Tải bản đầy đủ

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH VÂN LÂM

Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA KINH TẾ - KỸ THUẬT

---------------

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH
VÂN LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: KẾ TOÁN
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học : 2013-2017

NINH BÌNH - 2017

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

i


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA KINH TẾ - KỸ THUẬT

---------------

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH
VÂN LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: KẾ TOÁN
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học : 2013-2017

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TH.S ĐỖ THỊ THỦY

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

ii


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

NINH BÌNH - 2017

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

iii


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: - BGH trường Đại học Hoa Lư
- Phòng đào tạo Trường Đại học Hoa Lư
- Khoa Kinh tế - Kỹ thuật trường Đại học
Hoa Lư
Tên em là Nguyễn Thị Thúy Hằng là sinh viên lớp D6KTB –
khoa Kinh tế - Kỹ thuật.
Đề tài khóa luận tốt nghiệp “ Hoàn thiện kế toán bán hàng
và xác định kết quả bán hàng tại công ty TNHH Vân Lâm” là sản
phẩm của cá nhân em trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và
làm khóa luận tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Vân Lâm.
Em xin khẳng định và cam đoan toàn bộ nội dung khóa
luận, số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực và xuất
phát từ tình hình thực tế vủa công ty trách nhiệm hữu hạn Vân
Lâm và trên cơ sở tham khảo một số tài liệu của cá nhân em,
hoàn toàn không sao chép bất cứ tài liệu nào. Kết quả của quá
trình nghiên cứu trong khóa luận này chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Ninh Bình, ngày 1 tháng
5 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Thúy
Hằng

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

i


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

MỤC LỤC

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

ii


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

DANH MỤC VIẾT TẮT
BPBKH
BPBTL
BHXH
BHYT
BHTN
CCDC
CKTM
CTGS
CP
CPBH
CPQLDN
DN
DT
DTBH
DTT
GTGT
GVHB
HTK
KKĐK
KKTX
PC
PKT
PXK
TK
TKĐƯ
TNDN
TNHH
TSCĐ

Bảng phân bổ khấu hao
Bảng phân bổ tiền lương
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
Công cụ dụng cụ
Chiết khấu thương mại
Chứng từ ghi sổ
Chi phí
Chi phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Doanh thu
Doanh thu bán hàng
Doanh thu thuần
Giá trị gia tăng
Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho
Kiểm kê định kỳ
Kê khai thường xuyên
Phiếu chi
Phiếu kế toán
Phiếu xuất kho
Tài khoản
Tài khoản đối ứng
Thu nhập doanh nghiệp
Trách nhiệm hữu hạn
Tài sản cố định
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

iii


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

iv


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
Đề tài về bán hàng và xác định kết quả bán hàng luôn được quan tâm và coi
trọng tại các doanh nghiệp thương mại vì nó là yếu tố quyết định hoạt động kinh
doanh, phát triển và sự tồn tại của doanh nghiệp. Vì vậy, trên thực tế đã có khá
nhiều bài viết nói về bán hàng và xác định kết quả bán hàng, cũng như có rất
nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả
bán hàng như:
Khóa luận: “Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty
cổ phần bê tông Bảo Quân Vĩnh Phúc” (năm 2012) của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Lâm trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. Tác giả đã trình bày và hệ thống
công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty. Công ty
áp dụng nhiều chính sách nhằm thu hút khách hàng như chiết khấu thương mại,
giảm giá hàng bán đối với khách hàng mua số lượng lớn, chiết khấu thanh toán
khi khách hàng thanh toán trước hợp đồng từ đó sẽ hu hút được khách hàng
nhiều hơn và thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách cũ, tạo dựng quan hệ với
khách mới. Công ty có tổ chức bộ máy kế toán gọn nhẹ tuy nhiên nhân viên kế
toán còn ít, việc kế toán thường dồn vào cuôi tháng , quý mới xử lý dễ gây nên
tình trạng chậm trễ trong công việc. Công ty thực hiện tính giá vốn theo phương
pháp bình quân gia quyền, phương pháp này có hạn chế là doanh thu bán hàng
không phù hợp với các chi phí (mua hàng) đã xảy ra.
Khóa luận “Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
tại công ty TNHH Hòa Bình” (2011) của Trần Thị Liên trường ĐH Công nghiệp
Hà Nội. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận đến thực tiễn, những ưu- nhược
điểm của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh. Công ty TNHH Hòa
Bình chủ yếu hoat động trong lĩnh vực thương mại, với đội ngũ cán bộ lãnh đạo
năng động, khả năng nắm bắt thông tin nhạy bén, cơ cấu tổ chức khoa học, gọn
nhẹ, phù hợp với nhu cầu kinh doanh. Tuy nhiên trong công tác kế toán hàng tồn
kho thì hiện nay vẫn chưa có quỹ dự phòng, nếu quỹ dự phòng được lập sẽ làm
tăng chi phí và giảm thiệt hại xuống mức thấp nhất.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

1


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

Khóa luận “ Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại
công ty TNHH Hồng Phú” của Đặng Thị Lanh trường đại học Thương Mại năm
2014 đã nêu lên những vấn đề trọng yếu của kế toán bán hàng và xác định kết
quả kinh doanh, những nhận xét và đề xuất cuả tác giả nhằm hoàn thiện kế toán
bán hàng và xác định kết quả kinh doanh. Công ty luôn chủ động nắm bắt nhu
cầu khách hàng, tạo điều kiện cho việc mua và thanh toán tiền hàng được thực
hiện một cách hợp lý và thuận tiện, nâng cao uy tín của công ty trên thị trường.
Bộ phận quản lý, trong đó bộ máy kế toán đã không ngừng hoàn thiện, hệ thống
sổ sách kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là phù hợp. Các chứng
từ kế toán của công ty đều tuân thủ theo các quy định tài chính hiện hành. Bên
cạnh đó công ty vẫn còn những hạn chế: Công ty bán hàng theo hợp đồng với số
lượng lớn hàng hóa cho các DN thanh toán theo hình thức trả chậm trả góp nên
còn một số lượng tiền chưa thu được nhưng công ty chưa lập dự phòng phải thu
khó đòi. Công ty có các khách hàng mua với số lượng lớn tuy nhiên chưa áp
dụng các biện pháp như khuyến mãi, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh
toán,…
Mỗi đề tài đều có cách nhìn nhận riêng, cách tiếp cận riêng, và đưa ra
những quan điểm riêng của mình để đóng góp một phần nhỏ vào các công trình
nghiên cứu cũng như vào sự phát triển của hoạt động bán hàng. Tuy nhiên chưa
có các đề tài nghiên cứu về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại
công ty TNHH Vân Lâm đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, thị trường cạnh
tranh khốc liệt, đòi hỏi cần phải có những phương hướng xúc tiến thương mại có
hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao nhất, thì tổ chức công tác hạch toán kế toán bán
hàng và xác định kết quả bán hàng tại đơn vị càng cần thiết. Do đó, đề tài của
khóa luận là cần thiết và cấp bách.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán
hàng tại công ty TNHH Vân Lâm, khóa luận đưa ra một số giải pháp giúp hoàn
thiện hơn nữa kế toán hán hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
tại công ty TNHH Vân Lâm.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

2


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

 Không gian nghiên cứu: Công ty TNHH Vân Lâm
 Thời gian nghiên cứu: Số liệu nghiên cứu thu thập trong những năm gần
đây (2014, 2015, 2016).
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: thu thập các tài liệu, thông tin nội
bộ doanh nghiệp, và một số nguồn dữ liệu bên ngoài (webside…)
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Trên các số liệu thống kê được, sẽ tiến
hành phân tích, đánh giá, so sánh…để đưa ra các giải pháp hiệu quả.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận bố cục đề tài gồm ba chương:
Chương 1. Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
trong doanh nghiệp thương mại.
Chương 2. Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại
công ty TNHH Vân Lâm.
Chương 3. Hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại
công ty TNHH Vân Lâm.

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

3


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. Lý luận về nghiệp vụ bán hàng và xác định kết quả bán hàng
1.1.1. Yêu cầu quản lý công tác bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Quản lý quá trình bán hàng và xác định kết quả bán hàng là một yêu cầu
thực tế, nó xuất phát từ mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp quản lý
tốt khâu bán hàng thì mới đảm bảo được chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch tiêu thụ và
đánh giá chính xác hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó. Do vậy vấn đề đặt
ra cho mỗi doanh nghiệp là:
+ Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ đối với từng
giai đoạn, từng khách hàng và từng hoạt động kinh tế.
+ Quản lý chất lượng, cải tiến mẫu mã và xây dựng thương hiệu là mục tiêu
cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
+ Quản lý theo dõi từng phương thức bán hàng, từng khách hàng, tình hình
thanh toán của khách hàng, yêu cầu thanh toán đúng hình thức, đúng hạn để
tránh hiện tượng thất thoát, ứ đọng vốn.
+ Quản lý chặt chẽ vốn của hàng hóa tiêu thụ, giám sát chặt chẽ các khoản
chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý
của các số liệu đảm bảo cho việc xác định kết quả tiêu thụ được chính xác và
hợp lý.
+ Đối với việc hạch toán tiêu thụ phải tổ chức chặt chẽ khoa học đảm bảo
việc xác định kết quả cuối cùng của quá trình tiêu thụ, phản ánh à giám đốc tình
hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước đầy đủ kịp thời
1.1.2. Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của công tác bán hàng và xác định
kết quả bán hàng
1.1.2.1. Khái niệm


Khái niệm bán hàng

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

4


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh, là quá trình thực
hiện mặt giá trị của hàng hóa, đây là quá trình chuyển giao sở hữu hàng hóa
người mua và doanh nghiệp thu tiền về hoặc được quyền thu tiền.
Xét về góc độ kinh tế: Bán hàng là quá trình hàng hóa của doanh nghiệp
được chuyển từ hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền).
Quá trình bán hàng của các doanh nghiệp nói chung có những đặc điểm
chính sau đây:
Có sự trao đổi thỏa thuận giữa người mua và người bán, người bán đồng ý
bán, người mua đồng ý mua, họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hóa: Người bán mất quyền sở hữu,
người mua có quyền sở hữu về hàng hóa đã mua bán. Trong quá trình tiêu thụ
hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hóa
và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng. Số doanh thu
này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của mình.
• Khái niệm kết quả bán hàng:
Kết quả bán hàng là chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả của hoạt động lưu chuyển
hàng hóa. Đây là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng và chi phí
hoạt động kinh doanh bao gồm: Chi phí về giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng,
chi phí quản lý doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh nhất định. Kết quả bán
hàng được xác định qua công thức:
Kết quả
bán hàng

= DTBH -

Các khoản
giảm trừ DT

CPBH,
- GVHB - CPQLDN

Kết quả bán hàng là phần quan trọng nhất trong kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Kết quả bán hàng giúp doanh nghiệp xác định được
khoản lãi, lỗ trong hoạt động bán hàng, đồng thời cũng biết được tỉ lệ phần trăm
lãi hoặc lỗ trong kết quả chung của toàn doanh nghiệp. Kết quả bán hàng còn là
chỉ tiêu tài chính thể hiện rõ nét hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của
doanh nghiệp giúp cung cấp thông tin cho nhà quản lý về tình hình kinh doanh
để đưa ra các định hướng và phương án tối ưu nhất cho doanh nghiệp.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

5


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

1.1.2.2. Vai trò
Bán hàng và xác định kết quả bán hàng có vai trò vô cùng quan trọng
không chỉ đối với doanh nghiệp mà toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với bản
thân doanh nghiệp có bán được hàng thì mới có doanh thu để bù đắp những chi
phí bỏ ra, giúp thu hồi vốn nhanh, từ đó tăng vòng quay của vốn lưu động, bổ
sung kịp thời nguồn vốn cho mở rộng quy mô sản xuất và mang lại hiệu quả
kinh tế cao, nâng cao đời sống của người lao động, tạo nguồn tích lũy cho nền
kinh tế quốc dân. Việc xác định chính xác kết quả bán hàng là cơ sở để đánh giá
hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, xác định phần
nghĩa vụ kinh tế của doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nước.
Trong các doanh nghiệp, kế toán được coi là một công cụ hữu hiệu phục vụ
cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý hàng hóa, bán hàng và xác
định kết quả bán hàng nói riêng.
Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế tài chính, kế toán cung cấp các
thông tin tài chính hiện thực, có giá trị pháp lý và độ tin cậy cao, giúp doanh
nghiệp và các đối tượng liên quan đánh giá đúng đắn tình hình hoạt động của
doanh nghiệp, trên cơ sở đó ban quản lý doanh nghiệp sẽ đưa ra các quyết định
kinh tế phù hợp. Vì vậy, kế toán có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống
quản lý săn xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.3. Nhiệm vụ
Trong quá trình hoạt động, đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, việc sử
dụng đồng thời hàng loạt các công cụ quản lý khác nhau là điều kiện để giúp
việc quản lý của doanh nghiệp được lợi nhuận hơn. Chiếm ưu thế hơn cả trong
các công cụ quản lý chính là hạch toán kế toán. Đối với các doanh nghiệp, kế
toán là công cụ hữu hiệu, hỗ trợ đắc lực cho việc xác định kết quả kinh doanh.
Chính vì thế mà kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng cần thực hiện
các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tổ chức theo dõi phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời và giám sát chặt
chẽ về tình hình thực hiện và sự biến động của từng loại hàng hóa dịch vụ trên
cả hai mặt số lượng và giá trị.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

6


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

- Phản ánh và ghi chép một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh tại doanh nghiệp, các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ
doanh thu và chi phí phát sinh của từng hoạt động trong doanh nghiệp.
- Phân bổ hợp lý chi phí mua hàng ngoài giá mua cho số hàng đã bán và
hàng tồn cuối kỳ, để từ đó xác định giá vốn cho hàng hóa bán ra và hàng tồn
cuối kỳ.
- Lựa chọn phương pháp phù hợp và xác định đúng giá vốn để đảm bảo độ
chính xác về lợi nhuận gộp của hàng hóa đã tiêu thụ trong kỳ kinh doanh.
- Xác định kết quả bán hàng, thực hiện chế độ báo cáo hàng hóa, báo cáo
tình hình tiêu thụ và kết quả tiêu thu hàng hóa trong kỳ báo cáo.
- Theo dõi và thanh toán kịp thời công nợ đối với nhà cung cấp và khách
hàng có liên quan của từng thương vụ giao dịch.
- Cung cấp thông tin cần thiết, phân tích và tham mưu cho lãnh đạo cho
việc ra quyết định kinh doanh.
1.1.3. Nguyên tắc bán hàng và xác định kết quả bán hàng
Hàng hóa của doanh nghiệp mua vào bao gồm nhiều loại. Vì vậy, để quản
lý và hạch toán chặt chẽ hàng hóa cần quán triệt các nguyên tắc sau:
- Phải tổ chức hạch toán hàng hóa theo từng loại, từng đơn vị mua, từng số
lượng, chất lượng hàng hóa.
- Phải kết hợp việc ghi chép giữa kế toán hàng hóa và thủ kho đảm bảo cho
hàng hóa được phản ánh kịp thời, chính xác.
- Công tác ghi chép ban đầu phải khoa học hợp lý nhằm phản ánh đúng
tình hình biến động hàng hóa.
- Hàng hóa khi nhập kho, xuất kho phải ghi giá trị thực tế, nếu hàng hóa
xuất kho ghi giá trị hạch toán thì cuối kỳ phải tính giá thực tế.
1.1.4. Phương thức bán hàng
1.1.4.1. Phương thức bán buôn
Bán buôn hàng hóa là việc bán hàng hóa cho các doanh nghiệp thương mại
khác hoặc các doanh nghiệp sản xuất để họ tiếp tục sản xuất chế biến. Theo
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

7


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

phương thức này, doanh nghiệp bán trực tiếp cho người mua, do bên mua trực
tiếp đến nhận hàng tại kho của doanh nghiệp bán hoặc tại địa điểm mà doanh
nghiệp đã quy định. Thời điểm bán hàng là thời điểm người mua đã ký nhận
hàng, còn thời điểm thanh toán tiền hàng phụ thuộc vào điều kiện thuận lợi của
hợp đồng.
Phương thức này có thuận lợi là có thể giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn
nhanh, đẩy nhanh vòng quay của vốn do khối lượng hàng hóa tiêu thụ lớn. Tuy
nhiên, với phương thức này doanh nghiệp cũng có thể gặp nguy cơ khủng hoảng
thừa trong tiêu thụ do doanh nghiệp bị ngăn cách với người tiêu dùng cuối cùng
bởi người mua trung gian hoặc bị chiếm dụng vốn do bên mua thiếu thiện chí,
chậm thanh toán. Theo phương thức này có hai hình thức bán buôn:
• Phương thức bán buôn qua kho:
Bán buôn qua kho là hình thức bán hàng mà hàng bán được xuất ra từ kho
bảo quản của doanh nghiệp. Có thể áp dụng hai phương thức giao hàng qua kho:
- Phương thức chuyển hàng: Bên mua đã ký hợp đồng với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp căn cứ vào hợp đồng sẽ chuyển hàng đến giao cho người
mua theo địa điểm đã quy định trước trong hợp đồng bằng phương tiện tự có
hoặc thuê ngoài. Chi phí vận chuyển do bên nào trả phải được quy định trong
hợp đồng. Khi chuyển hàng đi hàng hóa vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp. Thời điểm xác định tiêu thụ của phương thức này là khi bên mua nhận
được hàng, đồng thời đã thanh toán tiền hàng cho doanh nghiệp hoặc đã chấp
nhận thanh toán.
- Phương thức giao hàng trực tiếp: Theo phương thức này bên mua sẽ đến
nhận hàng trực tiếp tại kho của doanh nghiệp. Khi chuyển hàng đi, hàng
hóa đã được chuyển quyền sở hữu cho bên mua. Thời điểm xác định tiêu thụ của
phương thức này là khi bên mua đã nhận được hàng và ký nhận vào hóa đơn
mua hàng.
• Phương thức bán buôn vận chuyển thẳng:
Bán buôn vận chuyển thẳng là hình thức bán mà doanh nghiệp thương mại
sau khi tiến hành mua hàng không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng đến cho
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

8


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

bên mua. Thuộc hình thức này bao gồm bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp và
bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng.
- Bán buôn vận chuyển thẳng trực tiếp: Là hình thức bán mà người mua cử
đại diện đến nhận hàng do doanh nghiệp bán chỉ định theo hóa đơn của người
bán đã nhận.
- Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Là hình thức bán
hàng mà bên bán tự vận chuyển hàng từ các điểm nhận hàng đến địa điểm của
bên mua theo hợp đồng bằng phương tiện vận chuyển tự có hoặc thuê ngoài.
1.1.4.2. Phương thức bán lẻ
Bán lẻ được hiểu là bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, không thông
qua các trung gian. Thuộc phương thức bán lẻ có các hình thức sau:
• Phương thức bán hàng thu tiền tập trung:
Phương thức này tách rời nghiệp vụ bán hang và nghiệp vụ thu tiền. Trình
tự được tiến hành như sau: Khách hàng xem xong hàng hóa và đồng ý mua,
người bán viết “ hóa đơn bán lẻ” giao cho khách hàng đưa đến chỗ thu tiền thì
đóng dấu “ đã thu tiền”, khách hàng mang hóa đơn đó đến nhận hàng. Cuối
ngày, người thu tiền tổng hợp số tiền đã thu để xác định doanh số bán. Định kỳ,
kiểm kê hàng hóa tại quầy, tính toán lượng hàng đã bán ra để xác định tình hình
bán hàng thừa, thiếu tại quầy.
• Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp:
Theo phương thức này, nhân viên bán hàng vừa làm nhiệm vụ giao hàng
vừa làm nhiệm vụ thu tiền. Cuối ca hặc cuối ngày, nhân viên bán hàng kiểm tiền,
làm giấy nộp tiền, đồng thời kiểm kê hàng hóa còn lại và xác định lượng hàng
hóa bán ra trong ca, trong ngày. Sau đó lập báo cáo bán hàng để xác định doanh
số bán hàng, đối chiếu với số tiền đã nộp theo giấy nộp tiền.
• Phương thức bán hàng tự động
Theo phương thức này, người mua tự chọn hàng hóa sau đó mang đến bộ phận
thu ngân kiểm hàng, tính tiền, lập hóa đơn bán hàng và thu tiền. Cuối ngày, nộp tiền
bán hàng cho thủ quỹ. Định kỳ, kiểm kê xác định thừa, thiếu tiền bán hàng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

9


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

• Phương thức đặt hàng
Phương thức đặt hàng ngày càng phổ biến và phát triển mạnh mẽ do nhu
cầu tiêu dùng ngày càng phong phú. Theo phương thức bán hàng này, khách
hàng sẽ liên hệ với doanh nghiệp và đặt trước số lượng hàng, chủng loại, thời
gian nhận hàng cụ thể. Theo đó doanh nghiệp sẽ cử người mang hàng đến tận
nơi mà khách hàng yêu cầu và chi phí vận chuyển đó sẽ do khách hàng tự chi
trả, điều này đã được thỏa thuận trước giữa khách hàng và doanh nghiệp.
• Phương thức bán hàng trả chậm trả góp
Đây là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Người mua sẽ thanh toán
lần đầu tại thời điểm mua hàng. Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở
các kỳ tiếp theo và phải trả lãi do trả chậm. Theo phương thức này, về mặt hạch
toán khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu
thụ và khi đó giá vốn và doanh thu được ghi nhận.
1.1.4.3. Phương thức bán hàng qua đại lý, ký gửi
Phương thức bán hàng qua đại lý, ký gửi là phương thức mà bên chủ hàng
(bên giao đại lý) xuất hàng giao cho bên nhận đại lý, nhận ký gửi (bên đại lý) để
bán. Bên đại lý, ký gửi sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng
hoặc chênh lệch giá.
- Đối với bên giao đại lý:
Hàng giao cho đơn vị đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và
chưa xác định là đã bán. Doanh nghiệp chỉ hạch toán vào doanh thu khi nhận
được tiền thanh toán của bên nhận đại lý hoặc đã được chấp nhận thanh toán.
Doanh nghiệp có trách nhiệm nộp thuế GTGT, thuế TTĐB (nếu có) trên tổng giá
trị hàng gửi bán đã tiêu thụ và trả hoa hồng cho đại lý.
- Đối với bên nhận đại lý, ký gửi:
Số hàng nhận đại lý không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh
nghiệp chỉ nhận bán hộ và hưởng hoa hồng trên giá bán.
1.1.4.4. Các phương thức bán hàng khác
- Bán hàng theo phương thức hàng đổi hàng là phương thức bán hàng mà
doanh nghiệp đem sản phẩm, vật tư, hàng hóa khác không tương tự giá trao đổi
– giá hiện hành của hàng hóa, vật tư tương ứng trên thị trường.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

10


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

- Phương thức tiêu thụ nội bộ: Là việc mua – bán sản phẩm, hàng hóa, lao
vụ dịch vụ giữa đơn vị chính và đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một công
ty, tập đoàn, liên hiệp xí nghiệp…Ngoài ra, được coi là tiêu thụ nội bộ còn bao
gồm các khoản sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ xuất, biếu, tặng, trả lương, thưởng,
xuất dùng cho hoạt động kinh doanh…
1.1.5. Phương thức thanh toán
Trong điều kiện bán hàng như hiện nay việc thanh toán tiền bán hàng được
thể hiện qua nhiều phương thức. Tùy thuộc vào lượng hàng hóa giao dịch, mối
quan hệ giữa hai bên và hình thức bán hàng mà bên mua và bên bán sẽ lựa chọn
một phương thức thanh toán phù hợp nhất, tiết kiệm được chi phí và có hiệu quả
nhất. Phương thức thanh toán tiền bán hàng tại các doanh nghiệp được thể hiện
dưới các hình thức:
• Phương thức thanh toán trực tiếp
Là phương thức thanh toán bằng tiền mặt, ngân phiếu, hàng đổi hàng để
giao dịch mua bán. Khi bên bán chuyển giao hàng hóa thì bên mua phải có nghĩa
vụ thanh toán trực tiếp ngay cho bên bán theo giá đã thỏa thuận. Phương thức
này giảm thiểu được những rủi ro trong thanh toán. Nếu trường hợp thanh toán
bằng hàng thì hàng hóa của hai bên phải cân đối về giá trị và khi kết thúc hợp
đồng nếu có chênh lệch thì phải thanh toán nốt bằng hàng hoặc bằng tiền mặt.
• Phương thức thanh toán qua ngân hàng
Là phương thức thanh toán chi trả bằng tiền thông qua trung gian – ngân
hàng, bằng cách chuyển khoản của người mua sang tài khoản của người bán.
Phương thức này tiết kiệm được chi phí cho xã hội trong việc in ấn, quản lý
tiền tệ, tiết kiệm thời gian, kiểm soát được tình hình tài chính của mỗi doanh
nghiệp, chống tham ô, lãng phí. Tùy từng thương vụ, khách hàng mà việc thanh
toán có thể được thực hiện theo một số phương thức.
- Thanh toán bằng séc.
- Thanh toán qua ngân hàng.
- Thanh toán qua ngân hàng ủy nhiệm thu.
- Thanh toán bằng tín dụng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

11


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

• Thanh toán trả chậm
Khách hàng đã nhận được hàng và chỉ thanh toán một phần tiền mua hàng
để nhận hàng và phần còn lại trả dần trong một thời gian và chịu khoản lãi theo
quy định trong hợp đồng.
Như vậy, phương thức thanh toán tiền bán hàng cũng có một vai trò hết sức
quan trọng, khi thu được tiền về là vốn của doanh nghiệp lại bước vào vòng tuần
hoàn mới, vốn càng quay nhanh thì khả năng sinh lợi nhiều và chu kỳ kinh
doanh không bị gián đoạn. Do vậy, mỗi doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi của
mình cũng như của bạn hàng, nâng cao hiệu quả kinh doanh thì phải lựa chọn
một phương thức thanh toán cho từng thương vụ một cách hợp lý nhất, nhanh
gọn nhất, tiết kiệm được chi phí.
1.2. Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
1.2.1. Kế toán doanh thu bán hàng
1.2.1.1. Doanh thu và nguyên tắc ghi nhận doanh thu
 Khái niệm:
- Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp thu được trong kỳ
hạch toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
- Doanh thu bán hàng là toàn bộ lợi ích thu được từ hoạt động giao dịch
bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu,
thu thêm ngoài giá bán (nếu có). Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch
vụ được xác định bằng tổng doanh thu trừ các khoản giảm trừ doanh thu.
 Điều kiện ghi nhận doanh thu
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn 5 điều kiện sau
(theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 ban hành theo Quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ Tài Chính):
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua;
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người
sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

12


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

+ Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng;
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
 Nguyên tắc ghi nhận doanh thu
+ Đối với sản phẩm, hàng hóa chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.
+ Đối với sản phẩm, hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT hoặc là
đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng là
tổng giá thanh toán.
+ Đối với sản phẩm, hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất
khẩu thì doanh thu bán hàng là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc
biệt hoặc thuế xuất khẩu).
+ Đối với hàng hóa gửi bán đại lý, ký gửi thì doanh thu bán hàng được xác
định như sau:
o Doanh nghiệp giao bán, ký gửi đại lý bán đúng giá thì doanh thu bán
hàng là số tiền là số tiền bán hàng qua đại lý thu được.
o Doanh nghiệp nhận bán đại lý, ký gửi bán hàng thì doanh thu bán hàng
là tiền hoa hồng được hưởng theo hợp đồng đại lý, ký gửi.
+ Đối với trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp thì doanh
thu bán hàng là giá bán trả tiền môt lần không bao gồm lãi trả chậm, trả góp.
1.2.1.2. Chứng từ và sổ kế toán sử dụng
Các chứng từ kế toán được sử dụng trong việc hạch toán doanh thu bán
hàng của doanh nghiệp bao gồm:
- Hóa đơn GTGT
- Hóa đơn bán hàng
- Phiếu thu (mẫu số 01-TT)
- Giấy báo Có của ngân hàng
- Các chứng từ kế toán liên quan khác.
1.2.1.3. Tài khoản sử dụng và trình tự hạch toán
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

13


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

 Tài khoản sử dụng
Tài khoản 511 – “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”. TK này dùng
để phản ánh số doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kỳ.
TK này có 4 tài khoản cấp 2:
+ TK 5111: Doanh thu bán hàng hóa
+ TK 5112: Doanh thu bán các thành phẩm
+ TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ
+ TK 5118: Doanh thu khác
Kết cấu nội dung phản ánh của TK này như sau:
Bên Nợ:
- Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT tính theo phương
pháp trực tiếp phải nộp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trong kỳ kế toán;
- Chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại kết chuyển
- Kết chuyển doanh thu vào TK 911 – “xác định kết quả kinh doanh”.
Bên Có: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực hiện trong kỳ kế toán.
TK 511 không có số dư cuối kỳ.
 Trình tự hạch toán
Có thể khái quát trình tự hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên
quan đến DTBH qua sơ đồ sau:

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

14


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

Sơ đồ 1.1.Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
TK 111,112,131

TK 511

TK 333
Các loại thuế phải nôp NSNN
Đơn vị áp dụng PP trực tiếp

Tổng giá trị thanh toán
Đơn vị áp dụng PP trực tiếp

TK 5211,5212,5213
Kết chuyển các khoản giảm

Đơn vị áp dụng PP khẩu trừ

trừ doanh thu bán hàng
TK 911
Kết chuyển DTT

(Giá chưa VAT)

TK 3331
VAT đầu ra
Các khoản giảm trừ doanh thu

1.2.2. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
1.2.2.1. Khái niệm và các nguyên tắc ghi nhận các khoản giảm trừ doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu là các khoản thu không được hoàn lại phát
sinh trong quá trình bán hàng như: chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán,
hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT phải nộp
theo phương pháp trực tiếp
+ Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua với khối lượng lớn.

Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

15


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

+ Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho khách hàng do hàng hóa kém
phẩm chất, sai quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế hoặc lạc hậu so
với thị hiếu người tiêu dùng.
+ Hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ
nhưng bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là một loại thuế gián thu trên giá bán của một
hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước hạn chế tiêu dùng như rượu, bia, thuốc là...
Doanh nghiệp phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt khi doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
+ Thuế xuất khẩu: Là loại thuế gián thu đánh vào các mặt hàng thông qua
tại các của khẩu của một quốc gia, thuế xuất khẩu được ghi giảm doanh thu bán
hàng của doanh nghiệp.
+ Thuế giá trị gia tăng phải nộp theo phương pháp trực tiếp: Là một thuế
gián thu được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong
quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Được áp dụng cho các hàng hóa
dịch vụ tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
 Nguyên tắc ghi nhận các khoản giảm trừ doanh thu
• Chiết khấu thương mại: Doanh nghiệp bán hàng thực hiện kế toán chiết
khấu thương mại theo những nguyên tắc sau:
+ Trường hợp người mua hàng với khối lượng lớn được hưởng chiết khấu
thương mại, giá bán phản ánh trên hóa đơn là giá đã giảm giá (đã trừ chiết khấu
thương mại) thì khoản chiết khấu thương mại này không được hạch toán vào TK
5211. Doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đã trừ chiết khấu thương mại.
+ Trường hợp người mua hàng nhiều lần mới đạt được lượng hàng mua
được hưởng chiết khấu thì khoản chiết khấu thương mại này được ghi giảm trừ
vào giá bán trên “hóa đơn GTGT” hoặc “hóa đơn bán hàng” lần cuối cùng.
+ Trường hợp khách hàng không tiếp tục mua hàng, hoặc khi chỉ số chiết
khấu thương mại người mua được hưởng lớn hơn số tiền bán hàng được ghi trên
hóa đơn lần cuối cùng thì phải chi tiền chiết khấu thương mại cho người mua.
Khoản chiết khấu này được hạch toán vào TK 5211.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

16


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

• Giảm giá hàng bán: doanh nghiệp bán thực hiện kế toán giảm giá hàng
bán theo những nguyên tắc sau:
+ Trường hợp trong hóa đơn GTGT hoặc trong hóa đơn bán hàng đã thể
hiện khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng trừ vào số tiền mà khách hàng phải
thanh toán (giá bán trên hóa đơn là giá đã giảm) thì doanh nghiệp không ghi nhận
là khoản giảm giá hàng bán, doanh thu bán hàng phản ánh theo giá đx giảm.
+ Chỉ phản ánh vào TK này các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm
giá sau khi đã bán hàng (đã ghi nhận vào doanh thu) và phát hành hóa đơn (giảm
giá ngoài hóa đơn) do khách hàng bán kém phẩm chất, sai quy cách…
• Hàng bán bị trả lại: TK này chỉ phản ánh giá trị của số sản phẩm hàng
hóa đã bán bị khách hàng trả lại (tính theo đúng đơn giá ghi trên hóa đơn).
• Việc điều chỉnh giảm doanh thu được thực hiện như sau:
+ khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại phát
sinh cùng kỳ tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được điều chỉnh giảm doanh
thu của kỳ phát sinh;
+ Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ kỳ trước đến kỳ sau
mới phát sinh chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại thì
doanh nghiệp được ghi giảm doanh thu theo các nguyên tắc:
oNếu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải chiết khấu thương mại, giảm giá, bị
trả lại sau thời điểm phát hành Báo cáo tài chính thì kế toán ghi giảm doanh thu
của kỳ sau.
oNếu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau
phải chiết khấu thương mại, giảm giá, bị trả lại nhưng phát sinh trước thời điểm
phát hành báo cáo tài chính, kế toán ghi giảm doanh thu trên báo cáo tài chính
của kỳ trước.
• Kế toán phải theo dõi chi tiết các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá
hàng bán, hàng bán bị trả lại cho từng khách hàng và từng loại hàng bán như:
bán hàng (sản phẩm, hàng hóa), cung cấp dịch vụ. cuối kỳ, kế toán kết chuyển
toàn bộ sang tài khoản 511 – “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

17


Khóa luận tốt nghiệp

Chuyên ngành kế toán

định doanh thu thuần của khối lượng hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ thực tế tiêu
thụ trong kỳ kế toán.
1.2.2.2. Chứng từ sử dụng
+ Hóa đơn GTGT
+ Hóa đơn bán hàng
+ Một số chứng từ liên quan khác, ngoài ra còn căn cứ vào các hợp đồng
kinh tế, biên bản đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
1.2.2.3. Tài khoản sử dụng và trình tự hạch toán
• Tài khoản sử dụng
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC, các khoản giảm trừ doanh thu được hạch
toán vào tài khoản 521 – “các khoản giảm trừ doanh thu”. TK này chỉ bao gồm
các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, khồn
báo gồm các khoản thuế làm giảm trừ doanh thu như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
TK 521 – “Các khoản giảm trừ doanh thu” có 3 TK cấp 2:
+ TK 5211 – Chiết khấu thương mại
+ TK 5212 – Hàng bán bị trả lại
+ TK 5213 – Giảm giá hàng bán
Kết cấu và nội dung của TK 521
Bên Nợ:
- Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận chiết khấu cho khách hàng
- Số giảm giá hàng bán bị trả lại, đã trả tiền cho khách hàng
- Doanh thu của hàng bán bị trả lại, đã trả tiền cho khách hàng hoặc tính trừ
vào khoản phải thu khách hàng về số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã bán.
Bên Có: Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại,
giảm giá hàng bán, doanh thu của hàng bán bị trả lại sang TK 511 – “Doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ” để xác định doanh thu thuần của kỳ kế toán.
TK 521 không có số dư cuối kỳ.
• Trình tự hạch toán
Trình tự hạch toán của TK 521 được tóm tắt qua sơ đồ sau:
Sinh viên: Nguyễn Thị Thúy Hằng - Lớp D6KTB

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×
x