Tải bản đầy đủ

Không gian siêu hình trong truyện kiều

Khảo sát không gian Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu đã khảo sát các không gian
nhà chứa, tu hành, không gian họ Hoạn danh gia(1)… cũng như các tính chất, đặc
điểm của các không gian trong tác phẩm như không gian lưu lạc, không gian giam
hãm, không gian tha hương(2)… Điều này có nghĩa là các không gian được khảo
sát là các không gian hiện thực, có thể quan sát được bằng giác quan.

Không gian siêu hình trong Truyện Kiều
Ảnh: internet
Trong khi đó, Truyện Kiều cũng như nhiều tác phẩm văn học trung đại khác không
chỉ có các không gian hiện thực, hữu hình, trần thế mà còn có các không gian siêu
hình (metaphysical setting) đầy trừu tượng, không rõ ràng, không thể quan sát
được hình thể. Có sự tồn tại của không gian siêu hình trong các tác phẩm văn học
trung đại là do cách nhìn, tư duy về thế giới của con người trung đại. Bên cạnh
những con người hiện thực, trần thế và thế giới của họ, còn có các thế lực thuộc
“những thế giới khác do ý thức tôn giáo và tín ngưỡng sinh ra”(3). Các thế giới
hữu hình và vô hình này tương liên nhau. Thế giới tâm linh “chi phối”(4) con
người trong thế giới hiện thực. Theo đó, Truyện Kiều không chỉ có không gian “cõi
trần” mà còn có các không gian khác là cõi ma, cõi trời, cõi chiêm bao, không gian
các kiếp và không gian âm phủ.

Kiều mơ Đạm Tiên – Ảnh: Tranh lụa của Trương Đình Quế

Cõi ma chính là không gian trú ngụ của hồn ma Đạm Tiên. Nhân vật thuộc cõi hư
ảo này nói: Hàn gia ở mé tây thiên/ Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu. Theo âm
dương ngũ hành hướng tây thuộc âm, hành dương, là cõi ma quái, hư lạnh, mang
âm khí, là cõi của kẻ đã khuất. Hướng tây trong văn học trung đại thường được
cảm nhận như là không gian của những điều huyền bí, gây sợ hãi và xa lạ. Cụ thể
hơn, “mé tây thiên” này chính là bãi tha ma nơi Kiều đi tảo mộ. Đạm Tiên đã hiển
linh ở bãi tha ma và nhân vật này nhắc lại với Kiều trong giấc chiêm bao là “Mới
gặp nhau lúc ban ngày đã quên”. Lời Đạm Tiên nói về nơi trú ngụ của mình trùng


hợp với miêu tả của Nguyễn Du về khung cảnh nơi tảo mộ: Bước lần theo ngọn
tiểu khê/ Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh/ Nao nao dòng nước uốn quanh/
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang. “Mé tây thiên” cũng là hướng thời xưa
người ta đặt nghĩa địa. Bãi tha ma được nói là có mồ vô chủ (Ấy mồ vô chủ ai mà
viếng thăm), có âm khí (Ở đây âm khí nặng nề) và bóng tà (Bóng chiều đã ngả,
dặm về còn xa). Có sự tương liên, tương thông giữa kẻ ở cõi ma và kẻ sống, giữa
hai cõi âm dương, giữa thế giới này và thế giới bên kia, nhất là khi kẻ sống và kẻ
chết có mối “hữu tình”, đồng thanh khí. Do đó, Kiều mới nói, “Thác là thể phách
còn là tinh anh/ Dễ hay tình lại gặp tình/ Chờ xem ắt thấy hiển linh bây giờ”. Kẻ
sống có một niềm tin là có thể gặp gỡ được với kẻ ở cõi chết. Và sự thật là Đạm
Tiên đã hiển linh: Một lời nói chửa kịp thưa/ Chút đâu trận gió cuốn cờ đến ngay/
Ào ào đổ lộc rung cây/ Ở trong dường có hương bay ít nhiều/ Dè chừng ngọn gió
lần theo/ Dấu giày từng bước in rêu rành rành. Quan hệ giữa con người trong “cõi
người ta” và cõi ma là gần gũi, thân tình (Chớ nề u hiển mới là chị em), có thể
thông hiểu nhau (Sẵn đây ta kiếm một vài nén nhang/ Gọi là gặp gỡ giữa đường/
Họa là người dưới suối vàng biết cho). Phương tiện trung gian để giao tiếp với kẻ ở
cõi ma là thi ca, nhang khói, lời khấn vái (Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương và
Lầm rầm khấn vái nhỏ to và Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần). Gió cũng là
phương tiện để đưa kẻ ở cõi bên kia trở về dương thế, như đã dẫn trên kia. Gió ở
đây lạ, khác thường, bí ẩn (gió cuốn cờ, ào ào). Kẻ ở cõi ma, ở đây là Đạm Tiên,
tồn tại như một con người, có thể đọc được cổ thi, thông hiểu chữ nghĩa. Đạm Tiên
bình phẩm thơ Kiều làm ở bãi tha ma là “ném châu gieo vàng”; còn thơ Kiều làm
trong chiêm bao là “tú khẩn cẩm tâm khác thường”. Họ đã lấy ngâm vịnh, thi văn
để thông hiểu nhau, như những bậc tài hoa thời trung đại vẫn thường. Cõi ma
không chỉ có Đạm Tiên mà còn có cả hội đoạn trường, có hội chủ, có các sinh hoạt
thi văn, xướng họa (tập đoạn trường), nghĩa là có tổ chức, lớp lang. Không gian ma
quái, huyền hoặc, thực và ảo, siêu hình và hiện thực, hữu hình và vô hình pha xen
nhau ở ngay phần mở đầu của truyện đã tạo ra không khí ghê rợn, kinh khiếp, u
minh, là dấu chỉ cho thấy Truyện Kiều không chỉ là truyện kể về thế giới hiện thực
mà còn về các thế giới siêu hình.



Không gian siêu hình tiếp đến trong Truyện Kiều là cõi chiêm bao. Kiều có lúc nói
về chiêm bao, cõi mộng:


– Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao

– Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao

Chiêm bao đối với Kiều một mặt là ảo ảnh, dễ tan biến nhưng mặt khác những gì
thấy trong chiêm bao thật quý giá, đáng để suy nghĩ. Trong Truyện Kiều, có 4 lần
Nguyễn Du mô tả giấc mộng và tất cả những gì được báo mộng đều linh ứng.
Môtif báo mộng rất hay thường gặp trong văn học trung đại, đặc biệt là trong
truyện truyền kỳ và tiểu thuyết chương hồi. Người trung đại tin vào điềm triệu,
mộng triệu. Có khi họ xuất quân, đăng quang, khởi hành, xây cất… đều theo những
điều được báo mộng. Người ta suy đoán cát hung, lành dữ từ mộng triệu. Thường
thì trước những sự kiện lớn xảy ra cho một cá nhân, dòng họ sẽ có điều báo trước
trong chiêm bao. Cũng thế, trong văn học trung đại, các nhà văn thường mô tả giấc
mơ, lấy những điềm triệu trong mơ để thông báo tương lai của nhân vật, chứ không
dựa vào các sự kiện, lôgic xã hội. Miêu tả giấc mộng do đó trở thành một phương
tiện nghệ thuật phổ biến. Chiêm bao, giấc mơ không chỉ là hệ quả của một ám ảnh
mà trong Truyện Kiều, đó còn là hệ quả của linh cảm. Một khi con người mang
linh cảm về một điều gì đó chẳng lành, sẽ thấy điều đó trong chiêm bao. Kiều là
nhân vật mang linh cảm, hay nói về những điều không chắc chắn, về sự bất an, hư
vô của tương lai:

– Thấy người nằm đó biết sau thế nào

– Một dày một mỏng biết là có nên


– Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao

Những linh tính về sự bất an đó được gia cố bằng giấc chiêm bao gặp Đạm Tiên
lần thứ nhất. Giấc mơ này chứng thực bước đầu cho linh cảm về sự đau khổ của
đời mình. Cõi chiêm bao, sự báo mộng ở đây có giá trị như những chứng lý cho
linh tính về tương lai. Cõi mộng vô thức trở thành không gian chứa những điều tiên
tri. Kiều đã giải đoán điều đó sau giấc mơ lần thứ nhất gặp Đạm Tiên: Cứ trong
mộng triệu mà suy/ Phận con thôi có ra gì mai sau. Ở lần thứ hai, Kiều gặp Đạm
Tiên trong mơ sau khi tự vẫn ở lầu xanh (Trong mê dường đã đứng bên một nàng/
Rỉ rằng: “Nhân quả dở dang/ Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao/ Số còn nặng
nghiệp má đào/ Người dù muốn quyết trời nào đã cho/ Hãy xin hết kiếp liễu bồ/
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau). Kiều gọi giấc mơ này là “thần mộng” (Và
trong thần mộng lấy lời) và tin vào lập luận về duyên kiếp, duyên nghiệp của Đạm
Tiên. Ở đây lại xuất hiện môtif “đoán mộng”, “giải mộng”. Sau giấc mơ này, Kiều
chấp nhận làm kỹ nữ. Quan niệm về nhân duyên, sự tiền định và số phận trở thành
phương tiện hóa giải cho tình huống lúc đó. Giấc mơ lần thứ ba Kiều thấy Đạm
Tiên có lời giải thích về thân phận hiện kiếp và tiên báo về một tương lai “phúc
dày” và sau này, Kiều có cuộc đời như lời trong mộng (Mơ màng phách quế, hồn
mai/ Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa/ Rằng: “Tôi đã có lòng chờ/ Mất công
mười mấy năm thừa ở đây/ Chị sao phận mỏng phúc dày/ Kiếp xưa đã vậy, lòng
này dễ ai/ Tâm thành đã thấu đến trời/ Bán mình là hiếu, cứu người là nhân/ Một
niềm vì nước vì dân/ Âm công cất một đồng cân đã già/ Đoạn trường sổ rút tên ra/
Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau/ Còn nhiều hưởng thụ về sau/ Duyên xưa
tròn trặn, phúc sau dồi dào). Tác động trực tiếp của giấc mơ này đến Kiều là làm
nhân vật bâng khuâng, “ngơ ngẩn biết sao” và gián tiếp, tiếp thêm niềm hạnh phúc
làm cho Kiều “mừng rỡ trăm bề” khi gặp lại sư Giác Duyên. Nhân vật hồn ma
Đạm Tiên và những gì thấy trong ba giấc mơ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý nhân
vật. Lần thứ nhất, làm Kiều “rền rỉ trướng loan”, âu lo; lần thứ hai, góp phần đưa
đến quyết định tồn tại ở lầu xanh và lần thứ ba, như đã nói, góp phần làm nàng
“mừng rỡ”. Đây là vài ba lần mừng vui hiếm hoi của Kiều. Đạm Tiên chỉ hoạt
động vào lúc chiều tà (ở bãi tha ma) (Tà tà bóng ngả về tây) và ban đêm, có trăng
(lần thứ hai, Chênh chênh bóng nguyệt xế mành và lần thứ ba, ở sông Tiền Đường,
lúc Mảnh trăng đã gác non đoài). Hồn ma này thông suốt mọi sự, có thể di chuyển
tới mọi không gian, đeo bám, ám ảnh Kiều. Trong khi đó, Kiều gặp Đạm Tiên


trong những trạng thái vừa tỉnh vừa mê, vừa có ý thức vừa vô thức. Ở giấc mơ lần
thứ nhất là khi đang “thiu thiu” (Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu), lần thứ
hai, gặp “trong mê” (Trong mê dường đã đứng bên một nàng), còn lần cuối cùng,
Đạm Tiên đến lúc Kiều “thiêm thiếp giấc vàng” (Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng
chưa phai). Giấc mơ đã trở thành một môtif trong truyện. Giấc mơ thứ tư trong
Truyện Kiều (Thúy Vân nằm mơ thấy chị) cũng nằm trong kiểu thức của môtif này.
Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân có tới 5 giấc mơ(5) nhưng Nguyễn
Du đã lược bỏ đi giấc mơ Kiều gặp Kim Trọng. Đối với Nguyễn Du, giấc mơ mang
tính thần bí, luôn gợi ra linh cảm, linh tính nào đó, là mộng triệu, do đó, giấc mơ
đơn thuần, thông thường không có tính huyền bí như giấc mơ Kiều gặp Kim Trọng
chưa đáp ứng được quan niệm của ông về sự siêu việt, khác lạ của cõi mộng nên đã
bị lược bỏ. Cũng khác với Kim Vân Kiều truyện, Nguyễn Du đã không nói đến chi
tiết nói Kiều sẽ gặp Đạm Tiên ở sông Tiền Đường trong giấc mơ lần thứ nhất, sau
lễ tảo mộ mà dời chi tiết đó đến giấc mơ lần thứ hai ở lầu xanh Tú Bà. Sự di
chuyển này thuyết phục hơn vì ở lần thứ nhất, Kiều vẫn đang sống trong không
gian “êm đềm trướng rủ màn che”, chưa có dấu hiệu của sự lưu lạc, trong khi đó, ở
giấc mơ gặp Đạm Tiên lần thứ hai, Kiều đã nổi nênh, việc di chuyển nơi chốn là
khó tránh khỏi. Môtif giấc mơ cho thấy Nguyễn Du không chỉ mô tả ý thức mà còn
đề cập đến linh cảm, linh thức, những trạng thái tâm lý thuộc về tiềm thức. Ông
cũng mô tả cả ảo giác, một điều rất mới mẻ thời ấy, trong đoạn Kiều trao duyên.
Giấc mơ là một mẫn gốc mà văn bản thuộc hàng đầu tiên đề cập đến là Kinh
Thánh. Điều này mở ra một hướng tiếp cận nữa cho Truyện Kiều.

Ngoài cõi ma, cõi chiêm bao, Truyện Kiều còn có không gian các kiếp. Nguyễn Du
hay nói đến kiếp, các kiếp: kiếp tu xưa, kiếp người, kiếp oan gia, kiếp phong trần,
kiếp liễu bồ, kiếp này… Nguyễn Du và các nhân vật của ông tin vào sự tiền định,
sự sắp đặt của một kiếp trước, của không gian tiền thân. Kim Trọng suy tư về
duyên tiền định với Kiều ngay sau khi gặp gỡ (Ví chăng duyên nợ ba sinh/ Làm chi
đem thói khuynh thành trêu ngươi). Khi đến hiên Lãm Thúy, Kim Trọng cũng tin
đó là do duyên ở kiếp trước (Ba sinh âu hẳn duyên trời chi đây). Theo đó, nhân vật
tin rằng ở tiền kiếp đã có những bàn tay dàn xếp các quan hệ của con người. Kiếp
trước là siêu hình nhưng có sức mạnh, có công năng quyết định. Đối với Kiều, kiếp
này cũng đã được ấn định từ kiếp trước, do nhân quả, nghiệp duyên. Lời của Đạm
Tiên trong các giấc mơ lần thứ nhất và thứ hai cho thấy điều đó. Ở đó, Đạm Tiên


đều giải thích thân phận Kiều bằng ngôn ngữ Phật học (quả kiếp nhân duyên,
nghiệp…). Kiều cho rằng kiếp này của mình còn nặng nợ, tức là tin vào nhân quả,
quả kiếp. Do đó, Kiều đã tồn tại ở kiếp trước và đã có những hành động nào đó gây
tai họa cho kiếp này, cần phải trả (Kiếp này trả nợ chưa xong). Ngay cả tài năng
của Kiều cũng đã được hình thành từ kiếp trước, nhờ tu tề ở đó, như lời Kim Trọng
ca ngợi tài thơ của Kiều (Kiếp tu xưa ví chưa dày/ Phúc nào đổi được giá này cho
ngang). Đối với Kiều, kiếp này, theo dòng luân hồi, là kiếp đau khổ (Kiếp phong
trần biết bao giờ cho thôi và Kiếp người đã đến thế này thì thôi). Do “vụng đường
tu” ở kiếp trước, nên Kiều đã chấp nhận và phải bù đền (Kiếp xưa đã vụng đường
tu/ Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi). Đối với hầu như tất cả các đau đớn trong
đời, Kiều đều giải thích, đều cho đó là do nghiệp duyên tiền kiếp (Đã đành túc trái
tiền oan/ Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi). Không gian tiền kiếp, các hành động
ở đó do vậy có vị trí lớn trong cách phân tích, giải thích số phận ở hiện kiếp. Tất
nhiên, bên cạnh đó còn có “mệnh”, “số” của Nho giáo và các yếu tố khác của tín
ngưỡng dân gian có nguồn gốc Lão giáo phù thủy. Không chỉ có tiền kiếp, hiện
kiếp, nhân vật còn tin vào một hậu kiếp. Kiều nghĩ đến tái sinh, đến kiếp lai sinh
mai sau, ở đó được sống lại, dù bằng một hình tướng khác (Tái sinh chưa dứt
hương thề/ Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai). Kiếp sau đối với Kiều lại là quả
của kiếp này (Kiếp này trả nợ chưa xong/ Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau).
Giữa các kiếp do đó có quan hệ tương liên, không tách rời nhau. Do nghiệp báo,
kiếp này Kiều tai ương nhưng cũng ở kiếp này, nhờ hiếu mục, cứu người, tình
nghĩa cao sâu (Bán mình là hiếu, cứu người là nhân (lời Đạm Tiên) và Hại một
người cứu muôn người/ Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng (lời Tam Hợp
đạo cô) nên Kiều được “nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau” và “phúc sau dồi
dào”. Điều này có nghĩa là Kiều được sống một kiếp khác, mới mẻ, hạnh phúc
ngay trong kiếp này. Ở đây, chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du được phát lộ. Ông
để cho nhân vật trung tâm của mình viên mãn ngay lúc này mà không phải chờ một
kiếp sau xa vời nào khác. Do đó, Kiều được đoàn viên, là phu nhân của một ông
quan.

Một không gian siêu hình nữa trong Truyện Kiều là không gian âm phủ. Nguyễn
Du còn gọi không gian này là tuyền đài, suối vàng, chín suối, địa ngục, cửu tuyền.
Theo quan niệm của người trung đại, sau khi chết, người ta xuống âm phủ. Ở đó, vị
vua cai quản có tên là Diêm Vương, có phán quan xét xử, có những kẻ thừa hành


mệnh lệnh là ngưu đầu và mã diện (đầu trâu, mặt ngựa) và các thứ ngạ quỷ khác. Ở
âm phủ cũng có sổ sinh tử ghi quê quán, hành tung, tội lỗi của kẻ chết, có lửa, vạc
dầu, xiềng xích để trừng trị kẻ phạm tội. Cơ hồ như ở âm phủ, dù là cõi âm nhưng
con người hình như vẫn còn sống và phải chịu các phán quyết, các hình thức trừng
phạt. Trong Truyện Kiều, nhân vật Kiều nói giả như mình đã xuống âm phủ, vẫn
mang trong lòng những tình cảm lúc còn tại thế (Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình
mang xuống tuyền đài chưa tan). Ở đó Kiều vẫn ôm ấp, nặng nợ, suy tư và mang
theo những gì còn dang dở trên dương thế. Ở cõi âm, Kiều vẫn thấy được hả hê,
mãn nguyện, hài lòng, nếu như Thúy Vân và Kim Trọng được hạnh phúc (Chị dù
thịt nát xương tan/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây). Những điều này có
nghĩa là các mối liên hệ với con người ở dương gian, với kẻ sống của kẻ ở âm phủ
dường như không bị đứt đoạn, các âm vọng của các hành động, tình cảm ở trần thế
vẫn được tiếp tục, vẫn còn dư vang. Ở âm phủ, kẻ chết vẫn còn cần đến sự cảm
thông, hóa độ, an ủi, như lời Kiều nói với Vân: Dạ đài cách mặt khuất lời/ Rảy xin
chén nước cho người thác oan. Tuy nhiên, dù xuống âm ty nhưng linh hồn kẻ chết
vẫn không mất đi (Thác là thể phách, còn là tinh anh). Như thế, linh hồn, theo
Nguyễn Du, là bất tử, vẫn luôn mang theo nó những ký ức, hoài niệm, vẫn còn có
thể trở về với trần gian, như lời Kiều nói: Mai sau dù có bao giờ/ Đốt lò hương ấy,
so tơ phím này/ Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về/ Hồn còn
mang nặng lời thề/ Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai. Kẻ làm trung gian giữa cõi
người và âm phủ trong Truyện Kiều là nhân vật đạo nhân. Vị này được nói là có
khả năng thông huyền, phi phù trí quỷ, có thể xuất thần, đến được với cõi âm và
cõi tiên: Gần miền nghe có một thầy/ Phi phù trí quỷ, cao tay thông huyền/ Trên
tam đảo, dưới cửu tuyền/ Tìm đâu thì cũng biết tin rõ ràng. Quả thật, ông ta đã đến
được âm phủ khi “chưa tàn nén hương”: Đạo nhân phục trước tĩnh đàn/ Xuất thần
giây phút, chưa tàn nén hương. Ở âm phủ, vị đạo sĩ này có một hành động đúng
theo niềm tin dân gian là tra cứu sổ tử sinh. Sổ này là một danh sách có ghi tên kẻ
tử sinh và hành trạng của họ. Việc họ không có mặt ở âm phủ, được rút tên ra hoặc
không có trong đó nghĩa là họ vẫn còn sống. Khi trở về, vị đạo nhân này “minh
bạch nói tường” là “Mặt nàng chẳng thấy, việc nàng đã tra”. Sự xuất hiện của nhân
vật đạo sĩ với việc đốt hương, lập tĩnh đàn, “sắm sanh lễ vật” có liên quan đến tín
ngưỡng lên đồng, nhập đồng và các thuật chú của dân gian và Lão giáo phù thủy.
Lời vị đạo nhân sau khi vào âm phủ, cho biết Kiều chưa chết chỉ mắc nạn, Kiều và
Thúc Sinh sẽ lại gặp nhau trong oái ăm sau đó đều chân xác.


Không gian siêu hình cuối cùng trong Truyện Kiều là cõi trời, với đấng ngự trị là
ông trời. Trời trong Truyện Kiều còn được gọi bằng hóa công, con tạo, ông tơ…
Thượng đế (tức trời) và do đó là cõi trời “là định đề của toàn bộ nhãn quan của con
người trung đại về thế giới”(6). Trời trong Truyện Kiều có tính cách, có quyền uy
vô lượng, sắp đặt và điều khiển mọi điều ở trần gian. Trời có thể cho tác hợp hay
phân li (Ông tơ ghét bỏ chi nhau/ Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi), có thể ganh
ghét (Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen), phũ phàng, vô tâm (Phũ phàng chi
bất hóa công), ban phát tư chất (Thông minh vốn sẵn tính trời), tùy hứng, tùy ý
(Khuôn thiêng dù phụ tấc thành/ Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời)… Trời là
đối tượng để con người kêu than nỗi oan khốc (Oan này còn một kêu trời nhưng
xa), là thế lực ấn định vận rủi may (Rủi may âu cũng sự trời). Thuộc về cõi trời còn
có các tinh tú khác và chúng cũng chiếu ứng tới thân phận con người như trăng
chẳng hạn: Trăng già độc địa làm sao/ Cầm dây chẳng lựa, buộc vào tự nhiên.
Trăng ở đây là “nguyệt lão”, “nguyệt quái”. Trong Truyện Kiều, cõi trời với thế lực
chính là ông trời và hành tung của ông ấy là “mệnh trời” chi phối phần lớn chủ đề,
giọng điệu, số phận nhân vật, cách thức Nguyễn Du giải thích về cuộc đời. Dưới
mệnh của trời, con người trở nên cực kỳ bé nhỏ, mong manh:

– Rằng tôi bèo bọt chút thân

– Rằng tôi chút phận đàn bà

– Thiếp như hoa đã lìa cành

– Nàng rằng chiếc bách sóng đào
Nổi chìm cũng mặc lúc nào rủi may.


– Nàng rằng: “Chút phận ngây thơ”.

Vì thế, con người trong Truyện Kiều không còn quyền tự quyết, mà bị định đoạt.
Nguyễn Du khuyên người ta đừng “trách lẫn trời gần, trời xa” nhưng ông cũng
không thôi tin vào khả năng của con người (Xưa nay nhân định thắng thiên cũng
nhiều), bởi vì theo ông, con người có “thiện căn” (Thiện căn ở tại lòng ta).

Như vậy, Truyện Kiều không chỉ có thế giới hiện thực mà còn có các không gian
siêu hình và các thế lực cư ngụ ở đó. Các thế lực này lập trình các sự kiện trong
không gian hiện thực và các sự kiện này phải diễn ra theo những gì đã được ấn
định. Do đó, con người và số phận của nó bị điều khiển bởi các thế lực siêu hình,
không có quyền, có khả năng tự quyết. Ở đây đã xuất hiện tư tưởng tiền định và
chủ đề về sự bất lực, bất túc của con người thời trung đại. Tất cả đều do “có trời”,
do “con tạo”, duyên nghiệp… Các thế giới siêu hình và thế giới hiện thực không có
sự tách bạch, biện biệt rõ ràng mà hòa lẫn, pha trộn vào nhau, tương tác nhau. Điều
này cho thấy tư duy nguyên hợp, đa nguyên về thế giới của người trung đại. Cuộc
đời do đó vừa hiện thực vừa thần bí, âm dương đan xen nhau. Các thế lực thuộc
các không gian siêu hình đều hướng về thế giới hiện thực của con người để phán
quyết, định đoạt, hành hạ nó. Con người do đó phải không ngừng tranh chấp với
các thế lực đó để hiện hữu, để đòi quyền được hạnh phúc. Trong cuộc tranh chấp
này, các giá trị nhân bản của Truyện Kiều đã được phát lộ ra. Trong quan hệ giữa
cõi trần và các không gian siêu hình đều có các nhân vật trung gian. Đạm Tiên là
trung gian giữa cõi người với cõi ma; đạo nhân nối âm phủ và dương gian; “mệnh
trời” là gạch nối giữa cõi trời và trần thế còn giữa các kiếp lại có quan hệ tương
liên chặt chẽ, trong đó nghiệp duyên, nghiệp báo, nhân quả có vai trò quan trọng.
Lời nói, hành động của các nhân vật thuộc các không gian siêu hình có tác động
quan trọng đến tâm lý, sự lựa chọn, hành động của các nhân vật thuộc thế giới hiện
thực. Chúng là một trong các căn cứ để giải thích số phận, nội tâm nhân vật, đặc
biệt là Kiều, chứ không chỉ có các yếu tố hiện thực, các nguyên nhân xã hội.
Truyện Kiều như thế không chỉ là chuyện kể về trần gian mà còn là câu chuyện về
các thế giới siêu hình vô ảnh.


T.N.H.T
(SH317/07-15)

…………………………………………
(1) Lê Đình Kỵ, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực, Hội nhà văn Tp. Hồ Chí
Minh, 1992, tr 288 – 308.
(2) Trần Đình Sử, Không gian nghệ thuật Truyện Kiều/ Trong sách Những thế giới
nghệ thuật thơ, Nxb. Giáo dục, H.,1997, tr 372 – 390.
(3) A. JA. Gurêvich, Những phạm trù văn hóa trung cổ, Hoàng Ngọc Hiến dịch,
Nxb. Giáo dục, H.,1996, tr 73.
(4) Trần Nho Thìn, Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb. Giáo
dục, H.,2003, tr 52.
(5) Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều truyện, Nguyễn Đức Vân, Nguyễn Khắc
Khanh dịch, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 1999.
(6) A. JA. Gurêvich, sđd, tr 7.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×