Tải bản đầy đủ

Các công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư tt

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THU HIỀN

CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH SÁCH
THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG
CỦA DÂN CƯ
PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ VẬN TÀI THỦY-BỘ
NỘI ĐỊA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 9.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2019


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Tập thể hướng dẫn khoa học:
1. TS. Vũ Quốc Huy
2. PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng

Phản biện 1: GS.TS. Ngô Thắng Lợi
Phản biện 2: PGS.TS. Vũ Thanh Sơn
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Trọng Xuân

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
tại: Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi

giờ, ngày tháng

năm 2019

Có thể tìm hiểu luận án tại: - Thư viện Quốc gia
-Thư viện Học viện Khoa học xã hội


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, phát triển bền vững vừa là xu thế tất yếu vừa là
mục tiêu hướng tới của tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam. Để đảm bảo sự phát triển bền vững đòi hỏi cần phát triển
bền vững ở tất cả các lĩnh vực trong đó tiêu dùng là một trong những
lĩnh vực nòng cốt. Để thúc đẩy tiêu dùng bền vững đòi hỏi có sự
đóng góp của tất cả các chủ thể trong xã hội trong đó tiêu dùng của
dân cư đóng vai trò rất quan trọng.
Mục tiêu phát triển bền vững được thế giới quan tâm trong
thời gian gần đây. Chương trình phát triển bền vững của LHP đến
năm 2030 (SDG) cũng đề ra mục tiêu số 12 về đảm bảo sản xuất và
tiêu dùng bền vững. Như vậy, thúc đẩy tiêu dùng bền vững là quan
trọng và cần thiết trong chiến lược phát triển bền vững chung của
nhân loại. Quyết định số 76/QĐ-TTg ngày 11/1/2016 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất
và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đề ra
mục tiêu về thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng nâng
cao hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng; tăng
cường sử dụng các nguyên vật liệu, năng lượng tái tạo, sản phẩm
thân thiện môi trường; giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải.
Ở Việt Nam hiện nay, việc tiêu dùng trong dân cư có nhiều
thay đổi đáng kể. Có thể thấy hầu như những nhu cầu của người tiêu
dùng về ăn, mặc, giao thông, giáo dục, y tế và giải trí vui chơi đã
phần nào được đáp ứng. Tuy nhiên nhiều xu hướng tiêu cực trong
tiêu dùng đang bộc lộ và làm ảnh hưởng trực tiếp đến các thế hệ kế


2
tiếp. Tiêu dùng của dân cư vẫn nặng thói quen truyền thống, trong đó
có việc sử dụng nguyên liệu thô chưa qua chế biến, sử dụng nhiều
hàng hóa chất lượng thấp không có lợi cho sức khỏe con người và
chưa tiết kiệm tài nguyên. Bên cạnh đó, xu hướng tiêu dùng phô
trương, lãng phí của một số tầng lớp dân cư lại không tương xứng với
mức sống còn thấp và khả năng thu nhập của người dân. Một số loại
hàng hóa khi sản xuất và sử dụng dù gây ảnh hưởng xấu đến sức
khỏe con người và ô nhiễm môi trường nhưng vẫn được sử dụng rộng
rãi và khó hạn chế. Trong khi đó một số hàng hóa được sản xuất để
thay thế các mặt hàng không thân thiện với môi trường thì chưa được
người tiêu dùng quan tâm.
Để thúc đẩy tiêu dùng dân cư theo hướng bền vững, thân
thiện với môi trường và đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong các thế hệ
thì việc sử dụng các công cụ chính sách để điều tiết và định hướng là
rất cần thiết và đã được áp dụng ở Việt Nam trong thời gian vừa qua,
đặc biệt công cụ kinh tế thường được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường. Tuy nhiên hiệu quả của nó đem lại chưa được như mong
đợi, mặt khác, hiện chưa có một nghiên cứu nào cụ thể và tổng hợp
về các công cụ chính sách ảnh hưởng đến tiêu dùng bền vững của dân
cư. Vì thế, nghiên cứu các công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy
tiêu dùng bền vững trong dân cư là cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ
đưa ra cách nhìn tổng thể về vai trò các công cụ kinh tế trong chính
sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững cũng như những định hướng chính
sách và quy trình triển khai các công cụ chính sách trong thực tế, từ
đó đưa ra được hàm ý chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của
dân cư tại Việt Nam.


3
Xuất phát từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn
thực hiện đề tài “Các công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu
dùng bền vững của dân cư”. Với nghiên cứu này, công cụ kinh tế sẽ
được xem xét bên cạnh các công cụ chính sách khác như công cụ hành
chính, công cụ truyền thông để làm rõ được điểm mạnh điểm yếu của
các loại công cụ chính sách. Từ đó có căn cứ cho việc đề ra các giải
pháp trong việc sử dụng chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của
dân cư. Cùng với việc nghiên cứu các công cụ kinh tế trong chính sách
thúc đẩy tiêu dùng bền vững nói chung, luận án sẽ tập trung nghiên
cứu hai trường hợp cụ thể về chính sách hạn chế sử dụng túi ni lông và
chính sách khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5.
Túi ni lông và xăng E5 được lựa chọn là hai sản phẩm mục
tiêu nghiên cứu vì có liên quan trực tiếp tới những thách thức môi
trường. Các vấn đề ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm trắng và
ô nhiễm do khói bụi giao thông thường phát triển trên diện rộng với
tốc độ nhanh ở các thành phố, đô thị lớn. Túi ni lông và xăng E5 là
hai loại hàng hóa tiêu dùng trong dân cư nhưng có những đặc tính
trái ngược nhau trên phương diện bảo vệ môi trường. Chính vì vậy,
để bảo vệ môi trường hướng đến hành vi tiêu dùng bền vững, Nhà
nước đã thực hiện nhiều chương trình hành động, sử dụng nhiều công
cụ chính sách cụ thể để hạn chế sử dụng túi ni lông cũng như khuyến
khích sử dụng xăng E5. Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện các
chính sách này kết quả đạt được còn rất hạn chế, tình trạng sử dụng
túi ni lông vẫn rất phổ biến, còn xăng E5 vẫn chưa được người tiêu
dùng tin tưởng lựa chọn. Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng và
nguyên nhân cho những hạn chế đó và tìm ra giải pháp hợp lý hơn
cho thời gian tới.


4
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chung:
Trên cơ sở phân tích các công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng
bền vững, luận án làm rõ thực trạng và vai trò các công cụ kinh tế
trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư thông qua 2
trường hợp nghiên cứu về hạn chế sử dụng túi ni lông và khuyến
khích sử dụng xăng sinh học E5.
Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong chính sách
thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư.
- Phân tích thực trạng sử dụng các công cụ chính sách trong
việc phát triển tiêu dùng bền vững của dân cư thông qua hai trường
hợp nghiên cứu chính sách hạn chế sử dụng túi ni lông và chính sách
khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5.
- Đưa ra khuyến nghị giải pháp trong việc sử dụng công cụ
chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư ở Việt Nam và
khuyến nghị chính sách cụ thể đối với 2 trường hợp nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các công cụ kinh tế trong chính sách tiêu
dùng bền vững dân cư. Chính vì vậy, công cụ kinh tế sẽ được xem
xét trong tổng thể các công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền
vững bao gồm: công cụ kinh tế, công cụ hành chính và công cụ
truyền thông.

3.2. Phạm vi nghiên cứu


5
* Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn năm
2010 đến 2018
* Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại Việt Nam và trường
hợp cụ thể ở Thành phố Hà Nội
* Phạm vi nội dung nghiên cứu: Trên cơ sở tìm hiểu các vấn
đề về chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững, đề tài tìm hiểu một số
công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư, trong đó
tập trung nghiên cứu về công cụ kinh tế. Các công cụ hành chính và
truyền thông cũng sẽ được đề cập đến trong luận án nhằm so sánh đối
chiếu với công cụ kinh tế để làm rõ điểm mạnh điểm yếu của mỗi
loại công cụ trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững dân cư.
Cụ thể bao gồm:
- Nghiên cứu tổng quan các công cụ kinh tế thúc đẩy tiêu
dùng bền vững đã được sử dụng ở các nước trên thế giới.
- Tìm hiểu, phân tích các công cụ kinh tế thúc đẩy tiêu dùng
bền vững thông qua nghiên cứu hai trường hợp: hạn chế sử dụng túi
ni lông và khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5.
- Nghiên cứu tập trung phân tích tích chính sách hướng đến
tiêu dùng bền vững từ phía cầu. Các vấn đề liên quan đến phía cung
cũng sẽ được đề cập đến như căn cứ để đưa ra các hàm ý chính sách.
- Nội dung tiêu dùng bền vững sẽ được xem xét chủ yếu từ
khía cạnh bảo vệ môi trường.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu bàn giấy, tổng quan tài liệu
Tác giả thu thập, tổng hợp, đánh giá và phân tích các tài liệu
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu từ các nguồn:


6
- Các đề tài đã được thực hiện trong các nghiên cứu sơ cấp,
nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu phát triển có liên quan đến các nội
dung đề tài.
- Các thư viện trong Viện Hàn lâm Khoa học xã hội như:
Viện Nghiên cứu Phát triển bền vững Vùng, Viện Thông tin Khoa học
xã hội, Viện Kinh tế Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội, ….
- Các nghiên cứu, bài tạp chí trong và ngoài nước thông qua
các trang mạng, website trong và ngoài nước.
- Các tài liệu và số liệu thứ cấp được thu thập bởi các Bộ, ban,
ngành có liên quan.
- Các văn bản chính sách của nhà nước liên quan đến vấn đề
chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững, chính sách hạn chế sử dụng
túi ni lông, chính sách khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học,
xăng sinh học E5.
Phương pháp phân tích hệ thống, thống kê, so sánh
Từ các cách tiếp cận nghiên cứu, tác giả sử dụng phương
pháp phân tích hệ thống, thống kê có sự phân tổ so sánh để đánh giá
hiệu quả các chính sách tác động đến việc thúc đẩy hành vi tiêu dùng
bền vững. Phương pháp này sẽ được sử dụng để phân tích tìm ra các
ưu điểm và hạn chế của các chính sách từ đó, đưa ra các đề xuất giải
pháp cho việc nâng cao hiệu quả các chính sách nhằm hướng tới mục
tiêu thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Phương pháp phân tích chính sách:
Để nghiên cứu các công cụ chính sách thì phương pháp phân
tích chính sách là cần thiết. Các chính sách sẽ được nghiên cứu và phân
tích theo 3 loại công cụ để thực hiện chính sách là công cụ hành chính,
công cụ kinh tế và công cụ truyền thông. Bên cạnh đó chính sách hạn


7
chế sử dụng túi ni lông hay chính sách khuyến khích sử dụng xăng sinh
học E5 cũng sẽ được phân tích để làm rõ được những điểm mạnh điểm
yếu của từng chính sách từ đó đưa ra các hàm ý chính sách phù hợp
hơn.
Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
* Đối tượng khảo sát
Tác giả tiến hành khảo sát các đối tượng liên quan về vấn đề
hạn chế tiêu dùng túi ni lông và khuyến khích sử dụng xăng E5 gồm:
+ Đối với vấn đề hạn chế sử dụng túi ni lông: khảo sát
người tiêu dùng về thực trạng sử dụng, nhận thức về tác hại của túi
ni lông và quan điểm về các giải pháp hạn chế sử dụng túi ni lông,
từ đó đưa ra các giải pháp công cụ chính sách hợp lý hơn cho thời
gian tới
+ Đối với vấn đề khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5:
khảo sát người tiêu dùng về thực trạng sử dụng xăng, nhận thức về
xăng sinh học E5 và ý kiến về chính sách khuyến khích sử dụng xăng
E5 nhằm đưa ra các giải pháp sử dụng công cụ chính sách hiệu quả
hơn trong thời gian tới.
* Địa bàn khảo sát:
Nghiên cứu lựa chọn Hà Nội là địa bàn để điều tra khảo sát.
Hà Nội là thành phố lớn của cả nước, là nơi tập trung đông dân cư và
là thủ đô của nước ta. Chính vì vậy, đối với các chính sách mới ban
hành thì người dân Hà Nội có cơ hội để tiếp cận và thực hiện sớm
hơn. Ngoài ra, với thành phố đông dân cư thì các hành vi hướng tới
tiêu dùng bền vững như hạn chế sử dụng túi ni lông hay tăng cường
sử dụng xăng sinh học E5 sẽ có ý nghĩa hơn về mặt thống kê.
* Phương pháp chọn mẫu:


8
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên giản
đơn. Các đối tượng được lựa chọn phỏng vấn ngẫu nhiên tại các cây
xăng (đối với trường hợp xăng E5) và các chợ, siêu thị, khu dân cư
(đối với trường hợp túi ni lông) trên địa bàn 4 quận của Hà Nội gồm:
Tây Hồ, Ba Đình, Cầu Giấy và Hà Đông.
Mẫu khảo sát: 100 bảng hỏi về vấn đề túi ni lông và 100
bảng hỏi về xăng sinh học E5.
Kết quả khảo sát sẽ được xử lý thông qua phần mền SPSS và
STATA.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đưa ra cơ sở khoa học về việc sử dụng các công cụ
kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững bao gồm: khái
niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng dân cư, tác động của các
công cụ kinh tế đến tiêu dùng dân cư, kinh nghiệm một số nước trên
thế giới về sử dụng công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu
dùng bền vững. Luận án cũng đã phân tích thực trạng và vai trò của
các công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của
dân cư ở nước ta thông qua 2 trường hợp nghiên cứu về hạn chế sử
dụng túi ni lông và khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5. Trên cơ
sở đó luận án đề ra một số quan điểm giải pháp cho việc nâng cao
hiệu quả sử dụng công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng
bền vững nói chung và các giải pháp cụ thể đối với 2 trường hợp
nghiên cứu về hạn chế sử dụng túi ni lông và khuyến khích sử dụng
xăng sinh học E5 ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án


9
- Về lý luận: Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về việc sử dụng
các công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư trong
đó đặc biệt nhấn mạnh đến công cụ kinh tế.
- Về thực tiễn: Đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm hạn chế
sử dụng túi ni lông và xăng sinh học E5 ở nước ta thông qua những
số liệu cụ thể từ điều tra khảo sát dân cư. Các gợi ý chính sách này sẽ
có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, trang bìa và phụ
bìa, danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt, danh mục bảng hình, tài liệu
tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành bốn chương như
sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở khoa học về công cụ kinh tế trong chính
sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư
Chương 3: Thực trạng các công cụ kinh tế trong chính sách
thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư
Chương 4: Quan điểm, giải pháp về công cụ kinh tế trong
chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tiêu dùng bền vững là một trong những mục tiêu để hướng
đến sự phát triển bền vững. Chính vì vậy việc sử dụng các công cụ
chính sách để thúc đẩy tiêu dùng bền vững là quan trọng và cần thiết
trong bối cảnh hiện nay. Trong các chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền
vững, công cụ kinh tế là một trong những công cụ quan trọng để thực


10
hiện chính sách. Nghiên cứu các công trình, bài viết liên quan đến
nội dung này có một số vấn đề như sau:
1.1. Tiêu dùng và tiêu dùng bền vững
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng dân cư
1.3. Công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững dân cư
1.4. Khoảng trống nghiên cứu và các vấn đề luận án tập trung
giải quyết
Các công cụ chính sách điều tiết tiêu dùng bền vững ở Việt Nam
đã được áp dụng trong thời gian vừa qua, tuy nhiên hiện chưa có một
nghiên cứu nào cụ thể và tổng hợp về các công cụ chính sách ảnh
hưởng đến tiêu dùng bền vững của dân cư. Các công cụ kinh tế cũng
đã được sử dụng trong các chính sách bảo vệ môi trường nhưng các
nghiên cứu về vấn đề này còn ít được đề cập đến. Nghiên cứu này sẽ
đưa ra cách nhìn tổng thể về vai trò các công cụ chính sách thúc đẩy
tiêu dùng bền vững đặc biệt là việc sử dụng công cụ kinh tế trong
chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững đối với hai trường hợp hạn
chế sử dụng túi ni lông và khuyến khích sử dụng xăng E5 để từ đó
đưa ra được hàm ý chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của dân
cư tại Việt Nam.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG CHÍNH
SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG DÂN CƯ
2.1. Cơ sở lý luận về chính sách
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.2. Mục tiêu, vai trò của chính sách
2.2. Cơ sở lý luận về tiêu dùng bền vững của dân cư


11
2.2.1. Khái niệm về tiêu dùng và tiêu dùng bền vững
Khái niệm tiêu dùng bền vững được các nước trên thế giới
nhắc đến từ những năm 90. Hội thảo Oslo năm 1994 đưa ra khái
niệm về tiêu dùng bền vững “việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ đáp
ứng nhu cầu cơ bản của con người và mang lại chất lượng cuộc sống
tốt hơn, đồng thời giảm thiểu việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên,
giảm thiểu phát thải ô nhiễm và các chất độc hại trong vòng đời sản
phẩm, từ đó không làm ảnh hưởng đến nhu cầu thiết yếu của thế hệ
tương lai”. Như vậy tiêu dùng bền vững là thuật ngữ bao gồm một số
vấn đề chính như đáp ứng nhu cầu, nâng cao chất lượng cuộc sống,
nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm môi
trường.
Có nhiều khái niệm về tiêu dùng bền vững nhưng hầu hết các
khái niệm đều có sự thống nhất là dựa trên nền tảng khái niệm tiêu
dùng bền vững tại Hội thảo Oslo năm 1994, đó là tiêu dùng đáp ứng
được nhu cầu của con người ở các thế hệ, đảm bảo sự bình đẳng giữa
tất cả mọi người trong điều kiện sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên và giảm gây ô nhiễm môi trường. Luận án này chỉ tập trung
vào khía cạnh bảo vệ môi trường trong tiêu dùng bền vững. Chính vì
vậy việc hạn hế sử dụng túi ni lông hay khuyến khích sử dụng xăng
E5 là những hoạt động hướng tới bảo vệ môi trường sẽ được lựa chọn
là đối tượng khảo sát mục tiêu cho nghiên cứu này.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng dân cư
Người tiêu dùng luôn có mục tiêu tối đa hóa độ thỏa dụng
của mình vì vậy sẽ có xu hướng lựa chọn những hàng hóa để tối đa
hóa lợi ích cho bản thân. Theo cách tiếp cận kinh tế học vi mô, các
yếu tố quyết định đến sự lựa chọn của người tiêu dùng bao gồm thu


12
nhập, giá cả các hàng hóa, sở thích của người tiêu dùng. Khi những
yếu tố này thay đổi, đương nhiên, điểm lựa chọn của người tiêu dùng
sẽ thay đổi.
2.2.3. Các yếu tố thúc đẩy tiêu dùng bền vững
Tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm
yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Các yếu tố chủ quan là những
yếu tố thuộc về chủ thể người tiêu dùng như bản thân người tiêu
dùng, yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tác động lên đối
tượng tiêu dùng như nhà sản xuất, thị trường hay chính sách... Để
thúc đẩy tiêu dùng bền vững cần có sự phối hợp thực hiện đồng bộ từ
tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng
2.3. Công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền
vững dân cư
2.3.1. Phân loại công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững của
dân cư
Có nhiều cách phân loại các công cụ chính sách thúc đẩy
tiêu dùng bền vững. Việc sử dụng cách phân loại như thế nào phụ
thuộc vào cách tiếp cận và đối tượng tác động của từng chính sách.
Tuy nhiên, có thể tổng hợp các công cụ chính sách thành 3 nhóm
chính như sau:
- Công cụ pháp luật, hành chính: bao gồm các văn bản về
luật và văn bản dưới luật (quy định, nghị định, giấy phép, tiêu
chuẩn....)
- Công cụ kinh tế: hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường
được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động
của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng
đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho xã hội.


13
Công cụ kinh tế bao gồm: thuế, phí, giấy phép, hệ thống đặt cọc hoàn
trả, trợ cấp
- Công cụ giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi: thông
qua việc tuyên truyền vận động, cung cấp thông tin hoàn hảo tới
người tiêu dùng để họ đi từ nhận thức đúng đến chủ động trong việc
lựa chọn hành vi thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Nghiên cứu này sẽ sử dụng cách phân loại công cụ chính
sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững gồm: công cụ kinh tế, công cụ hành
chính và công cụ truyền thông, trong đó tập trung phân tích chủ yếu
vào công cụ kinh tế. Bên cạnh đó, các công cụ hành chính và truyền
thông cũng sẽ được đề cập đến bởi sự thành công của một chính sách
cần phải có sự kết hợp giữa nhiều công cụ.
2.3.2. Tác động của công cụ kinh tế đến tiêu dùng bền vững
Công cụ kinh tế sẽ điều chỉnh hành vi tiêu dùng thông qua
điều tiết giá cả của hàng hóa và thu nhập của người tiêu dùng. Các
công cụ kinh tế như thuế, phí sẽ đẩy giá cả hàng hóa tăng lên và thuế,
phí cũng làm thu nhập tương đối của người tiêu dùng giảm xuống, từ
đó họ sẽ có những lựa chọn cho quyết định mua sắm sao cho phù hợp
với điều kiện của mình.
Tiêu dùng

Giá cả (tương đối)

Thu nhập

Cung (sản xuất,
thươngmại,
XNK)

Công cụ kinh tế

Sở thích
Các yếu tố nhân
khẩu học, xã hội,
văn hóa, ...

Công cụ hành
chính/luật pháp

Công cụ giáo
dục, truyền thông


14

Khung phân tích công cụ chính sách tác động đến tiêu dùng
2.4. Kinh nghiệm áp dụng công cụ kinh tế trong chính sách thúc
đẩy tiêu dùng bền vững
2.4.1. Kinh nghiệm của Pháp
2.4.2. Kinh nghiệm của Canada
2.4.3. Kinh nghiệm của Hà Lan
2.4.4. Kinh nghiệm của Anh
2.5. Cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong chính sách hạn chế sử
dụng túi ni lông và khuyến khích sử dụng xăng E5
2.5.1. Cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong chính sách hạn chế sử
dụng túi ni lông
2.5.2. Cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong chính sách khuyến khích
sử dụng xăng E5
Chương 3: THỰC TRẠNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG
CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG DÂN CƯ
Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với các vấn đề ô nhiễm
môi trường gây ra do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước đặc biệt là các vấn đề về ô nhiễm khói bụi do xe cộ tham gia
giao thông và ô nhiễm trắng - ô nhiễm do sử dụng tràn lan túi ni lông
khó phân hủy đang ngày càng trầm trọng và trở thành thảm họa môi
trường quốc gia. Chính phủ đã và đang áp dụng nhiều các biện pháp,


15
công cụ chính sách khác nhau nhằm thay đổi hành vi tiêu dùng của
người dân, hướng đến tiêu dùng bền vững, bảo vệ môi trường.
Để nghiên cứu và hiểu rõ thực trạng các công cụ kinh tế
trong chính sách thúc đẩy tiêu dùng dân cư bền vững, chương này sẽ
tập trung nghiên cứu hai trường hợp (1) hạn chế sử dụng túi ni lông
và (2) khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5. Việc hạn chế sử dụng
túi ni lông và khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5 được xem là
hành vi thúc đẩy tiêu dùng bền vững, chính vì vậy cần có sự tác động
từ các chính sách của cơ quan quản lý. Công cụ kinh tế sẽ được xem
xét phân tích trong tổng thể các công cụ chính sách thúc đẩy tiêu
dùng bền vững bao gồm: công cụ hành chính, công cụ kinh tế và
công cụ truyền thông.
3.1. Chính sách hạn chế sử dụng túi ni lông
3.1.1. Thực trạng và các công cụ kinh tế trong chính sách hạn chế sử
dụng túi ni lông ở Việt Nam
3.1.2. Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội
Việc sử dụng túi ni lông vẫn rất phổ biến hiện nay và có dấu
hiệu tăng dần theo thời gian. Phần lớn người tiêu dùng đều nhận thức
được tác hại của túi ni lông đối với sức khỏe và môi trường, tuy
nhiên từ nhận thức đến thay đổi hành vi còn khoảng cách khá xa.
Công cụ kinh tế hạn chế sử dụng túi ni lông chưa mang lại
hiệu quả bởi mức thuế áp dụng chưa phù hợp. Công cụ kinh tế cần
được kết hợp với các công cụ chính sách khác để hạn chế sử dụng túi
ni lông, đặc biệt là công cụ truyền thông. Bên cạnh đó cần có loại túi
có thể thay thế túi ni lông để người tiêu dùng lựa chọn.
3.2. Chính sách khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5


16
3.2.1. Thực trạng và chính sách khuyến khích sử dụng xăng sinh học
E5 ở Việt Nam
3.2.2. Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội
3.2.3. Mô hình hồi quy đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
của người tiêu dùng về việc sử dụng xăng E5
3.2.4. Đánh giá chính sách đối với xăng sinh học E5 qua trường hợp
Thành phố Hà Nội
Chính sách khuyến khích sử dụng xăng sinh học thay thế
hoàn toàn xăng khoáng áp dụng trên địa bàn thành phố Hà nội đã
phải trải qua nhiều lần gia hạn. Thời hạn thay thế hoàn toàn xăng
khoáng bằng xăng sinh học E5 lần thứ nhất là ngày 1/12/2014, sau đó
được gia hạn đến 1/1/2016, tiếp đó đến tháng 1/6/2016; 1/6/2017 và
cuối cùng là 1/1/2018. Tuy nhiên cho đến thời điểm tháng 7/2017,
chính sách vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn. Người tiêu
dùng vẫn tiếp tục hành vi sử dụng xăng truyền thống và không quan
tâm lắm đến mặt hàng mới là xăng sinh học E5 bởi nhiều lý do.
-

Có sử dụng các công cụ kinh tế tuy nhiên mức trợ giá của
Chính phú chưa đủ phát huy được tác dụng khuyến khích
người tiêu dùng thay đổi hành vi thói quen. Chênh lệch giá
cả giữa xăng E5 và xăng Ron92 (từ khoảng 200-500 đồng)
còn thấp nên chưa hấp dẫn được người tiêu dùng.

-

Mệnh lệnh hành chính cứng nhắc không linh hoạt nên chưa
được sự ủng hộ của người dân.

-

Phối kết hợp giữa các công cụ chính sách chưa hài hòa.

-

Công tác tuyên truyền hầu như không có hiệu quả

3.3. So sánh công cụ chính sách trong việc hạn chế sử dụng túi ni
lông và thúc đẩy sử dụng xăng sinh học E5


17
Nghiên cứu hai trường hợp chính sách hạn chế sử dụng túi ni
lông và khuyến khích sử dụng xăng sinh học E5 cho thấy các chính
sách đã ban hành còn một số vấn đề bất cập.
Đối với trường hợp túi ni lông, công cụ kinh tế sử dụng hiện
tại chủ yếu là đánh thuế môi trường đối với đơn vị sản xuất. Tuy
nhiên mức thuế này là quá thấp so với giá thành của túi ni lông.
Chính vì vậy khi đến tay người tiêu dùng thì túi ni lông hầu hết vẫn
được phát miễn phí nên người tiêu dùng vẫn không thể từ bỏ được
sản phẩm này. Bên cạnh đó việc sản xuất các loại túi thay thế túi ni
lông vẫn chưa được chú trọng nên người tiêu dùng muốn từ bỏ túi ni
lông cũng chưa có giải pháp trong việc tìm kiếm loại túi thay thế. Vì
vậy, cần có chính sách hỗ trợ sản xuất các loại túi thân thiện với môi
trường để thay thế việc sử dụng túi ni lông.
Ngoài sử dụng công cụ kinh tế để hạn chế việc tiêu thụ túi ni
lông và khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các loại túi thay thế túi ni
lông thì cần có sự kết hợp với các công cụ khác như công cụ hành
chính và công cụ truyền thông. Chỉ khi tìm được giải pháp thay thế
túi ni lông và có các chế tài khác kết hợp thì việc áp dụng chính sách
cấm sử dụng như nhiều nước trên thế giới đang áp dụng đối với túi ni
lông mới mang lại hiệu quả. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác
truyên truyền vận động để nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng
trong việc hạn chế sử dụng túi ni lông để bảo vệ môi trường vì sự
phát triển bền vững.
Đối với trường hợp xăng sinh học E5, công cụ kinh tế được
sử dụng thông qua việc hỗ trợ để giá xăng sinh học thấp hơn giá xăng
truyền thống. Tuy nhiên mức chênh lệch giá này được đánh giá là
chưa đủ để khuyến khích người tiêu dùng thay đổi hành vi của mình.


18
Công cụ kinh tế chưa phát huy được tác dụng của nó trong suốt thời
gian thực hiện chính sách khuyến khích thể hiện ở chỗ người tiêu
dùng vẫn ưu tiên lựa chọn xăng truyền thống thay vì xăng sinh học
mặc dù có trợ giá.
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VỀ CÔNG CỤ KINH TẾ
TRONG CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIÊU DÙNG BỀN VỮNG
CỦA DÂN CƯ
4.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước về thúc đẩy tiêu dùng bền
vững
4.1.1. Bối cảnh quốc tế
4.1.2. Bối cảnh trong nước
4.2. Quan điểm về sử dụng công cụ kinh tế trong chính sách thúc
đẩy tiêu dùng bền vững dân cư
Các công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững đã được
triển khai tuy nhiên còn chưa có sự đồng bộ, hiệu quả mang lại chưa
cao.
Công cụ kinh tế dựa trên cơ sở các yếu tố thị trường khác với
các công cụ khác ở chỗ nó đảm bảo sự minh bạch trên cơ sở điều
chỉnh hành vi cá nhân dựa theo tín hiệu của thị trường và lôi kéo
được sự tham gia một cách tích cực và chủ động của các thành phần
kinh tế từ Nhà nước cấp trung ương, các cấp chính quyền địa
phương, nhà sản xuất cho đến những người tiêu dùng cuối cùng trên
thị trường hàng hóa. Trên thế giới việc sử dụng công cụ kinh tế dựa
trên cơ sở các yếu tố thị trường trong bảo vệ môi trường là xu thế chủ
đạo và đang ngày càng được mở rộng. Trong điều kiện của Việt Nam
hiện nay, việc sử dụng công cụ kinh tế dựa vào các yếu tố thị trường


19
trong chính sách nói chung và chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền
vững nói riêng là rất quan trọng và cần thiết. Điều này cũng phù hợp
với xu thế chung của thế giới và việc chuyển đổi nền kinh tế mang
tính hành chính, mệnh lệnh sang nền kinh tế thị trường hiện đang
thực hiện ở Việt Nam.
Việc áp dụng các công cụ kinh tế dựa vào thị trường có thể
đem lại những hiệu quả mong đợi với mức chi phí thấp nhất có thể,
điều này thực sự rất quan trọng đối với một đất nước đang phát triển
có nguồn lực tài chính hạn chế, thâm hụt ngân sách và nợ công cao
như Việt Nam hiện nay.
4.3. Giải pháp về sử dụng công cụ kinh tế trong chính sách thúc
đẩy tiêu dùng bền vững của dân cư
4.3.1. Giải pháp về công cụ kinh tế trong chính sách hạn chế sử
dụng túi ni lông
Túi ni lông là một loại bao bì tiện lợi và phổ biến nhưng song
song với ưu điểm này là những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó đến
môi trường, xã hội, kinh tế đất nước và cả con người. Để hạn chế sử
dụng túi ni lông cần phải có những chính sách phù hợp và theo lộ
trình nhất định. Các công cụ chính sách đang áp dụng ở nước ta đặc
biệt là công cụ kinh tế chưa phát huy hiệu quả bởi nhiều lý do, công
cụ thuế chưa đủ mạnh để gây ảnh hưởng tới hành vi người tiêu dùng,
công cụ truyền thông chưa đủ mạnh và thường xuyên, còn công cụ
hành chính thì còn thiếu nhiều điều kiện về môi trường cũng như
hành lang pháp lý trong quá trình thực thi giám sát. Để hạn chế việc
sử dụng túi ni lông trong thời gian tới, một số giải pháp được đề cập
đến mang tính chất tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách
như sau:


20
Quy định cấm các nhà bán lẻ phân phối miễn phí túi ni lông
cho khách hàng
Mục tiêu của các quy định này là buộc các nhà bán lẻ yêu cầu
khách hàng trả tiền cho túi ni lông đựng hàng hoặc chuyển sang sử
dụng các loại túi thay thế nhằm thay đổi thói quen sử dụng túi ni lông
của khách hàng với một lộ trình phù hợp, theo đó các đối tượng thuộc
quy định này sẽ được mở rộng dần. Quy định này có thể bắt đầu áp
dụng đối với các siêu thị và trung tâm thương mại sau đó tới các cửa
hàng đại lý và các chợ. Việc khách hàng phải bỏ tiền ra để chia sẻ chi
phí sử dụng túi ni lông sẽ khiến khách hàng phải dần thay đổi hành vi
của mình. Tuy nhiên mức giá khách hàng phải trả cho việc sử dụng
túi ni lông là bao nhiêu thì cần phải được tính toán cụ thể hơn để giá
trị đó có thể đủ lớn khiến người dân thay đổi hành vi.
Đánh thuế tiêu dùng túi ni lông
Thuế sẽ được áp dụng đối với nhà sản xuất túi ni lông/nhà
phân phối, tính trên đơn vị túi ni lông được sản xuất. Nhà sản xuất,
nhà phân phối sẽ công khai cộng chi phí này vào giá thành của túi ni
lông và người bán lẻ/người tiêu dùng phải trả. Việc áp dụng thuế này
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thói quen của các nhà bán lẻ trong việc
phát miễn phí túi ni lông cho khách hàng và qua đó thay đổi thói
quen sử dụng túi ni lông của khách hàng. Điều quan trọng là mức
thuế phải được tính đủ cao để làm thay đổi thói quen sử dụng túi ni
lông của nhà bán lẻ và người tiêu dùng. Thuế sẽ được thu từ các nhà
sản xuất hoặc các nhà phân phối.
Hỗ trợ sản xuất hàng hóa thay thế túi ni lông
Thực tế khảo sát cho thấy, người dân hầu hết nhận thức được
tác hại của túi ni lông và sẵn sàng thay đổi hành vi của mình. Tuy


21
nhiên chưa có mặt hàng nào có thể thay thế túi ni lông bởi tính tiện
lợi và giá thành rẻ của nó. Khi tham khảo ý kiến người dân về điều
kiện cần thiết để người dân có thể ngừng sử dụng túi ni lông thì phần
lớn người trả lời cho rằng cần phải có hàng hóa thay thế thì mới có
thể ngừng sử dụng túi ni lông. Vì vậy áp dụng lệnh cấm hay hạn chế
sử dụng túi ni lông ở nước ta có thể không hiệu quả nếu chưa tìm ra
giải pháp cho việc sản xuất hàng thay thế túi ni lông.
Hiện đã có một số loại túi có thể được thay thế cho túi ni
lông gồm túi vải, túi giấy, túi phân hủy sinh học... Có nhiều điều kiện
và giải pháp hứa hẹn khả năng thay thế túi ni lông bằng các loại bao
bì thân thiện môi trường. Việc nghiên cứu và đưa bao bì phân hủy
sinh học vào ứng dụng thay thế túi ni lông cần nhận được sự hỗ trợ từ
Nhà nước qua các quy định, luật lệ, chính sách khuyến khích thay đổi
thói quen sử dụng túi ni lông và định hướng chiến lược trong công
tác bảo vệ môi trường và xử lý chất thải phù hợp. Tuy nhiên cần tính
toán các biện pháp để hướng tới việc sử dụng loại túi có thể sử dụng
nhiều lần sẽ tiết kiệm hơn về kinh tế, tài nguyên và phù hợp môi
trường hơn so với túi phân hủy sinh học.
Bên cạnh việc sử dụng các công cụ kinh tế, công cụ truyền
thông là không thể thiếu trong các chương trình môi trường, ảnh
hưởng không nhỏ đến thành công của các công cụ khác nhằm giảm
sử dụng túi ni lông. Các chương trình truyền thông này nên được tổ
chức thường xuyên và định kỳ dưới các chiến dịch tuyên truyền, vận
động. Các đối tượng hướng đến bao gồm: người tiêu dùng, nhà bán
lẻ/phân phối và nhà sản xuất túi ni lông và mỗi người dân trong cộng
đồng. Quá trình hoạch định và thực hiện việc tuyên truyền nâng cao
nhận thức người dân đối với hạn chế sử dụng túi ni lông cần có sự


22
phối hợp của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị,xã hội dân sự
và khuyến khích sự tham gia của các cộng đồng, cá nhân và người
dân địa phương.
4.3.2. Giải pháp về công cụ kinh tế trong chính sách thúc đẩy sử
dụng xăng sinh học E5
Trước bối cảnh nguồn tài nguyên dầu mỏ đang dần cạn kiệt
và môi trường thiên nhiên bị tàn phá, việc sử dụng xăng sinh học là
một xu hướng hướng tới phát triển bền vững. Theo dự đoán của
nhiều chuyên gia, xăng sinh học sẽ trở thành nguồn nhiên liệu chính
thay thế cho nhiên liệu hóa thạch trong tương lai gần. Chính vì vậy,
việc dần chuyển đổi từ sử dụng xăng khoáng sang xăng sinh học là
việc làm cần thiết. Chủ trương này đã được Nhà nước ta quan tâm
thực hiện trong hơn 10 năm trở lại đây. Tuy nhiên việc thực hiện theo
chủ trương, chính sách của Nhà nước gặp một số khó khăn đến từ cả
phía cung và cầu của sản phẩm.
Công cụ kinh tế là công cụ dựa vào thị trường dựa trên cơ sở
có sự hài hòa về lợi ích và chi phí các bên liên quan. Chính vì vậy khi
áp dụng đối với việc đưa xăng sinh học vào sử dụng ở nước ta cần
phải có sự tính toán và cân nhắc kỹ hơn về lợi ích và chi phí của toàn
xã hội, của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và của người tiêu
dùng.
Việc đầu tư vào các nhà máy sản xuất nhiên liệu nhưng
không đưa vào sử dụng được như hiện tại đã gây tổn thất và lãng phí
nhiều về kinh phí. Cần phải rà soát lại việc tiếp tục đầu tư hay cho
các nhà máy phá sản để tránh thất thoát thêm ngân sách của nhà
nước. Một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu không phải là
doanh nghiệp nhà nước không mặn mà với việc kinh doanh xăng E5


23
bởi nó không lãi như kinh doanh xăng khoáng vì tỉ lệ hao hụt cao, chi
phí đầu tư tốn kém. Khi lợi ích của doanh nghiệp bị ảnh hưởng thì họ
sẽ có xu hướng chuyển sang ưu tiên bán xăng Ron 95 nhiều hơn xăng
E5. Điều này sẽ gây lãng phí không cần thiết cho xã hội. Cần tính
toán kỹ hơn trong việc duy trì các loại xăng hiện tại và cân nhắc việc
tiếp tục tiến đến sử dụng E10 hay không?
Tiếp theo là chính sách về giá cả cần được xem xét kỹ lưỡng
khi áp dụng mức giá cho mặt hàng mới để khuyến khích người tiêu
dùng. Hiện tại mức chênh lệch giá xăng sinh học so với xăng truyền
thông được cho là thấp, chưa đủ để khuyến khích người sử dụng.
Theo kết quả khảo sát về mức giá chênh lệch giữa xăng
khoáng và xăng E5 để người tiêu dùng có thể chấp nhận sử dụng
xăng E5 thì mức chênh lệch mong muốn tập trung vào khoàng 10% .
Như vậy giá xăng E5 phải thấp hơn xăng Ron 92 khoảng 1.500-2.000
đồng và thấp hơn xăng Ron 95 từ 3.000-4.000 đồng. Chính vì vậy,
với mức chênh lệch giữa xăng E5 và Ron 95 như hiện tại là chưa đủ
hấp dẫn để thay đổi hành vi người tiêu dùng. Để người tiêu dùng có
thể thay đổi sự lựa chọn của mình chuyển sang sử dụng xăng E5, cần
có mức giá hấp dẫn hơn, cụ thể là thấp hơn xăng Ron 95 từ 3.000 –
4.000 đồng.
Kinh nghiệm các nước cũng cho thấy, khi đưa nhiên liệu sinh
học vào sử dụng thì cần có chính sách hỗ trợ về giá để kích thích thị
trường và khi ngành công nghiệp ethanol đi vào ổn định, có thể dừng
trợ cấp để tiết kiệm ngân sách cho Nhà nước. Ngoài ra, bên cạnh việc
sử dụng các công cụ kinh tế thì các công cụ phối hợp như công cụ
hành chính, công cụ truyền thông cũng rất cần thiết cho việc thúc đẩy
sử dụng xăng E5 ở nước ta.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×