Tải bản đầy đủ

Đây thôn vĩ dạ từ hình ảnh đến biểu tượng

Đây thôn Vĩ Dạ từ hình ảnh đến biểu tượng
1. Rõ ràng là có một thế giới thiên nhiên rất thực đã và đang tồn tại trong Đây thôn
Vĩ Dạ. Đó Là một thế giới của ”vườn ai mướt quá”, của ”lá trúc che ngang ” và ”
thuyền ai đậu bến sông trăng đó”… đầy tình tứ. Một thế giới xôn xao của ánh sáng
và sắc màu song vẫn gợi lên sắc thái cổ điển: Mỗi hình ảnh, sự vật đều rất nổi nét
trong những hình vẻ cụ thể, trong cả những câu mà tất thảy như bị nhoè mờ đi sau
một màn sương khói mông lung vô tình hay hữu ý. Những ”nắng”, những ”vườn”,
những ”con thuyền”, “vầng trăng” và ”em” nữa,… tất cả đã tạo nên một tập hợp
hình ảnh rất sống về cuộc đời trong tâm trí Hàn Mặc Tử, khi ông, trong một cảnh
ngộ riêng có tính bi kịch, bị gạt ra ngoài guồng quay của nó và chỉ có thể đứng từ
xa, hướng đến cuộc đời, để ngưỡng vọng và khao khát. Tác giả rất chú trọng tới
việc mô tả thiên nhiên trong sự gợi cảm như vốn có. Thậm chí, ông còn tái hiện lại
cả những cảm giác, những tiếng reo thầm, những câu hỏi, những lời xuýt xoa của
chính mình (Vườn aimướt quá!… Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?… Khách
đường xa! khách đường xa?) để tăng thêm tính xác thực cho những thông tin bằng
hình ảnh mà ông đang đem lại cho độc giả. Và hiệu quả nghệ thuật đầu tiên là, ông
đã tạo nên trong 12 câu thơ ngắn ngủi ấy một bức tranh thiên nhiên thật đậm chất
tạo hình, gần gũi và sống động, như chính nó ngoài đời. Song Đây thôn Vĩ Dạ
không đơn thuần là một bức tranh thiên nhiên, cho dù tác giả đã đưa vào bài thơ
khá nhiều chi tiết tả thực. Tác giả có lưu giữ trong trí của mình ấn tượng về một
không gian quá khứ tràn đầy ánh nắng. Đó và sự dồn nén của lớp lớp thời gian

trong một khoảnh khắc nghệ thuật, đã tạo nên thứ ánh sáng từng phản chiếu rực rỡ
kì lạ trong những bức vẽ ngoài trời của Claude Monet (Pháp): tất cả đã trôi qua và
tất cả cũng đã dừng lại trong cái khoảnh khắc kì diệu ấy của nghệ thuật, mãi mãi
nguyên vẹn và tinh khôi như”thuở càn khôn mới dựng /ên”. Song tính chất của thứ
ánh nắng trong những hình ảnh thơ này không hoàn toàn giống như trong tranh của
hoạ phái Ấn tượng: nó không phải là những cảm nhận tức thì của con mắt mà là sự
cắt nghĩa, lí giải trong sâu xa, và nhiều khi không định trước của tâm hồn. Nó
không chỉ tạo hình, nó còn biểu hiện (Mối quan hệ giữa tạo hình và biểu hiện trong
tác phẩm nghệ thuật đã được bàn tới nhiều; ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra như một
tiền đề xuất phát, nhằm mục đích định hướng cho việc tìm hiểu sâu hơn những nét
đặc sắc trong nghệ thuật diễn tả của tác phẩm này). Không phải ngẫu nhiên mà tác
giả viết: ”nắng hàng cau, nắng mới lên”. Ta cũng có thể đọc khác đi một chút: (đấy
là) nắng hàng cau (và đấy là) nắng mới lên. Hai lần chữ “nắng” được điệp lại, mở


ra trong tâm trí của con người một không gian chan hòa ánh sáng. Từ một hình ảnh
cụ thể, “nắng” đã trở thành một biểu tượng đầy ám ảnh của quá khứ.

Biến những hình ảnh miêu tả riêng biệt, cảm tính, thành những biểu tượng giàu sức
gợi, đó cũng là một cách diễn tả của Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ. Ở đây,
hình ảnh được hiểu như là những dạng thức tạo hình cụ thể, sống động trong những
tác phẩm văn chương mà người ta có thể tri giác được một cách trực tiếp. Những
hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương nói chung, muốn đến được với
độc giả, đều phải được tạo hình qua những chi tiết, hình ảnh như vậy, bởi vì, xét
đến cùng, chúng cũng chỉ là một hiện tượng tinh thần. Phải hiểu được cái thế giới
hình tượng được thiết lập nên từ những hình ảnh cụ thể đó, độc giả mới có thể
khám phá, lí giải được các lớp nội dung ẩn chứa trong tác phẩm. Như vậy, cũng có
thể xem hình ảnh như là một hình thức mã hoá ý nghĩa của tác phẩm văn chương.
Tuy nhiên, có những hình ảnh cũng chỉ mang ý nghĩa định danh, chúng gọi ra
những ý niệm về sự vật, sự việc đúng như vốn có trong thực tế đời sống. Nhưng
cũng có những hình ảnh mà khi được lựa chọn và đưa vào tác phẩm văn chương,
theo một cách thức tổ chức nghệ thuật đặc biệt nào đó, chúng bỗng gợi lên vô số ý
nghĩa rộng lớn và trừu tượng hơn, khác với cái nghĩa thực, cụ thể, vốn có ban đầu.
Nói cách khác, những hình ảnh ấy trở thành cái vỏ vật chất ôm chứa nhiều lớp ý
nghĩa mới, ngoài bản thân chúng: đó là những hình ảnh – biểu tượng. Những hình
ảnh ấy có khi nằm trong ý đồ sáng tác của nhà văn nhằm diễn tả một hình tượng
định sẵn, nhưng nhiều khi lại được nảy sinh ra một cách ngẫu nhiên trong ”cõi mù
mờ” của vô thức người nghệ sĩ. Nói như C.G. Jung thì, biểu tượng, là một hình ảnh
thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh và nó
không bó chặt gì hết, nó không cắt nghĩa, nó đưa ta ra bên ngoài chính nó đến một
ý nghĩa còn nằm ở tận phía ngoài kia, không thể nắm bắt, được dự cảm một cách
mơ hồ và không có từ nào trong ngôn ngữ của chúng ta có thể diễn đạt thoả
đáng(1).

2. Trong bài thơ của mình, Hàn Mặc Tử đã tạo nên một thôn Vĩ đầy mê đắm, với
những hình ảnh như vừa thoáng hiện ra từ trong cõi nhớ, lại vừa như một nỗi ám
ảnh từ rất xa xưa trong tiềm thức. Nhất là trong khổ đầu tiên này:


Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Không hiểu cái cơ chế tinh thần nào đã xui khiến ông lựa chọn những hình ảnh
lộng lẫy và có sức ám ảnh đến thế? Có lẽ là nhờ sự tác động của lời mời gọi từ bên
ngoài (Sao anh… ?) cộng hưởng cùng sự bừng tỉnh bên trong tâm hồn chủ thể trữ
tình, tạo nên một cú va đập mạnh trong xúc cảm, mở đường cho sự trỗi dậy của
những hình ảnh cũ xưa. Nỗi nhớ đã nhấc bổng tác giả lên khỏi mặt đất thực tại và
ông đã sống lại hồi ức trong tột cùng cảm giác của mình. Nhờ sự nhập thân trọn
vẹn ấy mà thôn Vĩ, lẽ ra phải được mô tả như những gì cũ càng trong quá khứ, lại
hiện lên như những hình ảnh tươi mới nhất của hiện tại. Nắng hàng cau / nắng mới
lên / lá trúc che ngang / mặt chữ điền – Đấy là một tập hợp hình ảnh về những khu
vườn thơ mộng nơi thôn Vĩ, nó cụ thể hoá cái ấn tượng ”mướt quá, xanh như ngọc”
của khung cảnh thiên nhiên nơi ấy. Đó là những chi tiết phụ trợ, xung quanh cái
trục chính là hình ảnh ” Vườn”. Song cái khu vườn ấy càng được chi tiết hoá, càng
trở nên sống động và gợi cảm, càng đẹp một cách ám ảnh ấy, càng khêu gợi trí
tưởng tượng của người đọc, càng khiến người ta nghĩ đến một cái gì đó, sâu hơn và
xa hơn cái ý nghĩa hiển 1ộ ở bề mặt những hình ảnh kia. Nó – nói như Jean
Chevalir – “báo hiệu một bình diện ý thức khác với cái hiển nhiên lí tính; nó là mật
mã của một bí ẩn, là cách duy nhất để nói ra được cái không thể nắm bắt bằng cách
nào khác”(2). Tác giả càng mô tả ”Vườn ai” một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng, thì, vượt ra
ngoài tầm kiểm soát của nhà thơ, ý nghĩa của nó càng bị biến dạng so với những
hình ảnh thực tế xuất phát ban đầu. Chính điều này sẽ làm cho bức tranh thiên
nhiên kia mất đi cái ý nghĩa sao chép thực dụng, mở ra những ý nghĩa rộng lớn hơn


và cũng khó nắm bắt hơn, dẫn đến sự xuất hiện của những biểu tượng giàu ý nghĩa.
Trở lại với hoàn cảnh ra đời của bài thơ này, có thể thấy rằng, ”Vườn ai” – đó là
một không gian ảo mộng tràn đầy ánh sáng và sắc xanh, đối lập hoàn toàn với cái
không gian hiện thực bên ngoài chua xót mà tác giả đang phải vật vã với từng giờ
khắc (1939). Sự đối lập ấy càng khiến cho cái không gian phi thực kia trở nên lung
linh hơn, nhưng cũng khắc khoải và dằn vặt hơn. Đó là vẻ đẹp của một thiên đường
đã mất trong mắt kẻ tội đồ; Đó là ”vườn mơ, bến mộng, niềm nhớ nhung đằng
đẵng, về một hạnh phúc nguyên thuỷ. Hạnh phúc của nguồn trong trẻo mà loại
người phải từ giã ra đi và bị cấm cản đường về”(3). Cùng với tập hợp những hình
ảnh đi kèm (nắng, hàng cau, látrúc, mặt chữ điền…) – “Vườn ai”, trong sự lựa
chọn của vô thức – đã trở thành một biểu tượng vừa mơ hồ vừa rõ rệt nhất, cho
”một cõi đi về” của những nuối tiếc và khát khao hạnh phúc trong tâm hồn người
thi sĩ tài hoa mà bất hạnh ấy.

Tác giả đã đưa vào bốn câu của khổ thơ thứ hai khá nhiều hình ảnh cụ thể: gió,
mây, dòng nước, hoa bắp, dòng sông ,con thuyền, vầng trăng… Tuy nhiên, khác
với khổ thứ nhất ,những hình ảnh này không tạo nên một tập hợp thống nhất xoay
quanh một chủ đề xác định: chúng được mô tả trong sự tách bạch và rời rạc; Nhà
thơ như đang soi ngắm mỗi sự vật trong sự cô đơn của nó. Vì thế, không gian tuy
đầy những sự vật, sự việc nhưng vẫn gợi một cảm giác hiu quạnh. Nó gợi ra một
không gian khác, một không gian tâm hồn đổ vỡ và trống rỗng. Như vậy, chính sự
xếp đặt những hình ảnh vừa thực vừa ảo, theo một thể thức rời rạc và chẳng mấy
ăn nhập với nhau ấy đã vô tình bộc lộ một sự ”bấn loạn nội tâm” nào đấy của con
người . Và điều đó cũng có nghĩa là, nói ngẫu nhiên mà thực ra không hề ngẫu
nhiên, những hình ảnh ấy vẫn phải trải qua những thao tác chọn lựa nhất định của
những “ám ảnh vô thức” nào đó (nghĩa là có khi cả tác giả cũng không hề định
trước). Bằng việc lựa chọn, sắp xếp và liên kết các hình ảnh, tác giả đã tạo nên độ
nhoè của các chi tiết thực, từ đó mà đi đến việc mở rộng ý nghĩa của chúng, khiến
cho những hình ảnh đơn nghĩa ban đầu hoá thành những biểu tượng. Hình ảnh gió,
mây thì hết sức cụ thể nhưng sự kết hợp của chúng trong câu thơ “gió theo lối gió,
mây đường mây” thì lại mở ra những ý nghĩa hết sức mông lung. Cách nhà thơ bẻ
rời những sự vật vốn gắn bó ra, đặt chúng trong các cụm từ đăng đối tách bạch, gợi
rất rõ một cảm giác phân cách, chia li, rã rời. Cũng vậy, hình ảnh thuyền, trăng, bến
sông, trong hai dòng thơ cuối khổ sẽ là một vẻ đẹp hiền lành và thơ mộng trong thi


ca, nếu tác giả không liên kết chúng bằng một mốc thời gian đầy xác định “tối
nay”, và đặt giữa tổ hợp hình ảnh quen thuộc ấy một từ “kịp” đầy nỗi niềm:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,

Có chở trăng về kịp tối nay ?

“Vườn ai”, giờ lại đến “thuyền ai” (và ở khổ cuối sẽ là “tình ai”). Đại từ phiếm chỉ
này giúp xoá mờ đi những đường biên quá rõ ràng và tạo nên sự mơ hồ hoá trong
cảm nhận của độc giả. Đi cùng với cách nói phiếm chỉ này là cách kết hợp những
hình ảnh vốn thực tế rất cách xa nhau trong một khoảng cách và quan hệ hết sức
gần gũi: bến sông trăng, thuyền chở trăng về… Cách nói ghép nhập một loạt hình
ảnh vào nhau như bến sông trăng rất dễ gây ra những nhập nhằng trong cách hiểu
(Bến sông hay là bến trăng? Dòng sông hay là dòng trăng?). Song cũng vì vậy mà
từ những hình ảnh cụ thể và xác thực, ý nghĩa của thuyền, bến, sông, trăng… bỗng
trở nên “lung linh”, chúng “tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ”(4). Cho nên,
cái không gian thôn Vĩ rất thực, qua cách mô tả ấy cũng trở nên hư ảo mông lung.
Bị đặt bên cạnh những hình ảnh lấp lửng như vậy, “tối nay” bỗng nhiên cũng chênh
vênh giữa một bên là ý nghĩa thời gian rất xác thực, và một bên là những lớp nghĩa
mới đầy trừu tượng, mơ hồ. Thiếu những tiền đề xác định của hoàn cảnh phát
ngôn, độc giả bỗng nhiên cảm thấy nghi ngại nếu hiểu “tối nay” như ý nghĩa ban
đầu của nó. Và chính vì vậy, ở đây, những khả năng liên tưởng đã được mở rộng.
”Tối nay” phải đâu chỉ là cái mốc thời gian cụ thể để cho con thuyền chở trăng kịp
về tới bến, nó còn gợi ra cái giới hạn nghiệt ngã không thể tránh khỏi của cuộc đời
mỗi con người. Câu thơ là sự suy ngẫm khắc khoải với những dự cảm không lành
về cái giới hạn một mai rất gần kề kia của chính số phận mình, chứ phải đâu chỉ là
những mơ mộng vô tư về sông nước! Nhưng vấn đề là, để đi đến những ý nghĩa
rộng lớn và trừu tượng ấy, thi sĩ luôn phát xuất từ nhiều hình ảnh cụ thể, để chúng
”nói”với độc giả bằng thứ ngôn ngữ tự thân của chúng. Ma lực bí ẩn của những
hình ảnh thơ này chính là ở chỗ chúng nhập nhoà giữa ranh giới chuyển vượt của
cái đã biết và cái còn bị che giấu của ý nghĩa mà chúng chuyển tải.


Nếu ở khổ thứ nhất và thứ hai tác giả càng cố gắng chi tiết hoá bằng những tập hợp
hình ảnh cụ thể thì ở khổ cuối, ông lại cố gắng tỉa bớt những chi tiết rườm rà không
cần thiết. Khổ ba ít những hình ảnh cụ thể hơn hẳn so với hai khổ trên, song kĩ
thuật tạo độ nhoè đã được tận dụng triệt để. Bước vào khổ thơ là bước vào một
giấc mơ mông lung. Câu thơ đầu như tiếng vọng trong một giấc mơ, sương khói
mờ mịt ấy dường như cũng là sương khói bao phủ giấc mơ, và cả màu ”áo em
trắng quá” tưởng rất xác định kia nữa cũng tựa như mộtảo giác chập chờn trong mơ
mà thôi (Thực ra, đặt màu áo trắng trên cái nền khói sương kia cũng là một cách
tạo thêm độ nhoè trong thị giác). Vì vậy, việc chủ thể trữ tình thốt lên ”áo em trắng
quá, nhìn không ra” có vẻ phi lí nếu xét từ một góc độ nào đó, song lại rất phù hợp
với tính chất của một giấc mơ (vốn không hề tuân theo một lôgic hiện thực nào).
Việc tạo ra một không gian mông lung như vậy, càng khiến cho hình ảnh Em –
hình ảnh trung tâm của khổ thơ, càng trở nên mơ hồ và khó nắm bắt hơn bao giờ
hết. Nhưng phải chăng, đó mới chính là ý nghĩa đích thực của biểu tượng này? Em
là hạnh phúc và tình yêu và cũng như chính hạnh phúc và tình yêu mong manh lắm
thay!

3. Bài thơ này chỉ có 12 dòng nhưng có đến ba câu hỏi, phân đều cho ba khổ thơ.
Một câu mở đầu và hai câu đứng ở vị trí kết thúc. Chính những câu hỏi đã liên kết
những hình ảnh bề mặt của bài thơ thành một thể thống nhất. Câu hỏi đầu tiên thực
chất là một lời tự vấn, tuy nhiên, tác giả đã mượn lời của khách thể – một cô gái
thôn Vĩ – tạo nên một cái cớ rất thơ để nhập cuộc trọn vẹn cảm xúc. Điều này giải
thích vì sao thôn Vĩ có thể hiện lên với một loạt chi tiết hết sức gợi cảm và tập
trung ở phía sau. Câu hỏi ở đây đóng vai trò gợi mở kỉ niệm và gọi dậy hình ảnh
nhờ quan hệ hô ứng của lời hỏi đáp. Tuy nhiên, cái cách tác giả giấu mặt sau lời
của người khác cũng bộc lộ một cái gì đó như nỗi e dè kín đáo. Câu hỏi thứ hai nối
kết những hình ảnh rời rạc ở bề mặt câu thơ trong một mối liên hệ ngầm, và vì vậy
từ một câu hỏi vu vơ, không ăn nhập gì với ngoại cảnh, nó đã hé lộ một nội tâm
đầy bất an của tác giả. Chính câu hỏi này đã cho thấy sự hiện diện rõ hơn của chủ
thể trữ tình (cho đến trước đó, anh ta vẫn còn giấu mặt sau những hình ảnh của
thiên nhiên). Tuy nhiên, nỗi xúc động thực của tác giả vẫn bị che đậy khá kĩ lưỡng
sau một loạt những hình ảnh mơ hồ, bóng bẩy. Phải đến câu hỏi kết thúc, cái nỗi


nấu nung khiến xui tác giả phải cầm bút mới thực sự lộ diện: Ai biết tình ai có đậm
đà? Như vậy, càng ngày, cùng với sự xuất hiện của những câu hỏi, tiếng nói của
chủ thể trữ tình càng vang lên rõ rệt hơn, và vì vậy, cũng xúc động hơn. Điều đó
diễn ra song song với quá trình nhoè mờ đi trên bề mặt những hình ảnh của thôn
Vĩ. Nói cách khác, những hình ảnh cụ thể càng ngày càng mơ hồ hơn, như tự che
giấu ý nghĩa của chúng, nhưng những câu hỏi càng ngày càng bộc lộ nội dung một
cách trực tiếp hơn, mạnh mẽ hơn. Đó Là sự giằng co giữa Tình cảm và Lí trí: Tình
cảm thì muốn thổ lộ, muốn giãi bày, nhưng lí trí thì ngại ngùng, gìn giữ; Tình cảm
thì muốn chọn con đường phô bày một cách trực tiếp, nhưng lí trí lại mách bảo nên
giấu mặt sau những hình ảnh gián tiếp; tình cảm thì chỉ muốn theo con đường ngắn
nhất, nhưng lí trí lại đi đường vòng của những ẩn ngữ… Sự giằng co vô thức này
đã chi phối rất rõ kết cấu nội tại của thi phẩm: Cứ một câu hỏi tưởng chừng hé lộ
một điều gì đó, lại đến một loạt hình ảnh mơ hồ như chỉ chực xoá đi những gì quá
rõ ràng mà câu hỏi đã đem lại. Ngay trong một câu hỏi cũng vậy: những hình ảnh
vừa như hết sức xác định, lại vừa như hết sức vu vơ, không nhằm vào một ai, một
cái gì thực cụ thể cả. Sự song hành của hai quá trình diễn biến ngược chiều ấy thiết
lập nên mối quan hệ đan chéo giữa cái đã biết và cái bị che giấu, tạo nên tính chất
vừa khép vừa mở, vừa thực vừa ảo, vừa hướng nội vừa vọng ngoại, vừa đẩy độc
giả ra xa, vừa kéo lại thật gần trong sự hỗn mang cảm xúc… của Đây thôn Vĩ Dạ.

Có thể nói rằng, bước vào Đây thôn Vĩ Dạ là bước vào những câu hỏi đầy ám ảnh
về tình đời, tình người. Hiển nhiên những bức xúc tinh thần trong tác giả đã đóng
vai trò động lực chính, song từ một góc độ nào đó mà xét, thì ”những câu hỏi lớn
không lời đáp” ấy cũng là một kỹ thuật nhằm tạo nên độ vang của âm điệu và độ
mở trong ý nghĩa của tác phẩm. Trên cái nền mông lung của khung cảnh, âm vang
của những câu hỏi càng trở nên da diết khắc khoải hơn, và ngược lại, trong mối
liên hệ với những câu hỏi có sức xoáy sâu ấy, những hình ảnh cụ thể bỗng lung
linh thêm nhiều ý nghĩa. Rõ ràng, để mở được cánh cửa đi vào thế giới hình ảnh –
biểu tượng của tác phẩm này, cần phải bám vào những câu hỏi như những cọc tiêu
chỉ đường quan trọng.


4. Bài thơ có tiêu đề là Đây thôn Vĩ Dạ. Xuyên suốt bài thơ là những hình ảnh về
cái thôn Vĩ ấy. Song từ những hình ảnh cụ thể của một khung cảnh thiên nhiên có
thực, qua nghệ thuật diễn tả độc đáo của nhà thơ, đã trở thành một thế giới của biểu
tượng. Toàn bộ những hình ảnh mô tả cụ thể, riêng lẻ trong bài thơ đều xoay quanh
cái trục chính Thôn Vĩ, nhằm cắt nghĩa và bổ sung cho hệ biểu tượng ấy ngày một
đầy đặn hơn, đồng thời cũng phức tạp hơn. Vừa là hình bóng của quá khứ êm đềm,
vừa là sự phản chiếu của một hiện tại đau xót, và đồng thời còn thức dậy một
tương lai với bao nỗi hoang mang thắc thỏm. Đây thôn Vĩ Dạ, nói rộng hơn, chính
là biểu tượng cho thế giới tâm hồn Hàn Mặc Tử, khi cận kề bên bờ vực cái chết,
vẫn không ngừng hướng về cuộc đời, về tình yêu, trong tột cùng đau thương và hy
vọng. Nhà thơ quả đã tìm được cho cái thế giới nội tâm của chính ông một cái ”vỏ
vật chất”đầy biểu cảm.

Từ hình ảnh tới biểu tượng là kết quả của những thao tác chọn lựa và kết hợp của
thi sĩ, nhằm tìm ra cho những diễn biến nội tâm phức tạp của chính ông, một hình
thức diễn tả phù hợp nhất. Tất nhiên, như đã nói ở trên, những thao tác ấy được vận
hành không chỉ bởi phần hữu thức mà còn bởi sự vô thức trong chính con người tác
giả. Điều đó mở ra những khoảng trắng trong tác phẩm và cho phép độc giả tiếp
tục tìm kiếm những ý nghĩa mới của nó…



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×