Tải bản đầy đủ

(Khóa luận tốt nghiệp) Áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại Lê Văn Tuấn, Bình Xuyên Bình Giang Hải Dương

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG HOÀI THANH
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG,
TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI
LÊ VĂN TUẤN, BÌNH XUYÊN, BÌNH GIANG, HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:
Khoa:

Chăn nuôi Thú y
Chăn nuôi Thú y


Khóa học:

2013 - 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG HOÀI THANH
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG,
TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI
LÊ VĂN TUẤN, BÌNH XUYÊN, BÌNH GIANG, HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Lớp:
Khoa:
Khóa học:
Giảng viên hướng dẫn:

Chính quy
Chăn nuôi Thú y
K45 - CNTY - N04
Chăn nuôi Thú y
2013 - 2018
TS. Phạm Thị Trang

Thái Nguyên, năm 2018


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, nay em
đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp. Để hoàn thành được bản khoá luận
này, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ
của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi Thú y, và trại


chăn nuôi lợn Lê Văn Tuấn, Bình Xuyên, Bình Giang, Hải Dương. Em cũng
nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ
động viên của người thân trong gia đình. Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em
xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn
các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ em
trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn tận
tình của cô giáo hướng dẫn TS. Phạm Thị Trang đã trực tiếp hướng dẫn em
thực hiện thành công khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trại lợn Lê Văn Tuấn, Bình
Xuyên, Bình Giang, Hải Dương đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực
hiện đề tài.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng
hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018.
Sinh viên

Đặng Hoài Thanh


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Quy định khối lượng thức ăn chuồng lợn nái có chửa

31

Bảng 3.2. Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ

32

Bảng 3.3. Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại

34

Bảng 3.4. Lịch sát trùng áp dụng tại trại

35

Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi của trại năm 2017 và năm 2018

36

Bảng 4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn

37

Bảng 4.3. Kết quả thực hiện một số thao tác kỹthuật trên đàn lợn con

40

Bảng 4.4. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại

41

Bảng 4.5. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại

42

Bảng 4.6. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con

44

Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái

45


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT:

Thể trọng

CP:

Cổ phần

Cs.:

Cộng sự

Nxb:

Nhà xuất bản

AD:

Vắc xin giả dại

CS.F:

Vắc xin dịch tả

FMD:

Vắc xin lở mồm long móng

PRRS:

Vắc xin tai xanh

Pavo:

Vắc xin chống khô thai

PRRS (1):

Tiêm nhắc lại vắc xin tai xanh

Pavo (1):

Tiêm nhắc lại vắc xin chống khô thai

SVF1:

Tiêm vắc xin dịch tả lợn con

Myco:

Tiêm vắc xin phòng viêm phổi

Circo:

Tiêm vắc xin phòng virus Circo


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN

i

DANH MỤC CÁC BẢNG

ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

iii

MỤC LỤC

iv

Phần 1: MỞ ĐẦU

1

1.1. Đặt vấn đề

1

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

2

1.2.1. Mục tiêu

2

1.2.2. Yêu cầu

2

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

3

2.1. Điều kiện cơ sở thực tập

3

2.1.1. Vị trí địa lý

3

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trang trại

4

2.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại

4

2.1.4. Thuận lợi và khó khăn của trại

7

2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có
liên quan đến nội dung của chuyên đề

8

2.2.1. Đối với lợn nái

8

2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con

18

2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

25

2.3.1. Các nghiên cứu trong nước

25

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

27

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU

29

3.1. Đối tượng nghiên cứu

29

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

29


3.3. Nội dung thực hiện

29

3.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện

29

3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi

29

3.4.2. Phương pháp theo dõi

29

3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu

35

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

36

4.1. Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

36

4.2. Kết quả thực hiện chuyên đề

37

4.2.1. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn
nuôi tại trại

37

4.2.2. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn

41

4.2.3. Kết quả thực hiện điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại

43

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

47

5.1. Kết luận

47

5.2. Đề nghị

47

TÀI LIỆU THAM KHẢO


Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở
các nước trên thế giới cũng như nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực
phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp
phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ
như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến.
Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân,
nền chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà
nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững. Bên cạnh đó là
việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn
nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế
biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung,
phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng.
Mục đích của việc chăn nuôi lợn nái và lợn con giai đoạn theo mẹ là áp dụng
các biện pháp khoa học kỹ thuật để đàn lợn con sau khi sinh ra đạt tỷ lệ cao,
khỏe mạnh là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức sống
của đàn con.
Hiện nay, tình hình dịch bệnh đang diễn ra hết sức phức tạp đặc biệt là trên
đàn lợn con theo mẹ ở rất nhiều trang trại với quy mô lớn. Tình hình dịch
bệnh diễn ra hết sức phức tạp ảnh hưởng đến kinh tế, năng suất và chất lượng
đàn lợn. Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này là phải có những nghiên cứu
áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn con.
Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành đề tài: “Áp dụng quy trình kỹ thuật
chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại Lê Văn
Tuấn, Bình Xuyên, Bình Giang, Hải Dương”.


1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Trại Lê Văn Tuấn, Bình Xuyên, Bình
Giang, Hải Dương.
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nuôi
tại trại.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Lê Văn Tuấn, Bình Xuyên, Bình
Giang, Hải Dương.
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nuôi
tại trại đạt hiệu quả cao.


Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Vị trí địa lý
- Vị trí địa lý:
Bình Giang là một trong 10 huyện thuộc tỉnh Hải Dương.
Huyện nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Dương, với diện tích tự nhiên là
104,7 km2. Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện Thanh
Miện, phía Đông giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ân Thi và Mỹ
Hào của tỉnh Hưng Yên
Bốn mặt huyện Bình Giang đều có sông: sông Kẻ Sặt ở phía Bắc, sông Đình
Hào ở phía Đông, sông Cửu An ở phía Tây, sông Cầu Lâm, Cầu Cốc ở phía
Nam. Trong đó sông Sặt bắt nguồn từ sông Hồng, qua cổng Xuân Quan, qua
cầu Lực Điền, cầu của đường 39A, nối quốc lộ 5A với thành phố Hưng Yên,
tiếp cận với huyện Bình Giang tại vị trí sát làng Tranh Ngoài, xã Thúc Kháng.
Đến đây sông có nhánh chạy dọc theo phía Tây huyện, gọi là sông Cửu An;
một nhánh chạy dọc phía Bắc huyện gọi là sông Kẻ Sặt, thông với sông Thái
Bình, qua Âu Thuyền, thành phố Hải Dương.
- Kinh tế:
Bình Giang là một huyện chủ yếu là công nghiệp, đang phát triển mạnh dịch
vụ, thương mại.
Năm 2016 tổng GDP huyện đạt 1200 tỷ đồng, trong đó: nông nghiệp (8,06%),
công nghiệp (60,88%), tiểu thủ công nghiệp, xây dựng; thương mại dịch vụ
(31,06%).
Bình Giang đang được phát triển thành một đô thị phía tây tỉnh Hải Dương.
- Quá trình thành lập:


Trang trại lợn nái sinh sản Lê Văn Tuấn nằm trên địa bàn của thôn Dinh Như,
xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.Trang trại là trại lợn gia
công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen
Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở
vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán
bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Lê Văn Tuấn làm chủ trại, cán bộ kỹ
thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi
hoạt động của trang trại.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm
+ Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại.
+ Nhóm cán bộ kỹ thuật, tài chính: 1 kỹ sư, 2 kỹ thuật điện.
+ Nhóm nhân viên: 10 công nhân, 3 sinh viên thực tập.
2.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại nằm trên khu vực thôn Dinh Như, đường giao thông đã được nâng
cấp bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Trại lợn cách khu dân
cư khoảng hơn 1 km. Trại có diện tích đất rộng trong đó có:
- Đất trồng cây ăn quả: 1 ha
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 2 ha
- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải: 2 ha
- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công
trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại: 4ha
Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào. Chuồng trại
được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp,
hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa
cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn. Chuồng nuôi
được xây dựng đảm bảo đủ cho 600 nái cơ bản bao gồm: 3 chuồng đẻ (mỗi
chuồng có 58 ô), 1 chuồng nái chửa (chuồng có 560 ô), 1 chuồng cách ly cùng


một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát
trùng, phòng pha tinh, kho thuốc, kho cám...
Trại gồm 4 khu chính: khu nhà ăn,ở cho công nhân, khu nhà để cám và kho
thuốc, khu để dụng cụ chăn nuôi, khu chăn nuôi còn lại là vườn và ao hồ bao
quanh trại. Trại có quy mô đàn là trên 600 đầu nái, 9 lợn đực và 60 lợn hậu bị
để thay thế đàn và được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn
khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng nối liền nhau. Khu
chuồng nái chửa là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai,
khu chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng nái chửa chuyển xuống là nơi
mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ, khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn
hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải.
Khu chuồng nái chửa gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có
diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang
thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực
phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy
tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng lợn nái có
chửa nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống. Một góc chuồng nái
chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh khu lấy tinh
có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh. Phòng tinh được trang
bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi tinh, nhiệt
kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín với kết cấu
tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn nền chuồng
giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện. Đầu chuồng nái chửa có hệ
thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8 quạt hoạt động
nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong chuồng còn được
trang bị đầy đủ hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm
đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất.


Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng đẻ 1,
chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng
có 3 quạt thông gió. Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy và có
một công nhân phụ trách. Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm bằng bê
tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng. Mỗi một ô
chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con.
Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được
làm bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng. Mỗi lồng úm
được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ
cho lợn con tập ăn. Mỗi chuồng cũng có hệ thống giàn mát và 6 quạt thông
gió và nhiệt kế đo nhiệt độ chuồng. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con
và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi để
trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên.
Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay thế
đàn và lợn nái loại thải. Vị trí chuồng nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho việc
vận chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống. Khu chuồng
cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm 6 ô lớn
được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động bên
trong các ô, khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối chuồng
có 4 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi.
Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh
chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và
nước thải.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ:Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ
thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống
chuồng, xe trở phân, xe trở lợn con, xe trở tấm đan, máy nén khí phun sát
trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi.


Nhìn chung cơ sở vật chất của trại là khá hoàn chỉnh và đạt yêu cầu so với
một chuồng nuôi kín hiện nay tuy nhiên việc cho ăn trong các chuồng lại hoàn
toàn làm theo phương thức thủ công với mỗi chuồng đều có hệ thống máng
ăn, mỗi con có một máng ăn riêng và khi cho ăn thì công nhân phụ trách
chuồng phải đổ cám vào từng máng ăn đó lật cho lợn nái ăn theo khung giờ
quy định hằng ngày.
Nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi tại trại được lọc qua bể lọc và dẫn trực
tiếp đến từng ô chuồng bằng vòi uống tự động, trước khi được đưa đến các
vòi tự động nước được xử lý qua clorin. Trang trại lợn nái Lê Văn Tuấn là
một trại quy mô công nghiệp nên hàng ngày sử dụng một khối lượng nước rất
lớn để phục vụ chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, đặc biệt về mùa nóng cần một
lượng nước rất lớn để vận hành hoạt động của giàn mát. Nước dùng cho chăn
nuôi được bơm từ lòng đất qua hệ thống bể lọc, đưa lên các bồn chứa nước ở
độ cao, áp lực đủ mạnh tới các vòi nước tự động ở từng ô chuồng. Bên cạnh
đó, hệ thống bạt che, giàn mát, quạt thông gió được trang bị rất đầy đủ.
Nguồn nước thải được thải ra các ao quanh trại, phân trong các khu chuồng
thì được công nhân hót vào bao cuối mỗi buổi sáng và chiều trong ngày đổ ra
khu nhà chứa phân để bán và một phần nhỏ để vun trồng vào các gốc cây.
Trước cửa vào mỗi chuồng đều có một chậu nước sát trùng để nhúng ủng của
công nhân trước khi đi vào chuồng làm việc.
2.1.4. Thuận lợi và khó khăn của trại


Thuận lợi

Được sự quan tâm của Uỷ ban nhân dân xã Bình Xuyên tạo điều kiện cho sự
phát triển của trại.
Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao
thông.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan
tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.


Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và
có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và
khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại.


Khó khăn

Trại được xây dựng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến
phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn.
Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn,
làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn.
Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước
thải của trại còn nhiều khó khăn.
2.2. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có
liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1. Đối với lợn nái
2.2.1.1. Đặc điểm của một số giống lợn ngoại nuôi tại trại
* Giống lợn Yorkshire
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [25], giống lợn này được hình thành ở
vùng Yorkshire của nước Anh. Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (một số
con có đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to
trung bình và hướng về phía trước, mình dài, lung hơi cong, bụng gọn chân
dài chắc chắn, có 14 vú.
Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng
thành lên tới 300 kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 700 g/con/ngày, tiêu tốn
thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56%.
Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lượng sơ sinh
trung bình 1,2 kg/con.


* Giống lợn Landrace
Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [25], giống lợn này được tạo ra ở Đan
Mạch năm 1895.
Lợn có năng suất cao, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn 3,0 kg/kg tăng khối
lượng, tăng khối lượng bình quân 750 g/con/ngày. Tỷ lệ nạc 59%. Khối lượng
lợn trưởng thành có thể lên tới 320 kg (con đực), 250 kg (con cái).
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo.
Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế.
Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [32] cho biết, một trong
những giải pháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống lợn lai tạo
với nhau. Trong đó, phương pháp lai giữa hai giống lợn ngoại Landrace và
Yorkshire và ngược lại, tạo ra con lai có ưu thế lai cao về nhiều tiêu chí sinh
sản, trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất.
2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục của lợn nái:
+ Buồng trứng: Lợn nái có 2 buồng trứng hình hạt đậu, đường kính trung bình
0,8 - 1,2 cm. Buồng trứng được cấu tạo bởi 2 vùng (trong là vùng tủy chứa
mạch máu và dây thẩn kinh, ngoài là vùng vỏ, tại đây chứa vô số các noãn
bao phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong các noãn bao có chứa tế bào
trứng). Các noãn bao phát triến qua từng giai đoạn, khi thành thục và chín
noãn bao vở ra, trứng rụng xuống loa kèn, tại vị trí bao noãn cũ sẽ hình thành
nên thể vàng (hoàng thể). Mỗi lần động dục buồng trứng heo nái có thể rụng
10 - 30 noãn bào.
+ Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng là ống dài ngoằn nghoèo, một đầu loe rộng
tạo thành loa kèn để đón trứng từ buồng trứng rụng xuống, đầu kia nối liền
với sừngtử cung. Ống dẫn trứng dài 15 - 30cm.
+ Tử cung: Tử cung lợn nái gồm 1 thân và 2 sừng. Hai sừng của tử cung có
hình dạng chữ V, nơi tiếp xúc với thân tử cung tạo thành ngã 3. Sừng tử cung


là nơi chứa thai (2 sừng tử cung dài khoảng 1 m), thân tử cung dài khoảng
5cm. Phần cuối của tử cung là cổ tử cung. Đây là một cái eo, thường khép
kín. Tận cùng của bộ máy sinh dục cái là âm hộ. Trong âm hộ có lỗ thông ra
ngoài của ống dẫn nước tiểu gọi là lỗ đái và tuyến tiết dịch nhờn.
* Sự thành thục về tính:
Sự thành thục của gia súc được đặc trưng bởi những thay đổi bên trong và
bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự biến đổi bên trong của cơ quan sinh dục. Tùy
thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác
nhau. Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [10], ở lợn tuổi thành thục về tính là
từ 6 - 8 tháng.
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là các yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động
dục. Mùa hè lợn thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông. Điều đó có thể
do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng
thấp trong các tháng nóng bức. Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện
thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân)
và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so
với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính
so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12giờ mỗi
ngày.
+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt
thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Nhưng cần tránh nuôi lợn hậu
bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu của Hughes và
James (1996) [39] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ
làm chậm lại thành thục tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm. Bên cạnh
những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng
đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị. Nếu lợn hậu bị thường xuyên tiếp xúc
với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn hậu bị không tiếp xúc với lợn đực
giống. Ở 165 ngày tuổi cho lợn hậu bị tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi


lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn động dục lần đầu (Muirhead M.,
Alexander T., 2010) [46].
+ Giống: Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau.
Theo Phạm Hữu Doanh và cs., (2003) [6], tuổi thành thục tính ở lợn nái nội
thuần chủng (Ỉ, Móng Cái) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 - 150 ngày tuổi),
lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là từ 6 - 7 tháng.
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn
được diễn ra liên tục và có chu kỳ. Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục
cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [8].
- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên. Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng. Dưới tác dụng
của thần kinh, hormone, áp suất. Noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào trứng,
đồng thời thải ra dịch folliculin. Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi
noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau. Lợn thường rụng 20 - 30 tế bào trứng
1 lần.
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra. Màng trên bị xẹp xuống đường
kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng. Tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang
ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng. Xoang chứa đầy dịch và một
ít máu chảy ra từ vách xoang ra. Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của
tế bào trứng. Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang
gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng
kích thước lại tăng rất nhanh. Trong các tế bào hạt có chứa lipoit và sắc tố
màu vàng. Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy tế bào hạt (gọi là tế bào
lutein). Sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng.
Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone. Trong thời gian vài ngày,
thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển. Nếu gia súc


không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa
dần.
Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày. Nếu gia súc có thai, nó tồn tại
trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ.
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả
của quá trình tế bào trứng rụng. Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong
máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch. Đồng thời ở
âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra.
- Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong
máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng nằm
không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa
giảm, chăm chú tới xung quanh, gặp con đực không kháng cự, biểu hiện này
tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng.
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên
ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi
cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối. Cao độ nhất là lúc
tế bào trứng rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi rõ rệt.
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [31] cho biết, chu kỳ động dục của
gia súc chia làm 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình
thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng
lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng
lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao.


Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ
tử cung mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con
vật bắt đầu xuất hiện tính dục.
- Giai đoạn động dục:
Theo Phạm Khánh Từ và cs. (2014) [36], thời gian của giai đoạn này được
tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noăn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục
lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch
trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ: Con
cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong
trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc để
con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư
thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau
dạng ra và khụy xuống, sẵn sàng chịu đực.
- Giai đoạn sau động dục:
Lợn trở lại trạng thái bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu
đực.
- Giai đoạn nghỉ ngơi:
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên
tĩnh hoàn toàn. Thời kỳ này, cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động,
trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục
và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý.
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng, hợp tử bắt
đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào
thai. Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau:
Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày
chửa thứ 20 rồi giảm nhẹ ở 3 tuần đầu, sau đó, duy trì ổn định trong thời gian
có chửa để an thai, ức chế động dục. Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, Progesterone
giảm đột ngột. Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp,


cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng
cao nhất. Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento S.
và cs., 2013) [41].
2.2.1.3. Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái
* Đẻ khó
Rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của gia súc
mẹ vừa yếu vừa ngắn. Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:
- Cơ co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra trùng với
cơn rặn đẻ nguyên phát
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ mạnh
nhưng không có kết quả
- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được.
Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường, quan sát thấy khi vi
phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như
khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ. Cần can thiệp để cứu lợn con
và mẹ (Trần Văn Bình, 2010 [25]).
* Khô âm đạo: Đẻ kéo dài do co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát hoặc thứ
phát, mà trước đó dịch ối và nước tiểu đã chảy ra hết, hoặc do nhân tạo làm
vỡ bao thai trước khi cổ tử cung mở hết, thường dẫn đến khô đường sinh dục
* Hẹp khe âm môn và tiền đình âm đạo, âm đạo và hẹp cổ tử cung:Xảy ra do
bẩm sinh hoặc ở gia súc co thắt sẹo hình thành từ chấn thương hoặc viêm, do
phát triển màng sẹo liên kết của vết loét, ung bướu. Đôi khi gặp trường hợp
đẻ khó ở gia súc đẻ lần đầu do phì đại màng trinh bẩm sinh hoặc mắc phải
(tăng sinh van niệu đạo nằm ở thành dưới âm đạo sát mép tiền đình âm đạo).
Các cơn rặn đẻ mạnh trong khi đã có các cơn tiền triệu chứng đẻ nhưng gia
súc không đẻ được, chứng tỏ hẹp đường sinh dục hoặc thai to quá (Debois C.
H. W., 1989 [19]).
* Bệnh viêm tử cung
+ Nguyên nhân:


Bệnh chủ yếu do lợn nái sau khi đẻ bị tổn thương, sây xát và nhiễm khuẩn tử
cung, âm đạo.
+ Triệu chứng:
Thân nhiệt tăng cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm, lợn có trạng thái đau đớn
nhẹ, có khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh, từ cơ quan sinh dục thải ra
ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ và những tổ chức chết.
+ Điều trị:
Dùng Amoxinject tiêm bắp liều 1ml/10kg thể trọng tiêm nhắc lại sau 48 giờ,
kết hợp tiêm với oxytoxine 1-2ml/nái, dùng trong 2-3 ngày.
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm thử cung trên 620 lợn nái ngoại
nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn
lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07%. Tỷ lệ mắc tập trung ở
những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007 [15]).
Lê Thị Tài và cs. (2002) [14] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia
súc cái. Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh
sản của gia súc cái.
Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [5], Trần Thị Dân (2004) [2]: Khi lợn nái
bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy thai, bào
tai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn
nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại.
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ
quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của
tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu
tinh trùng). Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây
bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi
trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm và cs. 1999 [11]).
* Bệnh viêm vú
- Nguyên nhân:


+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy,
vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus aureus. và Arcanobacterium
pyogenes (Christensen và cs., 2007 [18]).
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,
mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú.
+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái
trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa. Sau vài
ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm
nhập gây viêm như: e.coli, streptococus, staphylococus, klebsiella…(Duy
Hùng, 2011[7]).
+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo
điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú.
+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm.
+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu
cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng.
- Triệu chứng
Theo White B. R. và cs. (2013) [23], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc
điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa,
nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có
mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C. Tùy số lượng vú bị viêm
mà lợn nái có biểu hiện khác nhau. Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú,
thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm. Tuy vậy, lợn nái cũng lười
cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa
bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy.
- Điều trị:
Các nghiên cứu của Trekaxova A. V. (1983) [17] về chữa trị bệnh viêm vú
cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp. Dùng


novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt. Để
phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5 % liều
từ 30 - 40 ml cho mỗi túi vú. Thuốc tiêm vào mỗi thùy vú bệnh, sâu 88 - 100
cm. Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin
hay kháng sinh khác. Đồng thời lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại
kháng sinh trong novocain này từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần.
Trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho nái. Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt
răng nanh lợn con. Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất
tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm. Tiêm
thuốc chống viêm như prednizolon, hydro - cortizone… (Lê Hồng Mận, Bùi
Đức Lũng, 2004 [10]).
Dùng novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn
của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày.
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liều đạt
trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong
3 - 5 ngày.
- Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày
bằng dung dịch sát trùng. Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn
con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn. Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế
nguy cơ thừa sữa. Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những
vùng bị viêm. Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ
lên vùng vú bị sưng (Duy Hùng, 2011 [17]).
2.2.2. Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng, phát dục của lợn con


Khái niệm về sinh trưởng, phát dục:


Sinh trưởng:
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi thai
được hình thành đến khi thành thục về tính. Sinh trưởng là quá trình tích lũy
các chất do đồng hóa và dị hóa; là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều
ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di
truyền từ thế hệ trước. Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sự phân
chia các tế bào trong cơ thể.
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục rất
nhanh. Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12
lần. So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn
gấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh, 2005) [17].
Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất
lượng, khẩu phần thức ăn thiếu dạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và
tăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật
của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2002) [16].
Theo Trần Thị Dân (2004) [5], lợn con mới đẻ trong máu không có Glubulin
nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua
sữa đầu. Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu,... được tổng
hợp còn ít, khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh.
Phát dục:
Cùng với quá trình sinh trưởng các tổ chức trong cơ thể luôn hoàn thiện chức
năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục. Phát dục là một quá trình thay đổi về
chất lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức
năng của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoàn thiện được
các chức năng của cơ thể sống và tăng trọng lượng theo tuổi giảm (Pensaet
MB de Bouck P. A., 1978) [40].


Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:

Lợn con giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục nhanh.Theo
Trần Văn Phùng và cs. (2004) [25] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×