Tải bản đầy đủ

(Khóa luận tốt nghiệp) Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại Phú Minh huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình và biện pháp điều trị

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

NGUYỄN HUY HOÀNG

Tên đề tài:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH
VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI PHÚ MINH HUYỆN
KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:

2014 - 2018

Thái Nguyên, 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

NGUYỄN HUY HOÀNG
Tên đề tàì:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH
VIÊM TỬ CUNG Ở ĐÀN LỢN NÁI NUÔI TẠI TRẠI PHÚ MINH HUYỆN
KỲ SƠN, TỈNH HÒA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:
Chăn nuôi Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn: TS. Mai Anh Khoa

Thái Nguyên, 2018


i

LỜI CẢM ƠN
Trong cả một quá trình phấn đấu, rèn luyện và học tại Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên em nhận thấy đã trưởng thành rất nhiều từ phẩm chất đạo đức tới
trình độ chuyên môn và để có được sự trưởng thành như ngày hôm nay đó là một
phần không nhỏ từ sự giúp đỡ và dạy bảo của tất cả các thầy cô, bạn bè cùng gia đình.
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm


Khoa Chăn nuôi Thú y, quý thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên của Khoa Chăn
nuôi Thú y-Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ và dạy dỗ em trong
suốt 4 năm học trên giảng đường đại học và thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Ts Mai
Anh Khoa đã hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Tiếp đến, em xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô, chú, anh chị là kĩ sư,
công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt 6 tháng thực tập.
Và cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn tới gia đình cùng bạn bè đã chia sẻ
động viên em trong suốt 4 năm học và hoàn thành đề tài tốt nghiệp lần này
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Sinh viên

NGUYỄN HUY HOÀNG


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Cơ cấu đàn lợn nái trong 3 năm (2015 – 2017) ........................................ 6
Bảng 2.2. Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung...................................................... 22
Bảng 4.1. Kết quả thực hiện công tác vệ sinh chăn nuôi ........................................ 33
Bảng 4.2. Quá trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi .............................. 34
Bảng 4.3. Tỷ lệ viêm tử cung của đàn lợn nái trong 3 năm (từ năm 2015 đến tháng
11 năm 2017) ........................................................................................ 37
Bảng 4.4. Tỷ lệ và cường độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái .................... 38
Bảng 4.5. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ ................................... 39
Bảng 4.6. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo trường hợp đẻ ............. 40
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ........................................................ 41
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản ..................... 42


iii

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs

: Cộng sự

E. Coli

: Escherichia coli

MMA

: Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa

Nxb

: Nhà xuất bản

TT

: Thể trọng


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ..........................................................................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG ......................................................................................ii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT ................................................. iii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iv
Phần 1. MỞ ĐẦU................................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................................ 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề .................................................................. 1
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU......................................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ............................................................................. 3
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của trại Phú Minh ....................................... 3
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trang trại.......................................................................... 3
2.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại ........................................................................... 3
2.2. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở ..................................................... 5
2.2.1. Đối tượng nuôi của trại .................................................................................. 5
2.2.2. Kết quả sản xuất của cơ sở ............................................................................. 5
2.3. Cơ sở khoa học ................................................................................................. 6
2.3.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn nái .............................................. 6
2.3.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái ......................................................... 10
2.3.3. Một số nguyên nhân gây bệnh...................................................................... 17
2.3.4. Các thể viêm tử cung ................................................................................... 18
2.3.5. Đường xâm nhập ......................................................................................... 21
2.3.6. Chẩn đoán viêm tử cung .............................................................................. 21
2.3.7. Hậu quả của bệnh viêm tử cung ................................................................... 23
2.3.8. Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung ................................................... 25
2.4. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 27
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................. 27
2.4.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước................................................................. 28


v

Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ......... 30
3.1. Đối tượng ....................................................................................................... 30
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ...................................................................... 30
3.3. Nội dung tiến hành ......................................................................................... 30
3.4. Các chỉ tiêu và Phương pháp theo dõi ............................................................. 30
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi .................................................................................... 30
3.4.2. Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) ........................................... 30
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu............................................................................ 31
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ............................................... 33
4.1. Kết quả tham gia phục vụ sản xuất.................................................................. 33
4.1.1. Kết quả công tác phòng bệnh cho đàn lợn .................................................... 33
4.1.2. Kết quả công tác điều trị bệnh cho đàn lợn................................................... 34
4.2. Kết quả thực hiện chuyên đề ........................................................................... 37
4.2.1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 năm (2015 - 11/2017) .. 37
4.2.2. Tỷ lệ và cường độ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái .......................... 38
4.2.3. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ ......................................... 39
4.2.4. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo trường hợp đẻ ................... 40
4.2.5. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung .............................................................. 41
4.2.6. Ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến khả năng sinh sản của lợn nái tại trại ... 42
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .................................................................... 43
5.1. Kết luận .......................................................................................................... 43
5.2. Đề nghị ........................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 44


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hiện nay đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cùng
với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành chăn nuôi nước ta cũng từng bước
đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đã có nhiều thay đổi cả về số lượng và
chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Nói đến ngành chăn nuôi, trước tiên phải kể đến
ngành chăn nuôi lợn, bởi tầm quan trọng, ý nghĩa thiết thực của các sản phẩm đa
dạng từ ngành cung cấp thực phẩm có tỷ trọng lớn, có chất lượng tốt cho con người,
ngoài ra ngành chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng
trọt và một số sản phụ phẩm cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm.
Với nhu cầu cuộc sống hiện nay thì sản phẩm thịt lợn không thể thiếu được với
người tiêu dùng. Theo USDA, năm 2015 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào
khoảng 2,245 triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2014. Để phát triển đàn lợn mỗi trại,
mỗi gia đình một cách nhanh chóng và có chất lượng tốt thì việc cải tạo, chọn lọc
con giống, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn là rất quan trọng. Tuy
nhiên, tình hình dịch bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế, chất lượng sản
phẩm. Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục
của lợn nái sau khi sinh ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn
con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con sẽ chậm phát triển. Lợn nái
chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dân đến vô sinh, mất khả năng sinh
sản. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng
dẫn của thầy giáo Ts Mai Anh Khoa cùng với sự giúp đỡ của cơ sở thực tập em đã
tiến hành chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh
viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại phú Minh huyện kỳ sơn, tỉnh hòa bình
và biện pháp điều trị ”
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục đích
- Đánh giá tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở lợn.
- Xác định hiệu lực điều trị của phác đồ điều trị.


2

1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được tỷ lệ cảm nhiễm bệnh viêm tử cung ở đàn lợn
- Xác định được hiệu lực điều trị của phác đồ điều trị


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển của trại Phú Minh
Trại nằm trên địa phận xã Phú Minh, huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình. Trang trại được
thành lập năm 2016, là trại lợn gia công của Công ty JAPFA Việt Nam Hoạt động
theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới
giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do cán bộ kỹ
thuật của Công ty JAPFA Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của
trang trại.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
Chủ trại: 01 người.
Quản lý trại: 01 người.
Quản lý kỹ thuật: 03 người.
Kế toán: 01người.
Cong nhân: 10 người và 2 sinh viên thực tập.
Bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại: 01 người.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ
chuồng đẻ, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng thương phẩm, nhà bếp. Mỗi một khâu
trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh
thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại.
2.1.3. Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại đã dành khoảng 6 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành,
nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các
hoạt động khác của trại.
Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho
1200 nái cơ bản bao gồm: 6 chuồng nái đẻ (mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4m x
1,6m/ô), 2 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65m/ô), 3


4

chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, 9 chuồng lợn thịt (mỗi chuồng nuôi 550 con)
cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát
trùng, phòng pha tinh, kho thuốc,... Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn.
Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các
chuồng đẻ, 8 quạt thông gió đối với chuồng nái chửa và 2 quạt đối với chuồng cách
ly, 2 quạt đối với chuồng đực. Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính. Mỗi cửa sổ
có diện tích 1,5m2, cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 40cm. Trên trần được lắp
hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh.
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy
đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng
liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác.
Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều
được đổ bê tông và có các hố sát trùng.
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống
cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 6 và chuồng
nái chửa 2. Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bố trí
từ tháp bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng.
Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng. Đối
với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ
cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con; mỗi chuồng đẻ
được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi cho
mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra.
Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 4 phòng: phòng sát
trùng nam, phòng sát trùng nữ, phòng sát trùng kỹ sư
Công nhân: 7 người và 19 sinh viên thực tập. và phòng sát trùng khách. Mỗi
phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng
và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm,
chậu rửa, móc quần áo, xà bông, dầu gội.
Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát


5

trùng, máy nén phun sát trùng di động trong khu vực chuồng nuôi.
Kho chứa thức ăn: trần đóng kín không dột, có sạp kê cám.
Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước
khi thải ra môi trường, có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió,
có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi.
Các công trình phụ trợ khác: Khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm
phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh. Cổng trại, tường rào đảm
bảo an ninh. Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước.
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để
bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén
khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi.
2.2. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
2.2.1. Đối tượng nuôi của trại
Trại lợn của công ty nuôi các giống lợn khác nhau như: Yorkshire, Landrace.
2.2.2. Kết quả sản xuất của cơ sở
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm. Số
con sơ sinh là 11,23 con/đàn, số con cai sữa: 10,7 con/đàn.
Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi
JAPFA Việt Nam.
Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày
thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn của công ty.
- Lợn thương phẩm tại trại được nuôi từ lúc sơ sinh đến lúc xuất bán khoảng
5 đến 6 tháng với trọng lượng trung bình từ 90 đến 105kg.
- Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm.
Qua điều tra từ số liệu sổ sách theo dõi của trại thì cơ cấu đàn lợn của trại
trong 3 năm tính đến tháng 11 năm 2017 được thể hiện ở bảng 2.1.


6

Bảng 2.1. Cơ cấu đàn lợn nái trong 3 năm (2015 – 2017)

Số lượng lợn qua các năm
STT

(con)

Loại lợn
2015

2016

2017

1

Nái sinh sản

1149

1150

1163

2

Nái hậu bị

57

60

159

3

Đực làm việc

18

18

9

4

Đực hậu bị

2

3

2

1226

1231

1333

Tổng số

(Nguồn: phòng kế toán công ty Japfa Việt Nam)
2.3. Cơ sở khoa học
2.3.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn nái
Bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong
(buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm
môn, âm vật, tiền đình.
2.3.1.1. Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm
trong xoang chậu. Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình
bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng.
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo
giao tử cái và tiết các hormone: estrogen, progesterone, oxytocine, relaxin và
inhibin. Các hormone này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái.
Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú.
Progesterone do thế vàng tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân
tiết của tử cung đế nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang
tạo sữa của tuyến vú. Oxytoxin được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng
cũng được tiết bởi thể vàng ở buồng trứng khi lợn gần sinh, nó làm co thắt cơ tử
cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa. Ở lợn,


7

relaxin do thể vàng tiết ra để gây giãn nở xương chậu, làm giãn và mềm cơ tử cung,
do đó mở rộng đường sinh dục khi gần sinh. Inhibin có tác dụng ức chế sự phân tiết
kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển nang noãn theo chu kỳ.
Ở bề mặt ngoài của buồng trứng có một lớp liên kết được bao bọc bởi lớp
biểu mô hình lập phương. Bên dưới lớp này là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể vàng,
thể trắng (thể vàng thoái hóa). Phần tủy của buồng trứng nằm ở giữa, gồm có mạch
máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết. Miền vỏ có tác dụng về sinh
dục vì ở đó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng. Trên buồng trứng có từ
70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những
noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang
sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng.
Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất và
được bao bọc bởi lớp tế bào vảy. Noãn nang nguyên thủy phát triển thành noãn nang
bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình lập phương (tế bào nang).
Khi được sinh ra buồng trứng đã có sẵn hai loại noãn nang này. Noãn nang bậc một
có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc hai. Noãn nang bậc hai có hai
hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch
nang). Noãn nang có xoang được xem như noãn nang bậc ba, chứa dịch nang và có
thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf). Noãn nang có xoang bao
gồm 3 lớp: lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt. Lớp bao ngoài là mô liên
kết lỏng lẻo. Lớp bao trong sản xuất androgen dưới tác dụng của LH. Lớp tế bào hạt
tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng. Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và
trên bề mặt tế bào có thụ thể (receptor) tiếp nhận kích thích tố LH. Những chất quan
trọng được sản xuất bởi tế bào hạt là estrogen, inhibin và dịch nang.
Theo Trần Thị Dân 2004 [3], khi nang gần xuất noãn, những mạch máu nhỏ
bị vỡ và gây xuất huyết tại chỗ. Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng
với vết xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn
nhiều lần. Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để
tạo nên thể vàng.


8

2.3.1.2. Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Phễu mở ra
để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với
buồng trứng khi xuất noãn. Phễu tiếp nối với phần rộng. Phần rộng chiếm khoảng
1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều
nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ. Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành
dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn.
Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi
thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi
dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các
chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung. Nơi tiếp giáp
giữa phần eo và tử cung có vai trò điều khiển sự di chuyển của tinh trùng đến phần
rộng của ống dẫn trứng hoặc di chuyển của phôi vào tử cung. Ở lợn, sự co thắt của
nơi tiếp giáp eo tử cung tạo thành rào cản đối với tinh trùng để không có quá nhiều
tinh trùng đi đến phần rộng, nhờ đó tránh được hiện tượng nhiều tinh trùng xâm
nhập noãn.
2.3.1.3. Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo
trong xoang chậu, 2 sừng tử cung ở phần trước xoang chậu. Tử cung được giữ tại
chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng.
Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và
cổ tử cung:
Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng.
Thân tử cung dài 3 - 5cm.
Cổ tử cung lợn dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo
kiểu cài răng lược, thông với âm đạo.
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp
nội mạc.
- Lớp tương mạc: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và nối
tiếp vào hệ thống các dây chằng.


9

- Lớp cơ trơn: Đặng Đình Tín (1986) [19] cho biết, lớp cơ trơn gồm cơ vòng
rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài. Giữa 2 tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi
đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn. Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn
đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng lưới vừa dày vừa chắc. Cơ trơn là
lớp cơ dày và khoẻ nhất trong cơ thể. Do vậy, nó có đặc tính co thắt.
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng)
khi có nhiều estrogen trong máu và trương lực co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều
progesterone trong máu. Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho sự di chuyển của
tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ. Khi
mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ
vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung.
- Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp tế
bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung. Nhiều tế
bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhày
tiết ra về phía cổ tử cung. Trên niêm mạc có các nếp gấp.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi
thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống
dẫn trứng. Dưới ảnh hưởng của estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng
nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại. Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt
được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progesterone. Sự phân tiết của
tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống.
2.3.1.4. Âm đạo (Vagina)
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau
thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời
là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ
tử cung.
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài.


10

- Lớp cơ trơn có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong. Các lớp cơ âm đạo
liên kết với các lớp cơ ở cổ tử cung.
- Lớp niêm mạc âm đạo: âm đạo lợn dài 10 - 12cm.
2.3.1.5. Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm:
- Màng trinh: là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía sau
thông với âm hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc
gấp lại thành một nếp.
- Lỗ niệu đạo: ở sau và dưới màng trinh.
- Hành tiền đình: là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo. Cấu tạo giống thể
hổng ở bao dương vật của con đực.
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật.
2.3.1.6. Âm vật (Clitoris)
Âm vật có cấu tạo như dương vật nhưng thu nhỏ lại và là tạng cương của
đường sinh dục cái, được dính vào phần trên khớp bán động ngồi, bị bao xung
quanh bởi cơ ngồi hổng.
Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác,
lớp thể hổng và tổ chức liên kết bao bọc gọi là niêm mạc âm vật.
2.3.1.7. Âm hộ (Vulva)
Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởi
vùng hồi âm. Bên ngoài có 2 môi đính với nhau ở mép trên và mép dưới. Môi âm
hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính.
2.3.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc
trưng cho loài, có tính ổn định với từng giống vật nuôi. Nó được duy trì qua các thế
hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng
của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng,... Để
đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người ta thường tập trung nghiên


11

cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:
2.3.2.1. Sự thành thục về tính
Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục
và có khả năng sinh sản. Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử
cung, âm đạo,.. đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh
sản. Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận
sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng
động dục.
Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt
và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng.
+ Giống
Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau. Những
giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn.
Theo Phạm Hữu Doanh (1995) [4], tuổi thành thục về tính của lợn cái ngoại
và lợn cái lai muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái, Mường Khương,...).
Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158
ngày tuổi). Lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại X nội) thường động dục
lần đầu ở 6 tháng tuổi.
+ Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái.
Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát
triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại.
+ Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc.
Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính
sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới.
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu
bị. Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái
hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng. Theo Paul Hughes và


12

cs, (1996) [23], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15
- 20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi.
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn
nuôi chăn thả. Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi chất, tổng hợp
được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực, nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn.
Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn
tuổi thành thục về thể vóc. Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình
thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia
súc phối giống khi đã đạt một khối lượng nhất định tuỳ theo giống. Ngược lại, cũng
không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của
một đời nái đồng thời ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng.
2.3.2.2. Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
* Chu kỳ tính
Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên
tục và có tính chu kỳ. Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi
cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang graaf. Khi nang graaf vỡ, trứng rụng gọi là
sự rụng trứng. Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là
động dục. Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ.
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới
thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo mới ổn
định. Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình
là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động
dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi.
* Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 - 2 ngày, là thời gian
chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm
bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai.
Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng
thái thần kinh. Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục và nổi rõ


13

trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này
noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao có đường kính 10 12mm. Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung
tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh, hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết
dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở. Các noãn bao chín,
tế bào trứng tách khỏi noãn bao. Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch
chảy nhiều. Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở và có màu
hồng tươi, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra. Do hàm lượng progesteron giảm
xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác
nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình.
* Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 - 3 ngày, tính từ khi tế bào
trứng tách khỏi noãn bao. Giai đoạn này các biến đối của cơ quan sinh dục rõ nét
nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín,
niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 0,70C, pH hạ hơn trước. Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không
yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu rống trong trạng thái ngẩn ngơ,
thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình. Ở giai đoạn
này, lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi
cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khuỵu xuống sẵn sàng
chịu đực.
Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh
tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai,
đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại
bắt đầu. Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp
theo của chu kỳ tính.


14

* Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng hai ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan
sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường. Trên buồng trứng, thể
hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 – 8 mm và bắt đầu tiết
progesterone. Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược
làm giảm tiết oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần
chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh
dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại.
* Giai đoạn nghỉ ngơi
Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng
trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ. Đây là giai đoạn
con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình
thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng
chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng. Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những
biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo.
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của
quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc
cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng
suất sinh sản của lợn nái.
* Cơ chế động dục
Chu kỳ động dục của lợn cái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và thể
dịch. Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực,...Tác động
và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên
tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone)
và LH (Lutei Stimulin Hormone). FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời
cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng. Khi noãn bao phát
triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy
trong xoang bao noãn. Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ
kích thích con vật có những biểu hiện động dục. Đồng thời dưới tác động của


15

oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi: tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết
niêm dịch, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tố của
hợp tử sau này. Cuối chu kỳ động dục thì oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra
LH và giảm tiết FSH. Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng
chín và rụng trứng. Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ
ra. Thể vàng tiết progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng
tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm
cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một
chu kỳ động dục.
* Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng 45 - 48
giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn,
cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc. Thời điểm phối giống thích hợp nhất là
vào giữa giai đoạn chịu đực.
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện
tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể
từ lúc bắt đầu động dục.
Đối với lợn nái nội thời điểm phối giống sớm hơn lợn nái ngoại và lai 1
ngày, tức là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn.
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối
vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau cho phối,
thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khoá đuôi” của thời kỳ
rụng trứng.2.3.2.3. Sinh lý đẻ
Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi
bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ
sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra
ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ.
Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần,
nút niêm dịch ở cơ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài. Trước


16

khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn
phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết.
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong.
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu.
+ Trước khi đẻ 2 - 3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu.
- Cơ chế đẻ: đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế
thần kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục.
- Về mặt cơ giới: thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một
cách tối đa. Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng,
đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ. Mặt
khác, thai chèn ép, đạp vào tử cung làm kích thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng
theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở và thai thoát ra ngoài.
- Nội tiết: trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra
progesterone, hàm lượng progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai.
Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng progesterone giảm (chỉ
còn 0,22%). Đồng thời tuyến yên tiết oxytocine, nhau thai tăng tiết relaxin làm giãn
dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết oestrogen làm tăng độ mẫn cảm
của cổ tử cung với oxytocine trước khi đẻ.
- Biến đối quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: khi thai đã thành thục thì quan
hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành
như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ.
- Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 - 6h,
nó được tính từ khi cố tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài.
2.3.2.4. Sinh lý lâm sàng
+ Thân nhiệt:
Nhiệt độ thân thể gọi tắt là thân nhiệt, là một hằng số hằng định sinh học ở


17

các động vật cấp cao như động vật có vú, người.
Trong điều kiện chăn nuôi giống nhau, thân nhiệt của gia súc non bao giờ cũng
cao hơn thân nhiệt của gia súc trưởng thành và gia súc già: ở con cái cao hơn con đực.
Trong một ngày đêm, thân nhiệt thấp nhất lúc sáng sớm (1 - 5h sáng), cáo nhất vào buổi
chiều từ 16h - 18h.
Theo Nguyễn Thị Ngân và cs, (2016) [10] thân nhiệt của lợn trong điều kiện
sinh lý bình thường dao động trong khoảng 38,5 - 39,5°C.
+ Sốt:
Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm chủ yếu là
thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường. Quá trình chủ yểu là do tác động
của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được hình thành trong quá trình
sinh bệnh. Những chất đó chủ yếu là protein hay sản phẩm của nó. Một số kích tố như
adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu trương đều có thể gây sốt.
+ Tần số hô hấp.
Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cường độ trao đổi
chất, tuổi, tầm vóc. Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần số hô hấp
tăng hơn. Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động vật có thể vóc
lớn. Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến
nhịp thở. Tần số hô hấp bình thường dao động trong khoảng 8 - 18 lần/phút.
2.3.3. Một số nguyên nhân gây bệnh
Theo Trần Tiến Dũng (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý
thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tố
chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh
hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo Đào Trọng Đạt , (2000) [7], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các
nguyên nhân sau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương
pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được
vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm.


18

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc
mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền
sang cho lợn khoẻ.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử
cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao,... gây viêm.
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ
không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm
nhập vào gây viêm.
Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm
trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó
cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là
một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm và cs, 1997 [9]).
Theo Madec, Neva (1995) [22], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết
niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm
đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra.
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ
quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối
nhưng đã bị viêm tử cung.
2.3.4. Các thể viêm tử cung
Một gia súc cái được đánh giá là có khả năng sinh sản tốt trước hết phải kể
đến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục. Khi bất kỳ
một bộ phận của cơ quan sinh dục bị bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh
sản của gia súc. Theo Bane (1986) [20], các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh
dục là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng
suất của gia súc cái.
Theo Đặng Đình Tín (1985) [19], bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể:
viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×