Tải bản đầy đủ

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 34 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON

---------------

NGUYỄN HƯƠNG THẢO

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3-4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI
TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON
QUỲNH LƯU- NHO QUAN- NINH BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2013 - 2017

NINH BÌNH, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON



---------------

NGUYỄN HƯƠNG THẢO

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 3-4 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI
TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở TRƯỜNG MẦM NON
QUỲNH LƯU- NHO QUAN- NINH BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2013 – 2017

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Thị Nguyệt

NINH BÌNH, 2017
LỜI CẢM ƠN

22
22222222222222222222222222222222222222222222

22

2


Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến giảng
viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Nguyệt - người thầy đã tận tình dìu dắt và
chỉ bảo em không chỉ về mặt kiến thức mà còn về phương pháp nghiên cứu
khoa học trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Hoa Lư, đặc
biệt là các thầy cô giáo trong khoa Tiểu học – Mầm Non và Bộ môn Giáo dục
thể chất- Tâm lý đã nhiệt tình giảng dạy cho em nhiều kiến thức bổ ích, tạo điều
kiện cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đồng thời chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu và các
cô giáo cùng các cháu trường mầm non Quỳnh Lưu– huyện Nho Quan – tỉnh
Ninh Bình, đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng em tiến hành nghiên cứu để hoàn
thành khóa luận này.


Cuối cùng em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong
hội đồng đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của khóa luận. Do lần đầu
nghiên cứu và thời gian hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các
bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Ninh Bình, ngày 01 tháng 06 năm 2017
Người thực hiện

Nguyễn Hương Thảo
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV

: Giáo viên

GVMN

: Giáo viên mầm non

MG

: Mẫu giáo

LQVTPV

: Làm quen với tác

: Số lượng

H
PTNN

phẩm văn học
: Phát triển ngôn ngữ

SL

33
3333333333333333333333

33

33333333333333333333333


TX

: Thường xuyên

PGS.TS

: Phó giáo sư. Tiến sĩ

ĐK

: Đôi khi

PTGT

: Phương tiện giao

GDMN

thông
: Giáo dục mầm non

TPVH

: Tác phẩm văn học

NXB

: Nhà xuất bản

KBG

: Không bao giờ

X

: Giá trị trung bình

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Thang đánh giá mức độ phát triển vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu, cơ cấu
ngữ pháp của trẻ
Bảng 2. Đánh giá của GV về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát triển
nhân cách của trẻ 3-4 tuổi
Bảng 3. Đánh giá của giáo viên về các hoạt động nhằm phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 3-4 tuổi
Bảng 4: Các nguồn giáo viên sưu tầm, lựa chọn và sử dụng TPVH nhằm phát
triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi
Bảng 5. Các biện pháp để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động
LQVTPVH
Bảng 6. Đánh giá của giáo viên về những yêu cầu cầu cần đảm bảo khi lựa
chọn, sử dụng các tác phẩm văn học để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi
Bảng 7: Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi trong hoạt động
LQVTPVH
Bảng 8: Các mặt phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động
LQVTPVH
Bảng 9: Đánh giá của giáo viên về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi
thông qua hoạt động LQVTPVH ........................................................................48
44
444444444444444444444

44

444444444444444444444444


Bảng 10. Những khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động LQVTPVH nhằm
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi
Bảng 11. Kết quả phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổibiểu hiện ở các mặt vốn
từ, ngữ âm, ngữ pháp ..............................................................................................
Bảng 12. Kết quả phát triển ngôn ngữ của trẻ biểu hiện ở ngữ điệu của trẻ 3-4
tuổi
Bảng 13. Tổng hợp kết quả phát triển ngôn ngữ của trẻ biểu hiện ở các mặt vốn
từ, ngữ âm, ngữ điệu, ngữ pháp của trẻ 3-4 tuổi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ phát triển vốn từ thông qua hoạt động LQVTPVH của bé
gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu
Biểu đồ 2.2: Mức độ phát triển ngữ âm thông qua hoạt động LQVTPVH của bé
gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu
Biểu đồ 2.3: Mức độ phát triển ngữ pháp thông qua hoạt động LQVTPVH của
bé gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu
Biểu đồ 2.4: Mức độ phát triển ngữ điệu thông qua hoạt động LQVTPVH của
bé gái và bé trai 3-4 tuổi tại trường mầm non Quỳnh Lưu

55
55555555555555555555555555555555555555555555

55

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy của con người, có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển cá nhân và xã hội loài người. Các
tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ: “Trước hết là lao động, sau lao
động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai động lực chủ yếu đã biến
bộ óc con vượn thành bộ não người” [19;65].
Với trẻ em nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng, ngôn ngữ chính là phương
tiện để nhận thức, để tư duy, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, nó đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển trí tuệ và các quá trình tâm lí khác, tạo tiền đề vững
chắc trong việc học tập ở trường phổ thông, sự hình thành và phát triển nhân
cách cho trẻ sau này. Bên cạnh đó, ngôn ngữ còn là phương tiện để điều khiển,
điều chỉnh hành vi giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức và hình thành thói quen
hành vi đạo đức theo các chuẩn mực xã hội.
Sự PTNN trong những năm tháng đầu đời của mỗi cá nhân có ý nghĩa
quan trọng, đây là thời điểm tốt để rèn luyện phát âm chuẩn, phát triển vốn từ,
cơ cấu ngữ pháp... cho trẻ. Trong ba năm đầu của cuộc sống, quá trình trưởng
thành của vùng não về tiếng nói cơ bản đã kết thúc, trẻ nắm được các hình thức
ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ, tích lũy được một vốn từ khá lớn, tri giác được các
âm của tiếng mẹ đẻ, cấu trúc nhịp điệu, âm điệu của từ, câu, lời nói. Nắm vững
tiếng nói là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để trẻ có thể hình thành, phát
triển hoàn thiện toàn bộ các chức năng tâm lý. Từ ba đến sáu tuổi, trong những
điều kiện thuận lợi, trẻ nắm được hệ thống ngữ âm, ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ
và trên cơ sở này phát triển nhanh chóng vốn từ. Do đó, việc PTNN cho trẻ cần
được thực hiện càng sớm càng tốt, việc dạy và học tiếng mẹ đẻ có thể nói nên
thực hiện bắt đầu từ lúc lọt lòng ở gia đình, trường mầm non và môi trường xã
hội khác.
GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng
trong việc giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện, thực hiện việc nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non nhằm thực hiện mục tiêu
66


giáo dục: giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành
những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một. Trường
mầm non là môi trường thuận lợi để thực hiện việc dạy tiếng mẹ đẻ- phát triển
ngôn ngữ cho trẻ hệ thống, khoa học.
Việc dạy tiếng mẹ đẻ, PTNN cho trẻ em ở mỗi độ tuổi có yêu cầu riêng về
mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức... Đối với trẻ 3-4 tuổi, đây là thời
kỳ phát cảm ngôn ngữ, vốn từ của trẻ tăng nhanh do đặc điểm tâm lý lứa tuổi,
do hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này là vui chơi, tần suất sử dụng ngôn ngữ
trong trong sinh hoạt, vui chơi và học tập tăng lên đáng kể, đặc biệt là ngôn ngữ
nói. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn này cũng cc̣n nhiều
hạn chế như: các lỗi về phát âm, hiện tượng mất cân bằng về số lượng từ, loại
từ; sử dụng cấu trúc ngữ pháp của trẻ chưa chuẩn. Chính vì vậy, đây là thời
điểm cần quan tâm đặc biệt để rèn luyện và PTNN cho trẻ, khắc phục những
hạn chế trong ngôn ngữ giúp trẻ tiến tới hoàn thiện tiếng mẹ đẻ.
Việc PTNN cho trẻ 3-4 tuổi được thực hiện tích hợp trong nhiều hoạt
động: hoạt động học có chủ đích, hoạt động vui chơi, hoạt động ngoài trời...
Trong đó, LQVTPVH là một trong những hoạt động giúp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ hữu hiệu. Đây là hoạt động được trẻ yêu thích, trẻ được đọc thơ, nghe kể
chuyện và kể chuyện, đóng kịch, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái tốt, cái
xấu... của mọi vật xung quanh; trẻ được trình bày suy nghĩ, ý kiến của mình,
được tạo cơ hội, được khuyến khích để kể về những sự vật, sự kiện nào đó bằng
chính ngôn ngữ của bản thân mình.
Khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữ, giáo viên cần phát
huy được tính tích cực, tạo điều kiện cho trẻ được luyện tập khả năng biểu cảm,
phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩ của mình, đồng thời hiểu
ngôn ngữ của những người xung quanh trong các tình huống sinh hoạt học
tập… PTNN cho trẻ mẫu giáo là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở trường
mầm non, đặc biệt là GVMN, góp phần thực hiện mục tiêu GDMN, chuẩn phát
triển đối với trẻ 5 tuổi, chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ tới trường phổ thông.
Một trong những hoạt động GV có thể giúp trẻ phát triển vốn từ, rèn luyện ngữ

77


âm, ngữ điệu, sử dụng cơ cấu ngữ pháp phù hợp, tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn,
phát huy tính tích cực của trẻ, đó là cho trẻ LQVTPVH.
Trong những năm gần đây, ở trường Đại học Hoa Lư đã có một khóa luận
tốt nghiệp đề cập tới vấn đề PTNN nhưng chỉ tập trung ở độ tuổi 5-6 tuổi ở
trường mầm non Yên Phong, Yên Mô và trường mầm non Ninh Khánh, thành
phố Ninh Bình. Ở trường mầm non Quỳnh Lưu -Nho Quan- Ninh Bình chưa có
đề tài, sáng kiến kinh nghiệm hay một nghiên cứu nào đề cập đến PTNN cho trẻ
em lứa tuổi mầm non. Mặt khác, trong quá trình PTNN cho trẻ, giáo viên ở
trường mầm non Quỳnh Lưu còn gặp những khó khăn nhất định như: lớp học
quá đông, nhận thức của trẻ không đồng đều, khả năng nghe hiểu, diễn đạt bằng
ngôn ngữ của trẻ hạn chế,...Việc nghiên cứu thực trạng PTNN cho trẻ 3-4 tuổi,
phân tích nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng, tìm kiếm những biện pháp giúp nâng
cao hiệu quả PTNN cho trẻ trở thành mục tiêu, nhiệm vụ của mỗi GVMN. Xuất
phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển
ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH ở trường mầm
non Quỳnh Lưu- Nho Quan- Ninh Bình”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt
động LQVTPVH ở trường mầm non Quỳnh Lưu- Nho Quan- Ninh Bình nhằm
đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi.
3. Đối tượng nghiên cứu
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH ở
trường mầm non Quỳnh Lưu- Nho Quan - Ninh BB́nh.
4. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi sau:
- 45 trẻ 3-4 tuổi và 13 GVMN đã và đang giảng dạy lớp 3-4 tuổi ở trường
mầm non Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
- Nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi về các mặt
ngữ âm, ngữ điệu, vốn từ, cơ cấu ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ thông qua hoạt động
LQVTPVH ở chủ đề giao thông; chủ đề nước và các hiện tượng tự nhiên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017.
88


5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi
thông qua hoạt động LQVTPVH.
- Tìm hiểu thực trạng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua
hoạt động LQVTPVH ở trường mầm non Quỳnh Lưu -Nho Quan.
- Bước đầu đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4
tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH ở trường mầm non.
6. Giả thuyết khoa học
Ở trường mầm non Quỳnh Lưu - Nho Quan - Ninh Bình đã thực hiện việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH nhưng hiệu
quả còn hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nếu có các biện
pháp tác động phù hợp việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ sẽ được nâng cao.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Thu thập các tài liệu liên quan đến đề tài.
- Đọc, phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa vấn đề có liên quan đến đề
tài nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
- Quan sát việc tổ chức hoạt động LQVTPVH nhằm phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 3-4 tuổi của GVMN ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
- Quan sát những biểu hiện phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi: khả năng
phát âm, ngữ điệu, vốn từ, cơ cấu ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ, các lỗi ngôn ngữ
của trẻ 3-4 tuổi bộc lộ khi tham gia hoạt động LQVTPVH và trong sinh hoạt hàng
ngày của trẻ ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Sử dụng một hệ thống câu hỏi (đóng, mở) dành cho GVMN đã và đang
dạy lớp mẫu giáo 3-4 tuổi, nhằm tìm hiểu nhận thức của giáo viên về ý nghĩa,
vai trò của hoạt động LQVTPVH đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4
tuổi và tìm hiểu thực trạng phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt
động LQVTPVH ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
99


7.2.3. Phương pháp đàm thoại
- Trò chuyện, trao đổi với GVMN và trẻ nhằm thu thập các thông tin có
liên quan đến vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động
LQVTPVH ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
- Trao đổi, trò chuyện với trẻ về mức độ hứng thú, các nội dung liên quan
đến các tác phẩm văn học làm rõ hơn về mức độ hiểu, vốn từ, ngữ âm, ngữ điệu,
ngữ pháp của trẻ.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch giảng dạy, giáo án tổ chức hoạt động LQVTPVH
của giáo viên dạy lớp mẫu giáo 3-4 tuổi ở trường mầm non Quỳnh Lưu, Nho
Quan, Ninh Bình.
7.2.5. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Khảo sát và tìm hiểu những kinh nghiệm về việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH của các GV mầm non ở trường
mầm non Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lý các số liệu đã thu thập được một cách
khách quan.
Các phương pháp trên được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ, bổ
sung, hỗ trợ cho nhau.

10
10


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ 3-4 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LQVTPVH
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là cả kho tàng trí tuệ của con người và là tài sản quý báu của
nhân loại. Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người,
đặc biệt là trẻ em. Nó tồn tại, phát triển cùng với sự thay đổi và phát triển của
con người. Ngôn ngữ cũng là vấn đề mà có rất nhiều các nhà khoa học từ các
lĩnh vực khác nhau đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu như: Tâm lí học, triết học, xã hội
học, ngôn ngữ học, giáo dục học…
Ngay từ những năm cuối thập kỉ 70 của thế kỉ trước, phương pháp phát
triển lời nói trẻ em được nhiều nhà sư phạm nổi tiếng ở Liên Xô nghiên cứu rất
kĩ lưỡng. Những công trình này đã vào Việt Nam khá sớm, tiêu biểu là cuốn
sách Phát triển ngôn ngữ trẻ em dưới tuổi đến trường phổ thông của tác giả
E.I.Chikhiêva, một nhà sư phạm Nga - Xô Viết được coi như một tài liệu giảng
dạy chính trong các trường sư phạm mẫu giáo Việt Nam, cùng với đó là nhiều
tác giả Nga khác với những đóng góp quan trọng trong việc hình thành chuyên
ngành Phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em ở nước ta như: Xôkhin với tác
phẩm Phương pháp phát triển lời nói trẻ em (Nhà xuất bản Giáo dục Matxcơva,
1979), Những cơ sở tâm lí-giáo dục học của việc phát triển lời nói trẻ em
(Matxcơva, 2002), Bogolupxcaia M.K và Tsepsenko V.V với Đọc và kể chuyện
văn học ở vườn trẻ...
Ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ trước, bắt đầu có những cuốn
giáo trình đầu tiên về Phương pháp phát triển lời nói trẻ em được sử dụng trong
các trường đào tạo GVMN như: Tập thể tác giả Lương Kim Dung, Phùng Ngọc
Kiếm, Nguyễn Xuân Khoa với cuốn Tiếng Việt, văn học và phương pháp giáo
dục- NXB Giáo Dục Hà Nội (1988); Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ
Lam Hồng với giáo trình Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ
em- Trung tâm nghiên cứu đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, Hà Nội (1993);
11
11


Nguyễn Xuân Khoa với cuốn Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo- NXB Đại học quốc gia Hà Nội (1999) ( Có thể coi đây là cuốn giáo trình
đại học đầu tiên ở nước ta thuộc lĩnh vực này); Hà Nguyễn Kim Giang với các
cuốn: Kể sáng tạo truyện cổ tích cho trẻ mẫu giáo- NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội (1999), Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học-một số vấn đề lí luận và
thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội ( 2002)...
Đến nay, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho trẻ
em lứa tuổi mầm non. Một số luận văn, luận án về phát triển ngôn ngữ ở trường
mầm non, có thể kể đến các luận án tiến sĩ: Lưu Thị Lan: Những bước phát
triển của ngôn ngữ trẻ mẫu giáo (1997); Hà Nguyễn Kim Giang: Phương pháp
kể sáng tạo truyện cổ tích thần kì cho trẻ mẫu giáo (1995)...; Một số luận án
thạc sĩ: Ân Thị Hảo: Một số biện pháp dạy trẻ kể lại truyện văn học nhằm phát
triển ngôn ngữ mạch lạc (2003); Đinh Hồng Thái: Phát triển ngôn ngữ mạch
lạc cho trẻ mẫu giáo, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số: B 2003-75-85,
Hà Nội (2005); .... Cũng có nhiều khoá luận tốt nghiệp của sinh viên khoa Giáo
dục mầm non tại các trường đại học trên cả nước cũng là kết quả của nghiên
cứu ngôn ngữ trẻ em và các phương pháp, biện pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em.
Trong vài năm trở lại đây xuất hiện một loạt các cuốn giáo trình đại học và cao
đẳng như: Đinh Hồng Thái với Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mầm non, NXB Giáo dục (2014); Trịnh Thị Hà Bắc với Lý luận và
phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, NXB Đại học sư phạm Huế
(2013); Hà Nguyễn Kim Giang với Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen
với tác phẩm văn học, NXB Giáo dục (2015)...
Nhìn chung, những đề tài và công trình nghiên cứu trên đây đều dựa vào
đặc điểm phát triển của trẻ em Việt Nam, đưa ra các phương pháp, biện pháp cụ
thể, phù hợp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ em. Đó cũng chính là những
đóng góp quan trọng trên cả hai phương diện lí luận và thực tiễn, giúp thúc đẩy
sự phát triển của chuyên ngành phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em ở nước
ta. [17; tr 7-11].

12
12


1.2. Cơ sở lí luận của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ em
1.2.1. Khái niệm ngôn ngữ
1.2.1.1. Các quan điểm khác nhau về ngôn ngữ
- Theo tác giả Trần Trọng Thuỷ: “Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử
dụng một thứ ngữ ngôn nào đó để giao tiếp” (Ngữ ngôn là một hệ thống kí hiệu
từ ngữ có chức năng là một phương tiện của giao tiếp, một công cụ của tư duy)
[19; 127].
- Theo“ Ngôn ngữ học đại cương”của tác giả Saussure biên soạn, NXB
khoa học xã hội thì Ngôn ngữ là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được
tập thể xã hội chấp nhận. Ðó là một kho tàng được thực tiễn nói năng của những
người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một
hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay nói cho
đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể.
Trong hệ thống ngôn ngữ, ngữ âm là phương diện đầu tiên là cơ sở để tạo
từ, câu và văn bản. Ngữ âm bao gồm toàn bộ hệ thống âm vị, âm tiết, chính âm
và chính tả. Từ hệ thống âm vị, chúng ta có hệ thống chữ cái để ghi âm. Ngữ
âm cung cấp cho người học không chỉ hệ thống âm vị mà còn cung cấp cách
phát âm đúng và viết đúng Tiếng Việt.
Từ vựng là kho từ, vốn từ của một ngôn ngữ bao gồm các từ và các đơn
vị tương đương với từ (cụm từ cố định). Từ vựng là một bộ phận quan trọng
của hệ thống ngôn ngữ, nó phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của
xã hội. Mỗi một sự vật, hiện tượng mới ra đời là kho từ vựng Tiếng Việt lại
được bổ sung một từ mới. Mỗi từ trong hệ thống bao giờ cũng đối lập với các
từ còn lại, đồng thời chỉ có giá trị khi được xét trong mối tương quan với các từ
khác trong hoạt động hành chức.
Ngữ pháp là toàn bộ các quy tắc chủ yếu trong sử dụng ngôn ngữ. Việc
tạo ra các quy tắc chính trong một ngôn ngữ riêng biệt là ngữ pháp của ngôn
ngữ đó. Vì vậy mỗi ngôn ngữ có một ngữ pháp riêng biệt của nó. Ngữ pháp là
một cách thức để hiểu về ngôn ngữ. Mặc khác, ngữ pháp còn là một công cụ để

13
13


quản lý từ ngữ, chuyển tải một nội dung thông báo trọn vẹn từ người nói (người
viết) đến người nghe (người đọc).
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt chỉ có ở con người, là công cụ
để tư duy, là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Ngôn ngữ
thực chất là hệ thống ký hiệu tượng trưng về sự vật, hiện tượng, những thuộc tính
và quan hệ giữa chúng, được con người quy ước và sử dụng trong giao tiếp giữa
con người - con người; là hệ thống tín hiệu dùng để tư duy và giao tiếp xã hội; nó
vừa mang đặc điểm xã hội, vừa mang đặc điểm cá nhân.
Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nói nào đó để
giao tiếp. Nói cách khác ngôn ngữ là sự giao tiếp bằng tiếng nói. Tiếng nói là
đối tượng nghiên cứu- của ngôn ngữ học- khoa học về tiếng. Ngôn ngữ là một
quá trình tâm lý, nó là đối tượng của tâm lý học.
Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ thể hiện ở cách phát âm, giọng điệu,
vốn từ, phong cách ngôn ngữ và các đặc điểm ngôn ngữ cá nhân thể hiện trong
giao tiếp như tính cởi mở, tính kín đáo, lắm lời , tính hùng biện v.v.
Ngôn ngữ không có sẵn mà được hình thành cũng quá trình xã hội hoá trẻ
em thông qua hoạt động và giao tiếp. PTNN cho trẻ mẫu giáo chính là cung cấp
phương tiện để trẻ giao tiếp, học tập; trang bị cho trẻ công cụ để tư duy.
1.2.1.2. Chức năng của ngôn ngữ.
* Chức năng chỉ nghĩa
Ngôn ngữ được dùng làm vật thay thế để chỉ nghĩa cho sự vật, hiện
tượng, tức là sự vật hiện tượng có thể tồn tại bằng chất liệu của ngôn ngữ làm
cho con người có thể nhận thức được sự vật hiện tượng khi không còn bản thân
nó trước mặt.
Các kinh nghiệm của lòai người cũng được cố định lại, được tồn tại và
truyền đạt cho thế hệ sau nhờ ngôn ngữ. Chính vì chức năng chỉ nghĩa của ngôn
ngữ còn được gọi là chức năng làm phương tiện lưu giữ, truyền đạt và lĩnh hội
kinh nghiệm xã hội lịch sử.
Những điều đó cho thấy rằng ngôn ngữ của con người khác hẳn tiếng kêu
của con vật. Về bản chất con vật không có ngôn ngữ.
14
14


* Chức năng thông báo
Ngôn ngữ dùng để truyền đạt, và tiếp nhận thông tin để biểu cảm và nhờ
đó thúc đẩy, điều chỉnh họat động của con người, Nhờ có ngôn ngữ con người
thông báo cho nhau, giao tiếp với nhau.
* Chức năng khái quát hóa
Chức năng khái quát hóa được thể hiện ở chỗ, từ ngữ không chỉ một sự
vật, hiện tượng riêng rẽ mà nó đại diện cho một loại sự vật hiện tượng có chung
các thuộc tính cơ bản, nhờ vậy ngôn ngữ trở thành một phương tiện đắc lực cho
hoạt động trí tuệ. Nói cách khác ngôn ngữ là vỏ bọc của trí tuệ, hay ngôn ngữ là
hình thức tồn tại và biểu hiện của trí tuệ.
Ngôn ngữ có hai chức năng chính đó là công cụ của giao tiếp và công cụ
của tư duy.
Có thể phân chia ngôn ngữ thành: Ngôn ngữ bên ngoài (nói, viết) và ngôn
ngữ bên trong (ngôn ngữ thầm).
1.2.1.3. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ em
* Vai trò ngôn ngữ đối với nhận thức
Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh. Có nhiều phương tiện để
nhận thức thế giới xung quanh nhưng ngôn ngữ là phương tiện nhận thức hữu
hiệu. Thông qua lời nói của người lớn trong quá trình giao tiếp, trẻ em có thể
làm quen với các sự vật, hiện tượng, biết được những đặc điểm, tính chất, cấu
tạo, công dụng tương ứng của chúng. Do đó, ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu
biết về thế giới xung quanh. Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã
được hình thành. Hơn nữa, thông qua sự phát triển của ngôn ngữ giúp cho hoạt
động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích trẻ tích
cực, sáng tạo hoạt động trí tuệ. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt
động trí tuệ do vậy việc phát triển trí tuệ không thể tách rời với việc phát triển
ngôn ngữ, cụ thể như sau.
- Đối với cảm giác: Khi ngôn ngữ tác động đồng thời tới sự vật hiện
tượng sẽ làm cho quá trình cảm giác diễn ra nhanh hơn, hình ảnh do cảm giác
đem lại có thể rõ ràng hơn, đậm nét hơn, chính xác hơn. Bằng tác động của
15
15


ngôn ngữ có thể gây ra cảm giác trực tiếp ở con người. Dưới tác động của ngôn
ngữ sẽ làm thay đổi tính nhạy cảm của cảm giác và ngưỡng của cảm giác.
- Đối với tri giác: Ngôn ngữ làm cho tri giác con người diễn ra dễ dàng,
nhanh chóng, khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn. Nhờ ngôn ngữ có thể tiến
hành tri giác tích cực, có chủ định và mục đích được điều khiển bởi ý thức.
- Đối với trí nhớ: Ngôn ngữ tham gia tích cực vào hoạt động của trí nhớ làm
cho việc ghi nhớ, giữ gìn và nhớ lại của con người trở nên có chủ định, có ý nghĩa.
- Đối với tư duy: Ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng, ngôn ngữ gắn
chặt vơí tư duy làm cho tư duy của con người khác về chất so với tư duy của
con vật. Ngôn ngữ là phương tiện để con người tiếp thu nền văn hoá xã hội nâng
cao hiểu biết và kinh nghiệm của con người. Không có ngôn ngữ thì không có
tư duy. Ngược lại không có tư duy thì ngôn ngữ không thể phát triển.
- Đối với tưởng tượng: Quá trình tạo ra những biểu tượng mới luôn gắn với
ngôn ngữ bên trong. Không có ngôn ngữ thì không thể tiến hành tưởng tượng,
chính nhờ ngôn ngữ mà quá trình tưởng tượng là một quá trình có ý thức, được
điều khiển tích cực và có chất lượng cao. Ngôn ngữ giúp cho con người chính xác
hoá hình ảnh của tưởng tượng đang nảy sinh và giữ chúng lại trong trí nhớ.
Ngôn ngữ giúp phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ,
ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi… Chính vì thế ngôn ngữ
có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ trở thành những con
người phát triển toàn diện về các mặt thể lực, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển thể lực
Ngôn ngữ đóng góp một vai trò quan trọng đáng kể trong việc phát triển thể
lực cho trẻ em. Trong các hoạt động góp phần phát triển thể lực như các trò chơi
vận động, các giờ thể dục, trong chế độ ăn ... giáo viên đều cần dùng đến ngôn ngữ
để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu cần đạt. Hoạt động nói năng liên
quan đến các cơ quan hô hấp, thính giác, bộ máy phát âm... Quá trình phát âm là
quá trình rèn luyện bộ máy cấu âm, rèn luyện phổi, khí quản và các bộ phận khác
của cơ thể. Để có thể lực tốt mỗi cá nhân cần có một chế độ vệ sinh hợp lí.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức
16
16


Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong việc hình thành và điều chỉnh những
hành vi của trẻ. Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên, không nên… qua đó
rèn luyện những phẩm chất đạo đức tốt ở trẻ, dần dần hình thành ở trẻ những
khái niệm ban đầu về đạo đức.
Ngôn ngữ có tác dụng to lớn trong việc hình thành những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp ở trẻ. Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào việc trang bị cho trẻ
những hiểu biết về những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, rèn luyện cho trẻ
những tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với xã hội mà trẻ đang sống.
* Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có
hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái
đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ
lòng yêu cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp. Thông qua ngôn ngữ, trẻ nhận thức
được cái đẹp ở thế giới xung quanh, qua đó làm cho tâm hồn trẻ càng thêm bay
bổng, trí tưởng tượng càng phong phú; đồng thời trẻ càng yêu quý cái đẹp, trân
trọng cái đẹp và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp.
Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong
ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, cái đẹp trong cuộc sống. Có thể
khẳng định rằng ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ vào quá trình giáo dục cho
trẻ những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp.
1.2.2. Phát triển ngôn ngữ
Phát triển ngôn ngữ được hiểu là quá trình lĩnh hội chức năng và cấu trúc
của ngôn ngữ và cùng với ngôn ngữ là các quy ước của xã hội trong việc sử
dụng ngôn ngữ để bày tỏ và tiếp nhận suy nghĩ, cảm xúc và ý tưởng.
Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ:
-

Luyện cho trẻ phát âm đúng, rõ ràng, biểu cảm âm thanh tiếng mẹ đẻ
Làm giàu, củng cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ
Giúp trẻ nói đúng cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt
Dạy trẻ nói rõ ràng, mạch lạc
Giúp trẻ làm quen với chữ cái ghi âm tiếng Việt [15; tr 16].

1.2.3. Cơ sở khoa học của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ em
17
17


1.2.3.1. Cơ sở tâm lý học
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi dựa trên những yếu tố bên ngoài và
bên trong của trẻ em, cụ thể là
* Đặc điểm tư duy của trẻ
Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính, bản chất,
những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong thế giới
khách quan mà trước đó ta chưa biết.
Ở lứa tuổi mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi, tư duy của trẻ đã đạt đến ranh giới của
tư duy trực quan hình tượng, trẻ phải dựa vào những hình ảnh, biểu tượng đã có,
kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra những vấn đề mới. Đây là điều kiện thuận
lợi giúp trẻ cảm thụ tốt những hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm nghệ
thuật: thơ ca, truyện kể... Những câu thơ hay, giàu cảm xúc, những hình tượng
nghệ thuật đẹp về con người, thế giới xung quanh thông qua những câu chuyện
kể... tất cả đều có hồn, sống động đã trở nên thực hấp dẫn, lôi cuốn khiến trẻ trở
nên say mê, hoà mình vào thế giới đó, bởi chính những yếu tố đó rất phù hợp với
tư duy trực quan hình tượng đang xuất hiện ở trẻ.
* Đặc điểm tưởng tượng của trẻ
Trẻ 3-4 tuổi, tưởng tượng tái tạo là chủ yếu. Trẻ thường tưởng tượng dựa
trên những ấn tượng đã có trước. Cái gì trẻ thích hoặc gây trẻ ấn tượng mạnh
mẽ thì tưởng tượng cái đó - tức nó trở thành đối tượng của tưởng tượng. Chẳng
hạn: trẻ thích làm mẹ chăm sóc con thì tưởng tượng mình là mẹ chăm sóc con,
thích làm bác sĩ thì tưởng tượng mình là bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân, thích
con mèo đáng yêu thì sẽ vẽ con mèo... Tuy vậy, trí tưởng tượng của trẻ không vì
thế mà kém phong phú, kém màu sắc bởi dưới con mắt trẻ thơ, mọi vật đều trở
nên sống động, có hồn. Vì vậy, khi được tiếp xúc với các tác phẩm văn học, trí
tưởng tượng của trẻ có điều kiện phát triển, nó giúp làm giàu vốn từ, biểu tượng
về thế giới xung quanh, thoả mãn trí tò mò, ham hiểu biết của trẻ.
* Khả năng chú ý của trẻ
Ở trẻ 3-4 tuổi, chú ý không chủ định là chủ yếu, trẻ thường chú ý đến
những đối tượng gây kích thích mạnh hoặc gây cho trẻ sự ngạc nhiên, nhất là
18
18


tạo ra một sự hứng thú. Chẳng hạn, khi tìm hiểu môi trường xung quanh những
đối tượng xuất hiện bất ngờ, mới lạ... thường gây cho trẻ chú ý tới nó, xem xét
nó hoặc câu chuyện cô kể dưới hình thức sinh động hấp dẫn sẽ gây cho trẻ sự
chú ý nghe câu chuyện cô kể...
Việc tổ chức các hoạt động giáo dục có ý nghĩa quyết định trong sự phát
triển chú ý không chủ định của trẻ. Chính vì thế, khi tổ chức các hoạt động giáo
dục, đặc biệt là hoạt động LQVTPVH giáo viên cần gây ấn tượng mạnh, lôi
cuốn, hấp dẫn trẻ vào các tác phẩm văn học, cho trẻ được trực tiếp tham gia hoạt
động với đối tượng để làm tăng tính bền vững chú ý của trẻ.
* Xúc cảm- tình cảm của trẻ
Ở tuổi mẫu giáo bé 3-4 tuổi, tình cảm chi phối mạnh mẽ đời sống của trẻ
và đóng vai trò lớn lao trong sự phát triển toàn bộ nhân cách của trẻ. Trẻ sống
rất tình cảm, luôn có nhu cầu đòi hỏi mọi người biểu hiện tình cảm tốt đẹp với
mình...Ngược lại trẻ cũng mong muốn biểu hiện tình cảm của trẻ với người
khác. Những tình cảm của trẻ với người xung quanh được chuyển sang với các
nhân vật trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, những truyện cổ tích, truyện
kể… Trẻ thông cảm với nỗi bất hạnh của các nhân vật trong truyện không khác
gì nỗi bất hạnh của mình, giận những nhân vật có biểu hiện tiêu cực và muốn
bảo vệ nhân vật trẻ thích. Vì thế, thông qua việc phát triển xúc cảm- tình cảm
trong hoạt động LQVTPVH ở trường mầm non, ngôn ngữ của trẻ được phát
triển, nó cũng tạo nền tảng để giáo dục đạo đức cho trẻ, giúp trẻ lĩnh hội được ý
nghĩa, chuẩn mực đạo đức tốt đẹp để trẻ học làm người.
1.2.3.2. Cơ sở giáo dục học
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ có mối quan hệ mật thiết với giáo dục học.
Giáo dục học là cơ sở để xác định nội dung và phương pháp tốt nhất để
dạy trẻ nghe hiểu, biểu đạt ngôn ngữ. Thông qua hoạt động, giao tiếp, đặc biệt là
thông qua quá trình giáo dục, ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển
1.2.3.3. Cơ sở ngôn ngữ học
Ngôn ngữ được cấu thành từ các tiểu hệ thống đó là âm thanh, ngữ
nghĩa, cấu trúc chung và cách sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Biết một
19
19


ngôn ngữ là nắm được tất cả các lĩnh vực trên và sử dụng chúng, tổng hợp
chúng vào hệ thống giao tiếp sinh hoạt.
Thành tố 1: Thành tố đầu tiên là phát âm, hệ thống âm thanh của ngôn
ngữ tức là dạy trẻ phát âm các âm tiết của tiếng việt, phát âm các từ trong câu,
cách phát âm cả câu và cách phát âm một văn bản nên hạ giọng, nhấn mạnh từ,
kéo dài từ để khi phát âm thể hiện sự hiểu biết tình cảm cũng như thái độ của
người nói.
Thành tố 2: Ngữ nghĩa bao gồm vốn từ hay là cách thức một khái niệm
nào đó được diễn đạt trong từ hay một tập hợp từ. Khi trẻ mới sử dụng từ, từ
đó thường không có ý nghĩa giống như của người lớn. Trẻ xây dựng vốn từ từ
hàng ngàn từ và liên kêt chúng bằng mạng lưới các khái niệm có liên quan với
nhau. Lớn dần lên, trẻ không những sử dụng từ một cách chính xác hơn, mà
còn luôn luôn có ý thức với ngữ nghĩa của từ mà liên kết chúng bằng mạng
lưới các khái niệm có liên quan với nhau.
Thành tố 3: Khi trẻ lĩnh hội vốn từ, trẻ bắt đầu liên kết các từ theo một quy
luật nhất định để thực hiện một ý nghĩa nào đó. Kiến thức về ngữ pháp có hai
thành phần: cú pháp (là những quy luật liên kết từ tạo thành câu) và từ pháp.
Thành tố 4: Tình hình sử dụng ngôn ngữ hay gọi là tính thực tiễn tức là
nói đến mặt giao tiếp của ngôn ngữ. Để giao tiếp có hiệu quả trẻ em phải học
cách tham gia vào hoạt động giao tiếp, tiếp tục phát triển chủ đề giao tiếp thể
hiện ý kiến, ý nghĩ của mình một cách rõ ràng. Thêm vào đó trẻ phải biết sử
dụng cả yếu tố ngữ điệu, âm điệu và những yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu
bộ) vào lời nói để tăng hiệu quả của lời nói. Tính thực tiễn cũng bao gồm kiến
thức về ngôn ngữ và xã hội bởi vì xã hội luôn luôn quy định cách thức giao lưu
trong một xã hội nhất định theo cấp bậc tuổi tác, các quan hệ xã hội, cách chào
hỏi, cách làm quen.
PTNN cho trẻ bao gồm tất cả các kiến thức về ngôn ngữ học. Kiến thức
về ngôn ngữ học sẽ là những kiến thức cơ sở giúp cho các nhà giáo dục hiểu
đúng nhiệm vụ, nội dung, tìm ra các phương pháp, biện pháp hữu hiệu để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Bộ môn phương pháp PTNN cho trẻ có mối quan hệ
20
20


khăng khít với ngôn ngữ học bởi vì nó là khoa học ứng dụng của ngôn ngữ
học. Ngôn ngữ được cấu thành từ các tiểu hệ thống đó là âm thanh, ngữ nghĩa,
cấu trúc chung và cách sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Biết một ngôn ngữ
là nắm được tất cả các lĩnh vực trên và sử dụng chúng, tổng hợp chúng vào hệ
thống giao tiếp sinh hoạt.
1.2.3.4. Cơ sở sinh lý học
Ngôn ngữ có cơ sở sinh lí. Hoạt động lời nói có cơ sở sinh lí học. Đây là
cơ sở tự nhiên của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển của bán cầu đại não
và hệ thần kinh nói chung, bộ máy phát âm nói riêng. Ở trẻ 3-4 tuổi, là thời kì
phát triển và đang hoàn thiện nhiều cơ quan trong cơ thể đặc biệt là hệ thần kinh
và bộ máy phát âm. Nhờ có sự hoàn thiện của hệ thần kinh nên tư duy trực quan
hình tượng ở trẻ xuất hiện và phát triển. Cùng với sự phát triển của tư duy, bộ
máy phát âm của trẻ như tai, họng, hầu, thanh quản.. cũng đang dần hoàn thiện
cả về cấu tạo và chức năng do đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển
1.3. Một số đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi
1.3.1. Sự phát triển ngữ âm, vốn từ, ngữ điệu, cơ cấu ngữ pháp
Trẻ 3-4 tuổi ngôn ngữ đang trong thời kì phát triển mạnh.
- Ngữ âm, ngữ điệu : Ở thời kì này, trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm, các
phụ âm đầu, âm cuối, âm đệm, thanh điệu dần dần được định vị. Trẻ cũng đã
biết phát âm các âm vị của tiếng mẹ đẻ. Trẻ đã biết cách điều chỉnh nhịp điệu,
cường độ giọng nói khi giao tiếp trong một số hoàn cảnh cho phù hợp, lời nói
của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn. Tuy vậy, khi nói trẻ 3 tuổi đôi khi còn nói
chậm và kéo dài giọng, đôi khi còn ậm ừ, ê, a nói không liên tục, không mạch
lạc. [15;33].
Ở trẻ 3-4 tuổi vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn nhầm lẫn khi
phát âm một vài phụ âm và nguyên âm ( x-s, ch-t, ươ, uô, ie…) và thanh điệu
( ?, ~). Trẻ cũng hay thay đổi nguyên âm đôi thành nguyên âm đơn. (Ví dụ:
Chiếp chiếp = chip chip, khoanh tay = khanh tay…). Âm vị trẻ phát âm chưa
chính xác hoặc ít phát âm ở đầu tuổi mẫu giáo là âm: t, d, kh, th, h… Trẻ mẫu
21
21


giáo 3-4 tuổi thường thay thế các âm vị (Ví dụ: Thịt = xịt, Tôm to = chôm cho,
Mẹ Liên = mẹ nhiên…).
Để trẻ phát âm đúng, cô giáo mẫu giáo cần luyện tập riêng cho trẻ, giúp
trẻ phân biệt và lặp lại đúng âm vị khó, dạy trẻ dùng thính giác phân tích các âm
vị nghe được. Trẻ 3-4 tuổi nhạy bén trong việc tiếp thu các đặc điểm phát âm
của người xung quanh, trẻ hay bắt chước, bắt chước khá nhanh đặc điểm phát
âm của họ. Vì vậy trong giao tiếp với trẻ, người lớn đặc biệt là cô giáo cần phát
âm chính xác, rõ ràng, mẫu mực cho trẻ học tập.
- Vốn từ: tăng lên rất nhiều. Đến năm thứ 3, các em đã sử dụng được trên
500 từ, trong đó phần lớn là danh từ, động từ, còn tính từ và những loại từ khác
thì chiếm một tỷ lệ rất ít, không đáng kể. Những từ được trẻ sử dụng thường là
những từ chỉ tên gọi đồ chơi, đồ dùng, những con vật…mà trẻ thường xuyên
tiếp xúc, những việc làm của trẻ và mọi người xung quanh (như: ăn, ngủ, đi…).
Trẻ 4 tuổi, trẻ có thể nắm được xấp xỉ 700 từ, hầu hết các loại từ đã xuất hiện
trong vốn từ của trẻ, trong đó danh từ và động từ vẫn chiếm ưu thế. Ở trẻ 3-4
tuổi, có khả năng nắm được những từ mang ý nghĩa cụ thể như những từ là tên
gọi các đồ vật trong gia đình (như: bát, đĩa, bàn…) hay tên gọi động vật, thực
vật (như: lợn, chó, gà, quả na, cây chuối…) [15;122].
Để phát triển vốn từ cho trẻ cô giáo cần tăng cường cung cấp vốn từ
phong phú trong các hoạt động, đặc biệt là hoạt động vui chơi, học tập
( LQVTPVH, Làm quen với môi trường xung quanh...).
- Ngữ pháp: Trẻ 3-4 tuổi đã biết nói đúng tiếng mẹ đẻ ở mức phổ thông.
Cấu trúc ngữ pháp tiến dần tới chỗ hoàn thiện. Trẻ 3-4 tuổi đã có đủ các loại
câu: câu 1 từ, câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần ( C-V), câu đơn mở rộng
thành phần…
+ Cuối tuổi lên 3, các dạng câu đơn của trẻ đã phong phú hơn. Câu đơn
của trẻ đã được mở rộng các thành phần khác: Bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ
Ví dụ: Cháu ăn kẹo ( Chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ)
Mai cháu đi đu quay ( Trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ)
Áo màu xanh ( Chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ)
22
22


+ Để diễn tả được những nội dung, những yêu cầu ngày càng phức tạp
hơn, trẻ cuối 3 tuổi đã bắt đầu sử dụng các loại câu ghép. Loại câu đầu tiên trẻ
sử dụng là câu ghép đẳng lập mô tả các sự vật, hiện tượng.
Ví dụ: Bạn cho cháu kẹo, chị Mai cho cháu kẹo
+ Cùng với các loại câu ghép đẳng lập, trẻ đã dần dần biết sử dụng câu
ghép chính phụ chỉ mục đích, nguyên nhân, điều kiện.
Ví dụ: Nếu cháu ngoan, mẹ sẽ cho cháu đi công viên ( điều kiện)
Cháu ngã nên tay cháu bị bẩn ( nguyên nhân)
+ Ở trẻ 3-4 tuổi, câu tường thuật chủ yếu ở mức độ kể về các sự vật với
đặc điểm của nó, kể về thời gian hành động, địa điểm, trạng thái…
Ví dụ: Áo xanh của cháu
Cháu đi bà nội
Lúc nãy cháu ăn kẹo ở lớp
+ Mặc dù trẻ 3-4 tuổi đã có tiến bộ trong việc tiếp nhận và sử dụng các
loại câu trong hệ thống câu tiếng Việt, xong trẻ còn mắc một số lỗi khi cấu trúc
câu như: Từ trong câu sắp xếp sai trật tự (Ví dụ: Cháu cài khăn vào cổ áo =
Khăn cháu cài áo); Thiếu từ trong câu, diễn đạt thiếu rõ ràng ( Ví dụ: Ông đưa
bánh cho bà = Ông bà bánh) [15; 80-83].
1.3.2. Sự phát triển các chức năng ngôn ngữ
1.3.2.1. Ngôn ngữ và giao lưu
Một trong những chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ được phát triển
ở tuổi mẫu giáo là chức năng giao lưu, ngôn ngữ trở thành phương tiện giao lưu.
Trẻ 3-4 tuổi vẫn sử dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu, ngôn ngữ gắn với tình
huống cụ thể những người giao tiếp với trẻ trong tình huống đó mới hiểu được,
những người ngoài cuộc không nắm được tình huống thì không thể hiểu nổi.
"Tính tình huống" được thể hiện trong ngôn ngữ trẻ bằng nhiều hình
thức đa dạng. Điển hình trong ngôn ngữ tình huống của trẻ là bỏ chủ ngữ, phần
lớn chủ ngữ được thay thế bằng đại từ (nó, chúng nó, bà ấy) nếu dựa vào ngữ
cảnh thì không thể xác định được các đại từ đó thuộc về ai (hoặc về cái gì).
Ngôn ngữ của trẻ cũng chứa nhiều trạng từ, những từ đó không giúp xác định rõ
23
23


hơn nội dung của câu nói, làm cho lời nói thiếu sáng sủa. Chẳng hạn trẻ nói: Ở
đấy, ở vườn bách thú nhớ, ở đấy có nhiều con khỉ, ở đấy có voi nữa nhớ, ở đấy
có nhiều cá, ở đấy có nhiều người... "ở đấy" trẻ dùng hoàn toàn mang tính hình
thức chứ không phải theo nội dung của câu nói.
Nhờ sự giúp đỡ của người lớn xung quanh dần dần trẻ đã biết dùng
ngôn ngữ mạch lạc để giao tiếp và dùng ngôn ngữ tình huống đúng lúc.
1.3.2.2. Ngôn ngữ và tư duy
Ở trẻ 3-4 tuổi nhờ ngôn ngữ của trẻ đã hòa nhập với tư duy nên ngôn
ngữ của trẻ đã biến thành phương tiện đặt kế hoạch và điều chỉnh hành vi thực
tiễn của trẻ.
Ở đầu tuổi mẫu giáo ngôn ngữ mình là trung tâm tức là ngôn ngữ xuất
hiện trong lúc trẻ hoạt động và nói với chính mình. Trong suốt tuổi mẫu giáo
ngôn ngữ mình là trung tâm biến đổi dần, ngôn ngữ của trẻ không chỉ xác nhận
những điều trẻ đang làm mà còn chuẩn bị và định hướng cho hoạt động thực
tiễn của trẻ, nó diễn đạt tư duy hình tượng của trẻ, tư duy này xuất hiện trước
hành động thực tiễn. Nếu trong lúc làm việc, trẻ không giao tiếp với ai thì trẻ
thường im lặng làm việc, có nghĩa là ngôn ngữ vẫn giữ chức năng "đặt kế
hoạch" thầm ở trong đầu.
1.4. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động LQVTPVH
1.4.1. Hoạt động LQVTPVH
Văn học là một phương tiện có hiệu quả mạnh mẽ đối với việc giáo dục
trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ cho trẻ, nó có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển và làm
phong phú lời nói của trẻ.) [17; tr 120].
Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hay
một tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người,
thể hiện tâm tư, tình cảm, thái độ… của chủ thể trước thực tại bằng các hình
tượng nghệ thuật.
Theo Phương pháp cho trẻ LQVTPVH của Nguyễn Thị Tuyết NhungPhạm Thị Việt biên soạn [5], việc cho trẻ LQVTPVH được hiểu : “Làm quen”
chỉ ra mức độ tiếp xúc ban đầu của trẻ với văn học. Thực chất của việc tiếp xúc
24
24


này, giáo viên sử dụng nghệ thuật đọc, kể diễn cảm để đọc thơ, kể chuyện cho
trẻ nghe, giảng giải bằng mọi cách để giúp các em hiểu được nội dung và hình
thức của tác phẩm. Trên cơ sở đó, giáo viên dạy cho trẻ em, đọc thuộc diễn cảm
bài thơ, kể diễn cảm các câu chuyện hoặc đóng kịch các TPVH.
Theo Phương pháp tổ chức hoạt động LQVTPVH của PGS.TS.Hà
Nguyễn Kim Giang biên soạn, LQVTPVH được hiểu như sau: LQVTPVH chỉ
ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của việc cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua
nghệ thuật đọc và kể chuyện của cô giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng
dẫn trẻ cảm nhận những giá trị nội dung, nghệ thuật phong phú trong tác phẩm,
khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú đối với văn học, có ấn tượng về những
hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó
qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như đọc thơ, kể chuyện,
chơi trò chơi đóng kịch; cao hơn là tiến tới sáng tạo ra những vần thơ, câu
chuyện theo tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách trẻ [5;23].
Như vậy, có thể hiểu hoạt động LQVTPVH là một quá trình hoạt động
trong đó, cô giáo sử dụng nghệ thuật đọc kể diễn cảm để đọc thơ, kể chuyện cho
trẻ nghe; giảng giải bằng mọi cách giúp trẻ hiểu được nội dung và hình thức của
tác phẩm văn học; khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú với văn học; có ấn
tượng về những hình tượng nghệ thuật; cái hay, cái đẹp của tác phẩm và thể
hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ thuật như:
đọc thuộc diễn cảm bài thơ, kể diễn cảm câu chuyện, chơi trò chơi đóng kịch,
cao hơn là sáng tạo ra những vần thơ, những câu chuyện theo tưởng tượng của
mình góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.

1.4.2. Vai trò của hoạt động LQVTPVH trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ 3-4 tuổi

25
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×