét về của tuy là thuộc về chồng nhưng xét về công lại là do vợ.


a) Vì áp dụng kiến trúc tục ngữ nên thơ ông nhịp cắt rất nhiều và câu thơ đọc rất
chậm. Ông là nhà thơ mà nhịp thơ chậm nhất. Thông thường, câu thơ Đường chỉ có
một nhịp sau chữ thứ tư. Chúng tôi đã chấm câu lại để bạn đọc nắm được cách tổ
chức này cho hiển nhiên hơn.

b) Thiên nhiên của ông rất lạt, không có màu. Nó hết sức tĩnh: nếu có một chút vận
động (gió hiu hiu) thì mục đích không phải để nêu vận động mà để nêu một sự yên
tĩnh cao độ. Nó thường được diễn đạt bằng một từ đơn tiết (gió, mây, núi…) Đặc
biệt, con người suốt đời đối diện với biển từ khi ra đời đến khi chết, sống chỉ cách
biển vài cây số thế mà trong thơ không nói đến biển. Phát hiện kỳ thú này là của
anh Trần Quốc Vượng, lúc mô hình hóa tôi còn bỏ sót yếu tố này. Vì chưa mô hình
hóa Nguyễn Trãi (một người hay nói đến biển) để có cơ sở đối lập, có gì đâu: ông
tìm sự yên tĩnh, ông ghét đồng tiền, thương nghiệp, thủ công nghiệp, cho nó là
nguyên nhân đẻ ra mọi tai họa. Mà biển thì lại gắn liền với hoạt động, với thương
nghiệp và thủ công nghiệp là cái mà vào thời đại ông lại phồn thịnh nhất ở ngay
quê hương ông. Điều này chứng tỏ thiên nhiên nghệ thuật không phải là thiên
nhiên khách quan.

6. Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải loại thơ đọc để nhìn, để nghe. Ông là
con người duy nhất của văn học ta chủ trương một đường lối nghệ thuật riêng:
nghệ thuật là để giúp con người tìm lại được chính mình, chân thành với mình và
với xã hội. Khi nào ta hiểu được nhu cầu ấy, ta sẽ biết ơn phu tử và sẽ hiểu được
giá trị của nhà thơ kiệt xuất.

P.N.
(SH35/01&02-89)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×