Tải bản đầy đủ

Luận văn ThS: “ Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học kiến thức chương I phần di truyền học Sinh học 12 THPT Nâng cao”.

Học viên: NGUYỄN VIẾT TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

“ Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học kiến
thức chương I phần di truyền học - Sinh học 12 THPT
Nâng cao”.

1


Luận văn này được hoàn thành tại Đại học Vinh
Người thực hiện đề tài: NGUYỄN VIẾT TRUNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Đình Trung
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm
Phản biện 2: TS. Đinh Quang Báo

Luận văn này được bảo vệ trước hội đồng chuyên ngành
Lý luận phương pháp dạy học Sinh học

Có thể tìm đọc luận văn tại thư viện trường Đại Học Vinh


2


Phần I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu, hiện nay các quốc
gia trên thế giới đang nổ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo với
nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực
trong dạy học [1]. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định
trong Nghị quyết Trung Ương 4 khóa VII (1- 1993), Nghị quyết Trung Ương 2 khóa
VIII (12- 1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các
chỉ thị của Bộ giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4- 1999) [18].
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT đã nêu: “phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng
môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng học sinh
phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập
cho học sinh” [18].
Mục tiêu đặt ra trong ngành giáo dục nước ta hiện nay là đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng thay đổi từ hướng truyền thụ một chiều sang dạy học theo
“phương pháp tích cực”, làm cho quá trình học là quá trình kiến tạo: HS tìm tòi, khám
phá, phát hiện, khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm
chất. Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp và
kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học [1]. Tư tưởng nhấn mạnh vai trò chủ đạo tích
cực của người học, xem người học là chủ thể của quá trình học tập đã có từ lâu. Ở thế
kỷ XVII, A.Kômenxki đã viết “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm,
phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…Hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên dạy
ít hơn, học sinh học nhiều hơn” [13]. Ở nước ta vấn đề phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành
giáo dục từ những năm 1960, với khẩu hiệu biến quá trình đào tạo thành quá trình tự
đào tạo. Tuy nhiên, thuật ngữ dạy học lấy học sinh làm trung tâm chỉ được phổ biến

3


gần đây. Quá trình dạy học lấy GV làm trung tâm sang dạy học lấy HS làm trung tâm là
một xu thế tất yếu có lý do lịch sử. Để thực hiện được điều này đòi hỏi người giáo viên
phải thay đổi phương pháp dạy của mình, yêu cầu GV phải có trình độ cao hơn nhiều
cả về phẩm chất và năng lực nghề nghiệp. “Một GV sáng tạo là một GV biết giúp đỡ
HS tiến bộ nhanh chóng trên con đường tự học, GV phải là người hướng dẫn, người cố
vấn hơn là chỉ đóng vai trò công cụ truyền đạt tri thức” [12],[13]. “Người thầy giáo tồi
truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý”.
Như vậy, một trong những điều cốt lõi của giáo dục hiện nay là chuyển quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, rèn luyện cho người học có được kỹ năng,
phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống
mới, biết phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra, tạo cho HS lòng ham học, khơi
dậy tiềm năng vốn có trong mỗi HS. Tuy nhiên, hiện nay sự chuyển biến về phương
pháp dạy học ở trường phổ thông, phương pháp đào tạo ở trường sư phạm chưa được là
bao, phổ biến vẫn là cách dạy thông báo các kiến thức định sẵn, cách học thụ động,
sách vở, tình trạng chung hàng ngày vẫn là “Thầy đọc - trò chép” hoặc giảng giải xen
kẽ vấn đáp tái hiện, giải thích minh hoạ bằng tranh [11]. Nếu cứ tiếp tục cách dạy và
học như thế giáo dục sẽ không đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội. Sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2000 - 2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu
trên đường tiến vào thế kỷ XXI bằng cách cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáo
dục, trong đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học [9]. Đã đến lúc chúng
ta phải thực hiện theo khẩu hiệu “Trả lại vị trí vốn có cho người học và tự học” [14].
Một trong những biện pháp giúp HS tự học đó là sử dụng PHT trong dạy học.
PHT với tính chất là một phương tiện dạy học có ưu điểm rất lớn như dễ sử dụng, hiệu
quả cao, sử dụng được trong nhiều khâu của quá trình dạy học: Hình thành kiến thức
mới, cũng cố vận dụng, kiểm tra đánh giá vừa phát huy được công tác độc lập của học
sinh, vừa phát huy được hoạt động tập thể. Phiếu học tập không chỉ là phương tiện
truyền tải kiến thức mà còn hướng dẫn cách tự học cho học sinh đồng thời qua đó rèn
luyện năng lực tư duy sáng tạo và xử lý linh hoạt cho người học. Phiếu học tập không
chỉ tổ chức hoạt động theo cá nhân mà có thể tổ chức hoạt động theo nhóm một cách

4


có hiệu qủa. Thông qua PHT GV có thể tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm. Theo
điều tra của M.Hebditch (1990) về mức độ hứng thú với các phương pháp dạy học của
học sinh từ 11 đến 18, thì thảo luận nhóm chiếm 80%, độ lưu trữ thông tin 50% [25].
Tuy PHT có vai trò quan trọng như vậy nhưng việc dạy học bằng PHT chiếm tỉ lệ rất
thấp [26]. PHT chưa được sử dụng phổ biến, trong quá trình dạy học đa phần PHT
được sử dụng còn mang tính hình thức, phần lớn giáo viên chỉ sử dụng khi thao giảng.
Do vậy chưa phát huy hết vai trò quan trọng mà PHT mang lại. Bên cạnh đó hiện nay
PHT chủ yếu được giáo viên sử dụng trong khi dạy bài mới mà ít sử dụng trong các
khâu khác của dạy học đặc biệt sử dụng PHT trong việc hướng dẫn học sinh tự học.
Ngoài ra chương trình phổ thông mới cải cách, kiến thức trong SGK có nhiều điểm mới
và khó, nội dung tương đối nhều. Do vậy, với thời gian ngắn nhất ở trường THPT
không thể cung cấp cho HS cả một kho tàng kiến thức khổng lồ, nhiệm vụ của người
giáo viên hiện nay không phải cung cấp cho học sinh một vốn tri thức mà quan trọng
họ phải trang bị cho học sinh khả năng tự làm việc, tự nghiên cứu, tự tìm hiểu và tự
nắm bắt thêm tri thức mới...Qua đó nâng cao được hiệu quả tiếp thu, lĩnh hội kiến thức
và hình thành kỹ năng, kĩ xảo của các em. Vì vậy việc áp dụng PHT sẽ giảm bớt thời
gian trên lớp, giúp học sinh tự giác học tập, nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng
được yêu cầu đổi mới công tác giáo dục hiện nay. Chính vì thế theo chúng tôi việc sử
dụng PHT là việc cần thiết đối với mỗi giáo viên.
Kiến thức chương I, phần di truyền học trong Sinh học 12 là kiến thức khó, là
trọng tâm của môn sinh học, việc HS tiếp thu kiến thức gặp một số trở ngại. Song
chương trình di truyền học đã được HS tiếp cận từ sớm, HS đã có những kiến thức nhất
định về nội dung của bài học. Vậy việc phát triển phương pháp tự học ở HS trong
chương I phần di truyền là việc làm cần thiết. Nếu chúng ta kết hợp linh hoạt giữa việc
sử dụng PHT để nâng cao khả năng tự học với các phương pháp dạy học tích cực khác
sẽ nâng cao được chất lượng quá trình dạy và học chương I - phần di truyền học. Mặt
khác, chương trình lớp 12 THPT mới cải cách, nội dung có nhiều đổi mới. Do vậy chưa
có hệ thống PHT đủ về số lượng và chất lượng phục vụ cho quá trình dạy học. Xuất
phát từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài:


5


“ Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học kiến thức chương I phần di
truyền học - Sinh học 12 THPT Nâng cao”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xây dựng bộ phiếu học tập đủ về số lượng và chất lượng phục vụ cho việc dạy học
chương I - phần di truyền học sinh học 12 THPT.
- Xây dựng quy trình sử dụng PHT trong dạy học nhằm năng cao khả nâng tự học
chương I - phần di truyền học Sinh học 12 THPT Nâng cao.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Học Sinh lớp 12 THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Bộ phiếu học tập và quy trình sử dụng phiếu học tập trong dạy học chương I phần di truyền học Sinh học 12 nâng cao THPT.
4. Giả thiết khoa học
Nếu xây dựng được bộ PHT phần DTH Sinh học 12 THPT và sử dụng hợp lý sẽ
nâng cao được chất lượng dạy học chương I, đặc biệt nâng cao được khả năng tự học
cho HS đối với phần kiến thức di truyền học nói riêng và môn Sinh học nói chung.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc xây dựng và sử dụng PHT trong quá trình dạy học
nói chung và hướng dẫn tự học nói riêng.
- Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức kĩ năng chương I, phần di truyền học.
- Thiết lập quy trình xây dựng PHT.
- Xây dựng bộ phiếu học tập chương I, phần di truyền học THPT 12 Nâng cao.
- Xây dựng quy trình sử dụng PHT để dạy tự học kiến thức chương I, phần di
truyền học Sinh học 12 THPT.
- Thực nghiệm xác định tính khả thi và hiệu quả của bộ phiếu học tập trong việc tổ
chức và truyền tải nội dung dạy học chương I - phần di truyền học.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

6


- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong
công tác giáo dục và các tài liệu, sách báo có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa lớp 12 THPT nâng cao.
- Nghiên cứu tài liệu lý luận về PHT, nguyên tắc, kĩ thuật thiết kế và sử dụng PHT.
6.2. Phương pháp chuyên gia
- Trao đổi với những nhà sư phạm, những người am hiểu sâu rộng về lĩnh vực
nghiên cứu, từ đó có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài.
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy học Sinh học 12 về bộ phiếu đã soạn làm cơ
sở chỉnh sữa và hoàn thiện bộ phiếu học tập.
6.3. Phương pháp điều tra cơ bản
- Tiềm hiểu việc sử dụng PHT của GV:
+ Kĩ năng soạn bài.
+ Kĩ năng thiết kế PHT.
+ Việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc biệt là việc sử dụng PHT.
- Tiềm hiểu việc lĩnh hội kiến thức của HS:
+ Ý thức học tập.
+ Chất lượng lĩnh hội kiến thức.
+ Các kỹ năng được rèn luyện trong học tập.
6.4. Phương pháp thực nghiệm Sư phạm
6.4.1. Thực nghiệm thăm dò
Sử dụng phiếu điều tra: Xây dựng phiếu điều tra tìm hiểu thực trạng sử dụng
phiếu học tập trong dạy học Sinh học 12 mới ở các phần đã học. Tổ chức điều tra và xử
lý kết quả điều tra.
6.3.2. Thực nghiệm chính thức
* Mục đích: Nhằm thu thập số liệu và xử lý bằng toán học thống kê, xác định chỉ tiêu
đo lường và đánh giá chất lượng bộ phiếu.
* Phương pháp thực nghiệm:
- Xây dựng hệ thống PHT chương I phần di truyền học - Sinh học 12.
- Thiết kế giáo án cho lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

7


- Tổ chức thực nghiệm tại trường THPT:
+ Chọn các trường thực nghiệm: Các trường thực nghiệm có đủ cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy – học.
+ Chọn GV thực nghiệm: GV dạy lớp TN cũng là GV dạy lớp ĐC.
+ Chọn lớp ĐC và lớp TN phù hợp với tiêu chí đặt ra.
+ Tiến hành thực nghiệm: Quá trình TN được tiến hành đầu học kì I năm học
2009 – 2010.
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi khảo sát chung cho cả lớp TN và lớp ĐC.
+ Phân tích, xử lý và thống kê số liệu thực nghiệm.
6.5. Phương pháp thống kê toán học
Tính các tham số đặc trưng:
+ Điểm trung bình X: Là tham số xác định gía trị trung bình của dãy số thống
kê, được tính theo công thức sau: X =
+ Sai số trung bình cộng: m =
+ Phương sai: S 2 =

10

1 10
∑ ni x i
n i =1
S
n
2

1
∑ ( xi − x ) .ni
n 1

+ Độ lệch tiêu chuẩn: Biểu thị mức độ phân tán của các số liệu quanh giá trị
trung bình cộng. S = S 2
S

+ Hệ số biến thiên: để so sánh hai tập hợp có x khác nhau: Cv % = .100
x
Trong đó:
Cv% = 0% - 10%: Độ giao động nhỏ, độ tin cậy cao
Cv% = 10% - 30%: Dao động trung bình
Cv% = 30% - 100%: Dao động lớn, độ tin cậy nhỏ
+ Độ tin cậy (Tđ): Kiểm định độ tin cậy về sự chênh lệch của 2 giá trị trung bình
cộng của TN và ĐC bằng đại lượng kiểm định td theo công thức:

8


Td =

Trong đó:

X TN − X DC
2
S TN
S2
+ DC
nTN n DC

S2TN: Phương sai của lớp TN
S2ĐC: Phương sai của lớp đối chứng
NTN: Số bài KT của lớp TN
NĐC: Số bài KT của lớp ĐC

Giá trị tới hạn của td là tα tra trong bảng phân phối student với α = 0.05 và bậc tự
do f = n1 + n2 - 2. Nếu |td| ≥ tα thì sự sai khác của các giá trị trung bình TN và ĐC là có
ý nghĩa.
Các số liệu điều tra cơ bản được xử lý thống kê toán học trên bảng Excel, tính
số lượng và % số bài đạt các loại điểm và tổng số bài có điểm 5 trở lên làm cơ sở định
lượng, đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức từ đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến
chất lượng học tập.
Các số liệu xác định chất lượng của lớp ĐC và TN được chi tiết hoá trong đáp án
bài kiểm tra và được chấm theo thang điểm 10.
7. Những đóng góp mới của đề tài
- Thiết lập quy trình xây dựng PHT.
- Xây dựng bộ PHT chương I, phần di truyền học Sinh học 12.
- Xây dựng quy trình sử dụng phiếu học tập để dạy tự học.
- Qua thực nghiệm xác định được giá trị của bộ PHT đã xây dựng.
8. Giới hạn đề tài
- Thiết lập quy trình xây dựng PHT.
- Xây dựng bộ PHT chương I - phần di truyền học Sinh học 12 (Nâng cao) THPT.
- Xây dựng quy trình sử dụng PHT trong các khâu của quá trình dạy tự học nhằm
nâng cao khả năng tự học của học sinh.

9


PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng PHT dạy tự học
I.1. Lược sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới thế giới liên quan đến đề tài
Sử dụng PHT để dạy tự học là một trong những phương pháp dạy học lấy học
sinh làm trung tâm. Trên thế giới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm có
mầm mống từ cuối thế kỉ XIX, được phát triển từ những năm 20, được phát triển mạnh
từ những năm 70 của thế kỉ XX [12].
Ở Pháp, vào những năm 1920 đã hình thành những “nhà trường mới”, đặt vấn
đề phát triển năng lực ở trẻ, khuyến khích các hoạt động do chính học sinh tự quản. Xu
hướng này đã có ảnh hưởng tới Hoa Kỳ và nhiều nước châu Âu. Luật định hướng giáo
dục 10 năm, ban hành năm 1989 đã khẳng định: Về nguyên tắc, mọi hoạt động giáo
dục điều phải lấy học sinh làm trung tâm. Bộ giáo dục Pháp năm 1981 đã khẳng định:
Cần kiên quyết đặt đứa trẻ vào trung tâm giáo dục và có sự thích ứng hơn nữa ở mỗi
trường hợp đặc biệt [2].
Ở Hoa Kỳ: Trong những năm 1960 đã vận dụng phương pháp dạy học theo
nhóm. Ý tưởng dạy học cá nhân hóa ra đời trong những năm 1970, đã được thử nghiệm
gần 200 trường: Giáo viên xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướng dẫn (PHT) để
học sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực [21].
Ở Hàn Quốc: Từ thập niên 90 tới đây: Giáo dục hướng vào giai đoạn hậu công
nghiệp. Để đáp ứng đòi hỏi mới đặt ra do sự bùng nổ kiến thức và sáng tạo kiến thức
mới cần phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và tính sáng tạo [21].
Ở Nhật Bản: Hội đồng quốc gia cải cách giáo dục đã đề ra 3 yêu cầu thiết yếu
của cải cách giáo dục là [1]:
1. Thực hiện việc chuyển sang hệ thống giáo dục suốt đời.
2. Chú trọng hơn nửa vai trò quan trọng của tính cách mỗi con người.
3. Làm cho giáo dục phù hợp hơn với những thay đổi của thời đại.
Dạy học lấy học sinh làm trung tâm đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu: Tư
tưởng nhấn mạnh vai tích cực chủ động của người học, xem người học là chủ thể của

10


quá trình học tập đã có từ lâu, ở thế kỉ XVII, A.Kômenski đã viết: “Giáo dục có mục
đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra
phương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn” [14].
X.L.Rubixtein (1946): Đã khẳng định rằng tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề
hay một câu hỏi từ sự ngạc nhiên hay thắc mắc từ một mâu thuẫn. Nên trong quá trình
dạy học phải đề ra một phương pháp sao cho học sinh hứng thú học tập.
Biaxinop (1967): Tác giả đã đề cập đến việc chím lĩnh tri thức bằng cách qua
các phương pháp và hình thức dạy học kích thích được sự hoạt động nhận thức tích
cực, sinh động của học sinh và đòi hỏi phải áp dụng duy trì nhận thức vào trong lao
động của họ [19].
M.A.Đialop và M.N.Xcantin (1980) đã nhận xét rằng: Nguyên tắc về tính tự
giác và tính tích cực của học sinh gắn bó với tính nguyên tắc về vai trò chỉ đạo của nhà
giáo dục và thể hiện tính chất mới mẽ của quá trình dạy học, trong đó tất cả công việc
của học sinh mang một tính chất tích cực và tự giác [19].
R.C Sharma (1988) viết: “Trong phương pháp dạy học HSTT, toàn bộ quá trình
dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, lợi ích của HS. Mục đích là phát triển ở HS
kĩ năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết các vấn đề… Vai trò của GV là tạo ra
những tình huống để phát triển vấn đề, giúp HS nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làm
sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận” [13].
Theo K.Barry và King (1993), đặt cơ sở cho HSTT là những công trình của
John Dewey (Experience and education, 1938) và Carl Rogers (Freedom to learn,
1986). Các tác giả này đề cao nhu cầu, lợi ích của người học, đề xuất việc để cho người
học lựa chọn nội dung học tập, được tự lực tìm tòi nghiên cứu. Theo hướng đó, bên
cạnh xu hướng truyền thống thiết kế chương trình giảng dạy lấy logic nội dung môn
học làm trung tâm đã xuất hiện xu hướng thiết kế chương trình học tập lấy nhu cầu, lợi
ích của người học làm trung tâm [13].
R.R.Singh (1991) cho rằng tư tưởng này đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người
học, hoạt động học. Người học được đặt ở vị trí trung tâm của hệ giáo dục, vừa là mục
đích lại vừa là chủ thể của quá trình học tập. Vì nhấn mạnh điều này, tác giả đề nghị

11


thay thuật ngữ “quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm”, “quá trình học tập do
người học điều khiển”. Tác giả đã viết: “Làm thế nào để cá thể hóa quá trình học tập để
cho tiềm năng của mỗi cá nhân được phát triển đầy đủ đang là một thách thức chủ yếu
đối với giáo dục” [13].
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trước yêu cầu thực tiễn đặt ra cho các ngành khoa học nói chung và giáo dục
nói riêng đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực hoá người học, với các
biện pháp tổ chức học sinh hoạt động tự lực, chủ động đã trở thành xu hướng của nhiều
quốc gia trên thế giới và khu vực.
Vào những năm 1960, nhiều nghiên cứu về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt
động học tập tự lực, chủ động, sáng tạo đã được đặt ra. Cũng thời điểm đó trong các
trường sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
Từ sau những năm 1970 trở đi, các nghiên cứu, về các biện pháp tổ chức học sinh hoạt
động học tập tự lực được quan tâm nghiên cứu đồng bộ cả về lý thuyết và thực hành.
Trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu: “Cải tiến phương pháp dạy và học nhằm
phát huy trí thông minh của học sinh” của tác giả Nguyễn Sỹ Tý (1971). “Kiểm tra
kiến thức bằng phiếu kiểm tra” của tác giả Lê Nhân (1974) [14].
Đặc biệt sau nghị quyết Trung Ương IV khoá VII (tháng 2-1993), Nghị quyết
TW II khoá VIII (tháng 12 - 1996). Và gần đây nhất là nghị quyết TW VI khoá IX
(tháng 4 - 2002) của Đảng về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực của học sinh trở thành vấn đề quan trọng cấp bách của ngành Giáo
dục trong giai đoạn hiện nay. Để tổ chức được các phương pháp dạy học tích cực đòi
hỏi phải có các phương tiện tham gia tổ chức như: Bài tập, bài tập tình huống, bài toán
nhận thức, câu hỏi trắc nghiệm, phiếu học tập [18].
Cùng với sự đổi mới về tư tưởng, quan điểm của Đảng, Nhà nước và của toàn
dân về Giáo dục, nhiều tác giả tâm huyết cũng có những nghiên cứu có giá trị về đổi
mới phương pháp Giáo dục – dạy học như:

12


GS.TS Trần Bá Hoành: Bản chất của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm (Kỷ
yếu hội thảo khoa học), đã có những đóng góp to lớn trong việc đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng hoạt động hóa người học [10].
GS.TS Đinh Quang Báo “ Phát triển hoạt động nhận thức HS trong các bài dạy
Sinh học ở trường phổ thông Việt Nam” , luận án phó tiến sĩ năm 1981, cho rằng: Vấn
đề cung cấp cho HS các biện pháp, kỹ năng để tự bổ sung kiến thức, nghĩa là biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, là dạy HS cách học... , rất cần thiết.
Lê Đình Trung: “ Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức để nâng cao hiệu
quả dạy học phần cơ sở vật chất và cơ chế di truyền trong chương trình Sinh học
THPT” – Luận án PTS 1994 [2].
Ngoài ra có thể kể tới một số tài liệu khác như:
- Lý luận dạy học sinh học đại cương - Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành.
- Vận dụng phương pháp tích cực vào dạy học sinh học 10 – Nguyễn An Ninh
(Luận văn thạc sĩ).
- Dạy - tự học của GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn.
- Tổ chức hoạt động học tập tự lực trong dạy học Sinh thái học lớp 11 THPTPhan Thị Bích Ngân (Luận văn thạc sĩ)...
Tuy nhiên, hầu hết các công trình đưa ra chỉ ở mức độ chung chung cho bộ môn
Sinh học mà chưa có công trình nào cụ thể về từng phương pháp sử dụng từng phương
tiện cho từng nội dung cụ thể. Các vấn đề đưa ra chỉ được đề cập trong các công trình
nghiên cứu lồng ghép với các phương tiện khác, nhất là sử dụng phiếu học tập để dạy
phần di truyền học Sinh học 12 - THPT.
Tuy nhiên, Cho tới nay PHT cũng đã có nhiều tác giã nghiên cứu. Có thể đề cập
tới một số tài liệu và công trình có đề cập đến vấn đề sử dụng PHT trong dạy học như:
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT chu kỳ III của GS.TS.Nguyễn
Thành Đạt [18].
Kĩ thuật dạy học sinh học của GS.Trần Bá Hoành [11].
Hà Nhật Thăng và Phạm Hồng Quang (1966) đã tiến hành nghiên cứu và thực
hành phương pháp này qua việc “sử dụng phiếu hoạt động học tập trong tổ chức tự học

13


cho học sinh dân tộc nội trú”. Tuy nhiên, lần đầu tiên nghiên cứu thực nghiệm với một
phương pháp mới cho học sinh dân tộc nội trú, tác giả cũng đã thu được một số kết quả
nhất định [2].
Luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung (1995) cũng đã nghiên cứu việc “dạy
học giải quyết vấn đề có sử dụng PHT” trong chương trình giải phẩu người ở lớp 9 và
tỏ ra có hiệu quả. Theo tác giả cốt lõi của phương pháp này là phương pháp nghiên cứa
“một phương pháp có giá trị trí, đức, dục lớn nhất, kĩ năng tìm tòi sáng chế và những
kiến thức vững chắc, phong phú cả về lí thuyết lẫn thực tiễn” [21].
Sử dụng phiếu hoạt động học tập trong dạy học chương 6 sinh học 7 - THCS
nhằm phát triển ở HS khả năng hệ thống hoá kiến thức. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Thi Thuỳ Linh (2004) [21].
Nguyễn Thị Thanh Chung (2006): Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy
học các khái niệm trong chương các quy luật di truyền Sinh học 11 – Luận văn thạc sĩ
Tóm lại: Việc sử dụng PHT trong qua trình dạy học đã được nhiều tác giả quan
tâm đúc kết trong các công trình nghiên cứu. Nhưng do chương trình có nhiều đổi mới,
giáo viên chưa cập nhật tốt nội dung, nên phương pháp “sử dụng PHT trong dạy học
sinh học” chưa được phổ biến trong quá trình giảng dạy.
Phần di truyền học thuộc chương trình lớp 12 mới cải cách và chính thức thực
hiện trong năm học 2008 – 2009 nên chưa có đề tài nghiên cứu về phương pháp sử
dụng PHT trong phần này. Chính vì thế vấn đề tác giả nghiên cứu là một vấn đề mới.
I.2. Cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học nói chung và
phần cơ sở di truyền học nói riêng
1.2.1. Khái niệm phiếu học tập
Phiếu học tập (PHT) hay còn gọi là phiếu hoạt động (activity sheet) hay phiếu
làm việc (work sheet )
PHT là những “tờ giấy rời”, in sẵn những công tác độc lập hoặc làm theo nhóm
nhỏ được phát cho từng học sinh tự lực hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết
học hoặc tự học ở nhà. Mỗi PHT có thể giao cho học sinh một hoặc vài nhiệm vụ nhận
thức cụ thể nhằm hướng tới kiến thức kỹ năng hay rèn luyện thao tác tư duy để giao

14


cho HS [7]. Hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ khoa học thì các nhiệm vụ
học tập không nhất thiết phải được ghi vào trong giấy mà giáo viên có thể sử dụng máy
chiếu hoặc máy vi tính để cung cấp những nhiệm vụ đó cho HS.
1.2.2. Cấu trúc phiếu học tập
Mỗi PHT có cấu trúc gồm các phần sau:
* Phần dẫn:
Là các chỉ dẫn của giáo viên quy định kiểu hoạt động, nội dung hoạt động hay
nguồn thông tin.
-Ví dụ 1: Đọc thông tin mục II.1 SGK trang 12, hoàn thành sơ đồ sau:
-Ví dụ 2: Qua những kiến thức đã học trong bài 2. Hãy kết nối thông tin hai cột
sao cho phù hợp.
Kiểu hoạt động là liên hệ, vận dụng kiến thức cũ, nghiên cứu kiến thức mới, so
sánh nội dung hoạt động, chú thích các quá trình.
Để đạt hiệu quả sử dụng PHT cao, đảm bảo thời gian thực hiện phần dẫn yêu
cầu ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, dẫn dắt học sinh đến các hoạt động cụ thể.
* Phần hoạt động:
Là phần chỉ những công việc, thao tác mà học sinh cần thực hiện, có thể là một
hoặc nhiều hoạt động.
Ví dụ: Đọc thông tin mục II trang 12 SGK Sinh học 12- nâng cao và hoàn
thành sơ đồ sau bằng cách điền tiếp vào dấu “….”.
Các thao tác, công việc học sinh cần thực hiện là:
-

Đọc thông tin mục II SGK nâng cao trang 12.

-

Quan sát sơ đồ trong PHT.

-

Tìm ý thích hợp.

-

Điền vào phiếu và hoàn thành PHT.

* Phần quy định thời gian thực hiện:
Hoàn thành PHT phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định tuỳ vào
khối lượng công việc mà thời gian có thể là 5 phút, 10 phút, dài hơn hoặc ngắn hơn.
Ngoài ra cũng cần căn cứ vào trình độ học sinh, thời gian tiết học.

15


Tuy nhiên phần này không bắt buộc phải để trong PHT, nó có thể được giáo
viên thông báo bằng lời trong quá trình phát phiếu.
* Phần đáp án:
Thường tách biệt với các phần trên được sử dụng để giáo viên chỉnh sửa, bổ
sung cho học sinh hay căn cứ đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho học sinh.
VD : Một PHT đầy đủ có cấu trúc như sau:
PHT số: …………..bài…….…….….…..
Họ và tên: ………………………….…...
Lớp: ……...Trường: ……………………
PHT: Vai trò các thành phần tham gia phiên mã.
Mục tiêu: Xác định được vai trò của các thành phần tham gia phiên mã.
Yêu cầu: Nghiên cứu SGK mục I (Cơ chế phiên mã). Hãy ghép hai cột với nhau cho
phù hợp.
Thời gian: 3 phút
Vấn đề
a. Mạch 3/- 5/ trên ADN
b. ARN polymeraza
c. Điểm khởi đầu
d. Nucleotit tự do
của môi trường
f. Chiều 5/- 3/
Đáp án: 1d,

2c,

Nội dung
1....Thành phần làm nguyên liệu cho phiên mã
2....Là vị trí bắt đầu quá trình phiên mã
3....Có vai trò kéo dài chuỗi theo chiều 5/- 3/
4....Là khuôn để tổng hợp ARN

Đ.án
1…..
2…..
3…..
4……

5.....Vị trí diễn ra quá trình phiên mã
6....Là chiều của quá trình phiên mã
3b,
4a,
6f.

5……
6……

1.2.3. Phân loại phiếu học tập
1.2.3.1. Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học
a. PHT dùng để hình thành kiến thức mới:
Trong quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu kiến thức mới GV có thể sử
dụng phiếu kết hợp với SGK, học sinh thảo luận sau đó đưa ra ý kiến thống nhất hoặc
trong một số phần kiến thức gần giống với phần đã học trước đó GV có thể cung cấp
PHT cho học sinh, học sinh tự nghiên cứu trên lớp hoặc về nhà vận dụng kiến thức đã
học để hoàn thành PHT theo quy định.

16


b. PHT dùng để củng cố, hoàn thiện kiến thức:
Sử dụng để truyền thụ kiến thức mới cho học sinh. Thông qua việc dẫn dắt học
sinh hoàn thành các yêu cầu trong PHT, học sinh đã lĩnh hội được lượng kiến thức nhất
định. Dạng này cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa giáo viên hướng dẫn và học sinh. PHT
này có vai trò rất lớn trong việc khắc sâu kiến thức, giúp học sinh hoàn thiện những
kiến thức vừa được lĩnh hội.
c. PHT dùng để kiểm tra, đánh giá:
Được dùng trong các bài kiểm tra 1 tiết, 15 phút, kiểm tra 1 kỳ, kiểm tra năm học.
Giúp học sinh khắc sâu, hệ thống hoá lại kiến thức, giúp giáo viên nắm bắt được tình hình
học tập của học sinh để điều chỉnh lại phương pháp dạy học cho phù hợp.
1.2.3.2. Căn cứ vào nguồn thông tin sử dụng để hoàn thành PHT
a. PHT khai thác kênh chữ
Thường dùng trong các khâu dạy bài mới, nội dung của phiếu dạng này đi kèm
với kênh “đọc thông tin” hay “nghiên cứu mục, bài…”. Kiến thức SGK phần lớn được
đề cập dưới dạng kênh chữ, do đó PHT dạng này có vai trò trong việc định hướng cho
học sinh cách đọc, cách thảo luận để từ đó HS tự chiếm lĩnh tri thức.
b. PHT khai thác kênh hình
Hệ thống tranh ảnh, hình vẽ được xem là một trong những phương tiện trực
quan của quá trình dạy học, có vai trò rất lớn trong việc truyền tải thông tin. Việc sử
dụng PHT khai thác kênh hình có vai trò lớn trong việc định hướng cho HS khai thác
nội dung hình vẽ, tranh ảnh. Đây được xem là dạng phiếu tích cực với học sinh, có thể
sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học giúp học sinh phát triển kỹ năng
quan sát, phân tích. Nguồn thông tin để hoàn thành PHT là kênh hình trong SGK, tranh
ảnh, phim tư liệu.
c. PHT khai thác cả kênh chữ và kênh hình
So với hai dạng trên thì dạng này phổ biến hơn nhiều bởi chương trình SGK
đổi mới có cả kênh chữ và kênh hình đi kèm với nhau. Dạng này yêu cầu học sinh vừa
đọc thông tin, vừa quan sát hình mới có thể hoàn thành PHT.

17


1.2.3.3. Căn cứ vào đặc điểm nội dung [7]
a. Loại phiếu hình thành kiến thức
* Dạng 1: Tìm ý phù hợp điền vào ô trống của bảng
Dạng PHT có ưu điểm rèn luyện cho học sinh biết đọc tóm tắt tìm ra ý chính.
Sau khi hoàn thành phiếu kiến thức được tóm tắt và hệ thống hóa. Dạng này thường
được sử dụng với những kiến thức được trình bày bằng kênh chữ trong SGK.
* Dạng 2: Tìm ý cơ bản và xác định quá trình phát triển của nội dung
Dạng PHT có vai trò lớn trong việc rèn luyện khả năng phát hiện kiến thức quan
trọng và tìm ra mối quan hệ giữa các kiến thức thành phần, chỉ ra sự phát triển của kiến
thức, và diễn đạt bằng hình vẽ nên chính xác hơn.
* Dạng 3: Tóm tắt và chỉ ra sự phát triển của ý thức
Dạng này giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa các thành phần trong một quan
hệ thống nhất, qua việc phát hiện từng thành phần kiến thức HS sẽ hiểu rõ hơn lượng
kiến thức mình lĩnh hội.
b. Loại phiếu phát triển năng lực nhận thức
* Dạng 1: Phiếu phát triển kĩ năng so sánh
So sánh là một trong những kĩ năng rất quan trọng vì qua việc so sánh học
sinh sẽ phân tích được những điểm giống và khác nhau giữa các sự vật hiện tượng, từ
đó học sinh có khả năng phân biệt được sự vật hiện tượng này với sự vật và hiện tượng
khác. PHT dạng này có ưu điểm lớn trong việc định hướng các dấu hiệu, các chỉ tiêu so
sánh, qua đó học sinh có cơ sở để đánh giá những điểm giống và khác nhau trong khi
so sánh.
* Dạng 2: Phiếu phát triển kĩ năng phân tích
Phân tích là một kĩ năng rất quan trọng, vì thông qua việc phân tích HS mới
hiểu sâu các vấn đề, nắm chắc vốn tri thức mà mình tiếp thu được, từ đó mới vận dụng
linh hoạt vào việc giải bài tập cũng như vận dụng kiến thức vào thực tế một cách hợp
lí. PHT dạng này định hướng cách tiếp nhận thông tin, bằng những kiến thức học sinh
có kết hợp với việc định hướng trong PHT các em tự hoàn thiện những kiến thức còn
lại.

18


* Dạng 3: Phiếu phát triển kĩ năng tổng hợp
Dạng PHT này giúp các em hệ thống lại những kiến thức đã học, nó có vai trò
quan trọng khi học xong một chương, một phần hoặc toàn bộ chương trình đã học.
Như vậy, việc phân loại PHT có thể hình dung qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Các loại PHT dùng trong dạy học

1.2.4. Yêu cầu phiếu học tập
* Quán triệt mục tiêu, nội dung bài học
Mục tiêu của bài học không chỉ là hoàn thành kiến thức, kĩ năng mà quan trọng
hơn là phải phát triển tư duy và vận dụng kiến thức. Do đó trong quá trình dạy học có
sử dụng PHT, giáo viên luôn bám sát mục tiêu bài học, không xa rời nội dung chính
của bài, tránh gây nhiễu cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức, tập trung vào
kiến thức của bài.

19


* Đảm bảo tính chính xác
Trong quá trình dạy học Sinh học nói chung việc sử dụng PHT là hết sức cần
thiết. Tuy nhiên khi hướng dẫn học sinh hoàn thành hãy lập các sơ đồ, bảng hay trả lời
câu hỏi có trong PHT phải luôn đảm bảo tính chính xác về kiến thức của bài học, tránh
việc xây dựng PHT có sơ đồ, hệ thống quá rườm rà, phức tạp. Việc sử dụng PHT, phù
hợp cả về trình độ nhận thức của học sinh, cả về thời gian và lôgic chung của chương
trình không gò bó, gượng ép.
* Đảm bảo nâng dần mức độ từ dễ đến khó
Trong quá trình dạy học sử dụng PHT cho học sinh, tuỳ vào trình độ, năng lực
cụ thể của học sinh mà giáo viên nâng dần yêu cầu và mức độ hệ thống hoá từ dễ đến
khó như sau: Giáo viên trình bày nội dung bằng ngôn ngữ hệ thống hoá (sơ đồ chữ),
bằng lời, bằng sơ đồ, bằng bảng.
1.2.5. Vai trò phiếu học tập
PHT có ưu thế cao hơn câu hỏi, bài tập ở chỗ khi muốn xác định một nội dung
kiến thức nào đó thỏa mãn nhiều tiêu chí hoặc xác định nội dung từ các tiêu chí khác
nhau, nếu diễn đạt bằng câu hỏi thì dài dòng, ta có thế bằng một bảng có nhiều tiêu chí
thuộc một cột, các hàng khác nhau. Học sinh căn cứ vào tiêu chí ở cột và hàng để tìm ý
điền vào ô trống cho phù hợp. Như vậy giá trị lớn nhất của PHT là với một nhiệm vụ
phứp tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn bằng một bảng gồm các hàng,
cột ghi rõ các tiêu chí cụ thể
Trong dạy học truyền thống, giáo viên là trung tâm hoạt động, trong một giờ
học hoạt động của giáo viên ciếm phần lớn, giáo viên trình bày giảng giải, làm thí
nghiệm, biểu diễn phân tích, tổng hợp minh họa... còn học sinh ngồi nghe ghi chép,
nhìn quan sát một cách thụ động, khi giáo viên nêu những câu hỏi thì học sinh thụ động
trả lời, nhưng chỉ có một vài học sinh được hoạt động vì thời gian có hạn, còn nhiều
học sinh khác ngồi nghe câu trả lời của các bạn, của giáo viên. Vì vậy không được hoạt
động không được rèn luyện kĩ năng hoạt động. Bằng việc sử dụng tích cực PHT,
chuyển hoạt động của giáo viên từ trình bày, giảng giải, thuyết minh sang hoạt động

20


hướng dẫn, chỉ đạo. Mọi học sinh được tham gia tích cực, không còn hiện tượng thụ
động nghe giảng. Cụ thể PHT có những vai trò sau:
1.2.5.1. Phiếu học tập là một phương tiện truyền tải nội dung dạy học
Trong quá trình dạy học PHT được sử dụng như một phương tiện để truyền tải kiến
thức, nội dung của phiếu chính là nội dung hoạt động học tập của học sinh. Thông qua
việc hoàn thành các yêu cầu nhất định trong phiếu một cách độc lập hay có sự trợ giúp
của giáo viên mà học sinh lĩnh hội được một lượng kiến thức tương ứng.
1.2.5.2. Phiếu học tập là một phương tiện hữu ích trong việc rèn luyện các kĩ năng cho
học sinh
Để hoàn thành được các yêu cầu do PHT đưa ra học sinh phải huy động hầu
như tất cả các kĩ năng hành động, thao tác tư duy: Quan sát, phân tích, tổng hợp, so
sánh, phán đoán, suy luận, khái quát hoá, cụ thể hoá, hệ thống hoá. Vì vậy sử dụng
PHT trong quá trình dạy học sẽ giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng
cơ bản.
1.2.5.3. Phiếu học tập phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện năng lực tự
học tự nghiên cứu cho học sinh
Trong quá trình tổ chức dạy học cho học sinh có thể sử dụng PHT giao cho mỗi
cá nhân hoặc nhóm học sinh hoàn thành, bắt buộc học sinh phải chủ động tìm tòi kiến
thức. Vì vậy, tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh được nâng lên.
Mặt khác mỗi PHT có thể dùng trong nhiều khâu của quá trình tự học như
nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập, củng cố, kiểm tra đánh giá ... dưới nhiều hình thức như
ở lớp hoặc ở nhà, có thể cần sự giúp đở của giáo viên hoặc không. Do vậy, PHT còn
phát huy được khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh.
1.2.5.4. Phiếu học tập là kế hoạch nhỏ để tổ chức dạy học
PHT thường được thiết kế dưới dạng bảng có nhiều cột, nhiều hàng thể hiện
nhiều tiêu chí. Vì vậy, ưu thế của PHT là khi muốn xác định một nội dung kiến thức,
thoả mãn nhiều tiêu chí hay xác định nhiều nội dung với các tiêu chí khác nhau. Với
PHT một nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn như

21


một kế hoạch nhỏ dưới dạng bảng hoặc sơ đồ. PHT có thể sử dụng trong tất cả các
khâu của quá trình dạy học.
1.2.5.5. PHT đảm bảo thông tin hai chiều giữa dạy và học, làm cơ sở cho việc uốn nắn,
chỉnh sửa những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của người học
Sử dụng PHT trong dạy học, giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá được động lực
học tập của học sinh thông qua kết quả hoàn thành PHT, thông qua báo cáo kết quả cá
nhân, thảo luận trong tập thể từ đó chỉnh sửa, uốn nắn những lệch lạc trong hoạt động
nhận thức của học sinh. Do đó, PHT đã trở thành phương tiện giao tiếp giữa thầy và
trò, giữa trò – trò . Đó là mối liên hệ thường xuyên, liên tục.
1.2.5.6. PHT là một biện pháp hữu hiệu trong việc hướng dẫn học sinh tự học
1.2.6. Dạy tự học bằng PHT
1.2.6.1. Khái niệm tự học
Ngày nay có nhiều tài liệu nói về tự học của HS, điều đó là tất yếu. Phương
pháp tự học có thể giúp người học thích ứng được những đòi hỏi khắt khe của cuộc
sống hiện đại. Nó phải là phương pháp học tập cơ bản và suốt đời của người học [30].
“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng các năng lực trí tuệ quan sát, so
sánh, phân tích, tổng hợp, có khi cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ thực hành) cùng các
phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, (như
trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, không ngại khổ, kiên trì, nhẫn
nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đổ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh
một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại thành sở hữu của mình” [25]. Để tự học
người học phải huy động hết mọi nguồn lực có trong tay và trong tầm tay (nội lực)
trước khi sử dụng khi sử dụng hỗ trợ từ người khác (ngoại lực).
Tự học là một quá trình tâm lí đặc trưng của con người, hoạt động tự học là hoạt
động tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của tác nhân
hướng tới những mục tiêu nhất định. Tự học không chỉ có ý nghĩa trong thời gian học
tập ở nhà trường, mà còn có ý nghĩa lớn trong cuộc đời mỗi con người [4].
1.2.6.2. Những khó khăn của HS khi tiến hành tự học

22


Một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của tự học là HS gặp nhiều
khó khăn khi sử dụng phương pháp này. Đó có thể là những khó khăn khách quan như
phải tự mình giải quyết việc học và những nguyên nhân chủ quan như thiếu tự tin, dễ
nản trí khi gặp bế tắc...Trong số khó khăn đó nổi lên là những hạn chế về kĩ năng tự
học. Có thể kể ra một số khó khăn thường thấy khi thiếu kĩ năng tự học [25].
- Sưu tầm và phân loại tài liệu học tập.
- Nghiên cứu tài liệu.
- Khắc phục khó khăn khi không có giáo viên trợ giúp.
- Tự kiểm soát và quản lí quá trình tự học.
- Đánh giá kết quả và hiệu quả tự học....
1.2.6.3. Vai trò của phương pháp tự học
Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học,
biết ứng dụng những điều tự học vào những tình huống mới, biết phát hiện và giải
quyết những vấn đề đặt ra sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có cho
mỗi người. Làm được như vậy kết quả học tập sẽ nâng lên gấp bội, HS sẽ có thể tiếp
tục tự học khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống trong xã hội. Vì những lẽ đó,
ngày nay trong quá trình dạy học, người ta nhấn mạnh hoạt động học, tạo sự chuyển
biến từ học thụ động sang tự học chủ động.
1.2.6.4. Vai trò PHT nhằm nâng cao khả năng tự học cho HS THPT
Đối với hoạt động tự học PHT là một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ học sinh
trong việc tự lực chiếm lĩnh tri thức. Nó có tác dụng định hướng cho học sinh cần nắm
bắt nội dung phần này như thế nào? Nội dung nào là nội dung trọng tâm? Với vai trò
đó nó đã giúp đỡ người thầy rất nhiều trong hoạt động dạy học. Làm cho chất lượng
dạy học ngày càng được nâng cao nhất là trong xu thế hiện nay việc tự học trở nên rất
quan trọng.
Việc sử dụng PHT để phát triển biện pháp tự học cho HS đó là quá trình mà GV
sử dụng các dạng PHT, hướng dẫn, định hướng cho học sinh cách nghiên cứu tài liệu,
lĩnh hội kiến thức. Thông qua hệ thống các dạng PHT khác nhau GV giúp HS tiếp cận
với hệ thống tri thức, biết cách tự nghiên cứu tài liệu, xử lý thông tin, từ đó hình thành

23


tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng linh hoạt những tri thức đã học vào các tình huống
khác nhau. Qua đó giúp các em có thể học suốt đời.
Như vậy việc sử dụng PHT để dạy tự học cho học sinh có ý nghĩa thiết yếu
trong dạy học hiện đại bởi một số lí do sau đây:
Thứ nhất: Phát triển khả năng tư duy sáng tạo của học sinh.
Thứ hai: Tăng cường động cơ học tập.
Thứ ba: Tạo điều kiện để học sinh thể hiện cảm xúc và phát triển các kĩ năng
tự biểu hiện.
Vai trò của PHT trong dạy tự học được cụ thể hóa qua sơ đồ sau:
“Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn
học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng HS phương pháp tự học,
khả năng hợp tác; rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.

DAY TỰ HỌC
* Chuyển quá trình đào tạo thành quá
trình tự đào tạo
* Rèn luyện cho người học có được kĩ
năng, phương pháp, thói quen tự học

MỤC
ĐÍCH
PHƯƠN
G
PHÁP

NỘI
DUNG

SỬ DỤNG
PHT

PHƯƠNG
TIỆN

KIỂM TRA
ĐÁNH GIÁ

HƯỚNG DẪN

HÌNH THỨC
TỔ CHỨC

Tự nghiên
cứu

TRỌNG TÀI
CỐ VẤN

CHU KÌ DẠY CỦA GV

Tự kiểm tra
Tự đánh giá

Tự thể
hiện

TỔ CHỨC

CHU KÌ HỌC CỦA HS

1.2.7. Khả năng xây dựng phiếu học tập để dạy học chương I, phần Di truyền học
Sinh học 12 THPT Nâng cao

24


Trong dạy học người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau,
mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng. Tuy nhiên, để phát huy tính tích
cực, chủ động sáng tạo của người học, đòi hỏi GV phải biết lựa chọn phương pháp cho
phù hợp với từng đối tượng HS cũng như tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể. Phương
pháp sử dụng PHT là một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, phương pháp
này ngoài việc phát huy tính tích cực của học sinh, nó còn đảm bảo mối quan hệ mật
thiết giữa lý luận dạy học và thực tiễn, đảm bảo tính thống nhất giữa trực quan và trừu
tượng.
Học sinh lớp 12 thuộc lứa tuổi từ 17 – 18 đã nhận thức được tầm quan trọng
của việc học tập, các em biết chuẩn bị cho mình một vốn kiến thức thật vững chắc,
trước mắt đó là đối mặt với hai kỳ thi lớn là thi tốt nghiệp và thi đại học sau đó là bước
vào đời với hành trang kiến thức vững chắc để sống tốt hơn, có kiến thức vận dụng vào
thực tế. Vì thế muốn kích thích lòng ham học tập của học sinh, khơi dậy ở các em niềm
vui trong học tập không còn cách nào khác là người giáo viên phải vận dụng một cách
linh hoạt các phương pháp học tập tích cực, trong đó sử dụng PHT là một phương pháp
trong các phương pháp đó. Bản chất của quá trình dạy học là sự hình thành phản xạ có
điều kiện, bằng việc đưa ra những tình huống có vấn đề, nếu HS giải quyết được các
tình huống đó các em sẽ thấy sung sướng, sảng khoái. Do vậy thông qua việc sử dụng
PHT sẽ phát huy hết tiềm năng ở các em.
Xét trên cơ sở triết học, mọi sự vật và hiện tượng điều tồn tại trong hai mặt đối
lập vừa thống nhất, vừa đấu tranh. Chính vì vậy trong quá trình dạy học người GV phải
đặt ra những mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có
vấn đề, phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của các em trong việc giải quyết vấn
đề. Nên việc sử dụng PHT có tác dụng tích cực là dạy cho học sinh năng lực tự học,
sáng tạo.
Chương trình di truyền học nói chung, cơ chế di truyền và biến dị nói riêng đã
được đề cập trong chương trình sinh học THCS. Đặc biệt lên đến lớp 9, học sinh được
nghiên cứu tương đối bài bản về sự di truyền và biến dị. Ở chương trình lớp 9 đã đề
cập tới các vấn đề của sự di truyền và biến dị như:

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×