Tải bản đầy đủ

TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

CHƯƠNG I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT- TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
I. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ LÃI SUẤT
1. Khái niệm về lãi suất :
Lãi suất là chi phí cho việc sử dụng khoản vốn mà người đi vay sử dụng trong một thời
gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở
hữu của họ và là lợi tức người cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu.
2. Các loại lãi suất :
2.1. Lãi suất cơ bản :
Lãi suất cơ bản là lãi suất thấp nhất được các ngân hàng thương mại chủ lực áp dụng
đối với các khoản vay dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn. Lãi suất này được quyết
định bởi Ngân hàng nhà nước, để tăng hoặc giảm lãi suất hiện hành cho các khoản vay ngắn
hạn. Lãi suất cơ bản được xem là lãi suất chính, bởi vì các khoản vay dành cho các khách
hàng nhỏ hơn cũng sẽ phải dựa theo lãi suất này.
2.2. Lãi suất tiền gửi ngân hàng:
Là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng. Lãi suất tiền gửi ngân
hàng có nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào loại tiền gửi (không kỳ hạn, tiết kiệm…), thời
hạn gửi và quy mô tiền gửi.

2.3. Lãi suất tín dụng ngân hàng:
Là lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng khi đi vay từ ngân hàng. Lãi suất tín
dụng ngân hàng cũng có nhiều mức tuỳ theo loại hình vay (vay thương mại, vay trả góp, vay
qua thẻ tín dụng…), theo mức độ quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng… và phụ thuộc cả
vào sự thoả thuận giữa hai bên.
2.4. Lãi suất chiết khấu:
Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu
hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng.
2.5. Lãi suất tái chiết khấu:
Áp dụng khi ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trung gian vay dưới hình thức
chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của các
ngân hàng này.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

1


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
2.6. Lãi suất tái cấp vốn :

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Là lãi suất mà NHTW áp dụng cho các nghiệp vụ tái cấp vốn cho NHTM. Ở Việt Nam,
NHNN tái cấp vốn cho NHTM dưới các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết
khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay dưới hình thức
cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn.
2.7. Lãi suất liên ngân hàng:
Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trường liên
ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của ngân hàng
trung ương. Mức độ chi phối này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và
tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung gian.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất :
Lãi suất biến động do các nhân tố sau:
* Mức cung - cầu tiền tệ :
Cung tiền tệ là tổng thể tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường
(lượng tiền M1 hay M2). Chính phủ tác động thông qua chính sách thắt chặt hay nới lỏng
tiền tệ sẽ làm cung tiền giảm hoặc tăng.
Cầu tiền là nhu cầu về tiền của cá nhân, đơn vị, tổ chức để làm phương tiện giao dịch,


mua bán trên thị trường…
Giao điểm giữa đường cung tiền và cầu tiền sẽ xác định lãi suất cân bằng. Khi có sự
thay đổi trong lượng cung tiền hoặc cầu tiền hoặc cả hai sẽ tạo ra điểm cân bằng mới hay một
mức lãi suất cân bằng mới.
* Lạm Phát:
Khi lạm phát dự tính trong tương lai sẽ tăng, người có khả năng cho vay không muốn
nắm giữ tiền mặt mà đổ xô đi mua hàng hóa, dự trữ vàng và ngoại tệ. Điều này dẫn đến quỹ
cho vay giảm, đồng thời sẽ khuyến khích người đi vay hơn vì chi phí thực của việc vay tiền
giảm xuống, người đi vay sẽ kiếm được lợi nhờ vào hàng hóa được mua bằng tiền đi vay
tăng lên. Do đó cung tiền và cầu tiền tăng lên khi dự tính lạm phát tăng lên sẽ làm cho lãi
suất tăng.

* Sự ổn định của nền kinh tế:
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

2


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
- Ảnh hưởng đến cung tiền vay: Khi nền kinh tế ổn định và phát triền làm cho thị
trường ổn định, ít rủi ro hơn khuyến khích người dân muốn đầu tư nhiều hơn vào những tài
sản mang lại lợi tức cao. Vì vậy cung tiền vay tăng lên.
-

Ảnh hưởng đến cầu tiền vay : Nhu cầu vay vốn và tăng số dư nợ nhằm tài trợ cho các

dự án đầu tư, mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp làm cho cầu tiền vay tăng lên.
Khi cung cầu tiền vay đều tăng nhưng đường cung dịch chuyển ít hơn cầu tiền thì mới
làm cho lãi suất cân bằng tăng lên được.
* Các chính sách của chính phủ :
Để đạt tới một số mục tiêu của nền kinh tế giải quyết các vấn đề liên quan tới tăng
trưởng, công ăn việc làm, ổn định giá cả thị trường thì Nhà nước sử dụng các công cụ bằng
chính sách: chính sách tài chính, tiền tệ, tỷ giá….sẽ tạo ra sự biến động của lãi suất.
4. Vai trò của Lãi suất trong nền kinh tế :
Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nó là trung tâm trong chính sách tiền tệ
của chính phủ:
* Đối với sự phân bổ các nguồn lực : thì lãi suất là một loại giá cả, nó có vai trò phân
bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội và là yếu tố cần thiết ban đầu trước khi đi
đến quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, dự án hay tài sản. Mặt khác, trong tiêu dùng và
tiết kiệm của hộ gia đình thì lãi suất cũng có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh thu
nhập của kinh tế gia đình.
* Với các hoạt động đầu tư : Khi lãi suất cao, sẽ giảm các khoản đầu tư vào vốn hiện
vật vì phải chi trả lãi vay cao hoặc doanh nghiệp có thể lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng thay
vì đầu tư. Dẫn đến chi tiêu đầu tư giảm. Ngược lại khi lãi suất giảm.
Không chỉ có vậy với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu còn chịu ảnh hưởng
của lãi suất đặc biệt là lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ.
* Lãi suất với lạm phát: Trong thời kỳ lạm phát tăng, tăng lãi suất cho phép hệ thống
ngân hàng có thể giảm tiền mặt trong lưu thông, lượng tiền cung ứng cũng sẽ giảm và lạm
phát được kiềm chế.
* Vai trò của lãi suất đến việc huy động vốn : Lãi suất là chi phí huy động vốn của
doanh nghiệp và ngân hàng. Các doanh nghiệp phải xem xét khả năng lợi nhuận thu được với
chi phí huy động vốn bỏ ra để quyết định huy động vốn từ nguồn nào và đầu tư vào đâu để
có lợi cho doanh nghiệp nhất. Còn ngân hàng phải xem xét giữa lãi suất huy động với khả
năng cho vay ở mức lãi suất cao hơn để đưa ra phương hướng hoạt động đảm bảo mục tiêu
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

3


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
của ngân hàng và phát triển. Cụ thể lãi suất huy động < lãi suất cho vay< tỷ suất lợi nhuận
bình quân.

II. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1. Khái niệm tỷ giá hối đoái :
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền chính là giá của đồng tiền này được tính bằng một số
đơn vị đồng tiền khác. Tỷ giá hối đoái cũng được hiểu là tỉ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền của
hai quốc gia khác nhau.
2. Phân loại tỷ giá hối đoái :
Trên thị trường ngoại hối, thông thường chúng ta tiếp cận các loại tỷ giá hối đoái sau
đây :
-

Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành : tỷ

giá mua vào và tỷ giá bán ra.
-

Căn cứ vào phương diện thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái được chia thành tỷ giá

tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản. Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá áp dụng cho các ngoại tệ tiền mặt ,
séc, thẻ tín dụng. Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các trường hợp giao dịch thanh toán qua
ngân hàng.
-

Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia thành tỷ giá mở

cửa và tỷ giá đóng cửa, tỷ giá giao ngay.
-

Căn cứ vào chế độ quản lý tỷ giá, tỷ giá được chia thành tỷ giá cố định và tỷ giá

thả nổi.
-

Căn cứ mối quan hệ giữa tỷ giá với chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái được chia

thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực.
3. Các nhân tố tác động đến tỷ giá:
 Cán cân thanh toán quốc tế: tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu ngoại tệ, thông
qua đó tác động đến tỉ giá. Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, theo tác động của quy luật
cung cầu ngoại tệ sẽ làm cho đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá. Ngược lại khi cán
cân thanh toán quốc tế bội chi sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá, đồng nội tệ mất giá.
 Lạm phát: Lạm phát biểu hiện ra là sự tăng giá của thị trường. Trong một quốc gia,
khi lạm phát tăng sẽ làm cho sức mua của đồng nội tệ giảm đi và đồng tiền của quốc gia này
sẽ bị giảm giá so với quốc gia có mức lạm phát thấp hơn.
 Lãi suất: là nhân tố tác động rất lớn đến TGHĐ. Nếu lãi suất trong nước cao hơn lãi
suất ngoại tệ hay lãi suất thị trường quốc tế, điều này sẽ thu hút những dòng tiền trên thị
trường quốc tế chảy vào trong nước hay sẽ làm gia tăng sự chuyển hóa lượng ngoại tệ trong
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20
4


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
nước sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao. Kết quả là cung ngoại tệ trên thị trường trong
nước tăng lên, từ đó làm cho đồng ngoại tệ có xu hướng giảm giá hay đồng nội tệ lên giá.
Ngược lại, nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị trường quốc
tế, sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá và đồng nội tê mất giá.
 Ngoài ra có các yếu tố khác như: chính sách kinh tế và sự điều chỉnh vĩ mô của
chính phủ, yếu tố tâm lý của người dân, sức mua của các đồng tiền và tốc độ lạm phát của
các nước có liên quan, trạng thái cung cầu ngoại tệ, chênh lệch mức lãi suất giữa các nước có
liên quan, thực trạng của hoạt động thị trường tài chính, hệ số tín nhiệm của các đồng tiền
trên thị trường tài chính quốc tế.
4. Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế mở:
Trong nền kinh tế mở, hầu hết các nước đều quan tâm đến tỉ giá hối đoái vì tỉ giá có ảnh
hưởng rất lớn đối với hoạt động thương mại quốc tế, trạng thái cán cân thanh toán, tốc độ
tăng trưởng kinh tế, việc làm và lạm phát.
 TGHĐ và hoạt động thương mại quốc tế :
TGHĐ là một phạm trù kinh tế liên quan đến việc tính toán và so sánh giá trị giữa 2
đồng tiền, cho nên một sự biến động của TGHĐ sẽ làm thay đổi sức mua của 2 đồng tiền và
do vậy làm cho giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu của 2 quốc gia trong quan hệ tỉ giá trên thị
trường quốc tế cũng thay đổi, từ đó ảnh hưởng đến quy mô thương mại quốc tế.
Một khi giá cả hàng hóa trở nên rẻ hơn, thì sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽ
được nâng cao, mức cầu mở rộng và khối lượng hàng hóa xuất khẩu sẽ gia tăng. Nền kinh tế
thu được nhiều ngoại tệ và cán cân thanh toán được cải thiện. Ngược lại, một khi đồng nội tệ
lên giá trong sự tương quan với sự mất giá của đồng ngoại tệ sẽ làm cho xuất khẩu giảm đi,
nhập khẩu tăng lên, cán cân thanh toán trở nên xấu đi.
 TGHĐ và lạm phát, tăng trưởng kinh tế và việc làm:
Khi đồng nội tệ mất giá sẽ khuyến khích gia tăng xuất khẩu, từ đó gây tác động thúc
đẩy sản xuất trong nước phát triển và tạo việc làm ổn định cho người lao động. Tuy nhiên,
đồng nội tệ mất giá sẽ làm cho giá cả hàng hóa, tư liệu sản xuất nhập khẩu tăng cao, từ đó giá
thành sản phẩm trong nước cũng tăng. Điều này làm cho mặt bằng giá cả trong nước tăng cao
và sức ép lạm phát cao trong nước trở nên mạnh mẽ hơn.
Ngược lại, khi đồng nội tê lên giá thì hàng hóa nhập từ nước ngoài trở nên rẻ hơn, từ đó
làm lạm phát trong nước giảm thấp vì những hàng hóa đó đều được tính vào chỉ số giá cả
trong nước. Thế nhưng, đồng nội tệ lên giá sẽ hạn chế hoạt động xuất khẩu, làm thu hẹp sản
xuất trong nước và thất nghiệp gia tăng.
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

5


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

III. MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ
Mối quan hệ giữa lãi suất trên thị trường tiền tệ với tỷ giá trên thị trường hối đoái sẽ
được hiểu rõ thông qua việc nghiên cứu hiệu ứng Fisher quốc tế (International Fisher Effect)
và lý thuyết ngang giá lãi suất.
Theo lý thuyết ngang giá về lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào đó có lãi suất thấp
hơn thì nhất định sẽ là bù kỳ hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một quốc gia nọ
có lãi suất cao hơn. Nói cách khác, trừ kỳ hạn hoặc bù kỳ hạn trên giá kỳ hạn là xấp xỉ tương
đương với chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền. Ngược lại, hiệu ứng Fisher quốc tế chú
trọng đến việc tỷ giá giao ngay của một đồng tiền sẽ thay đổi theo thời gian, khẳng định rằng
tỷ giá giao ngay sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất giữa hai nước.
Sự cân bằng thị trường hối đoái đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, điều kiện mà theo đó
lợi tức dự kiến của các khoản tiền gởi của hai loại tiền bất kỳ là tương đương thì được đo
bằng một loại tiền (nghĩa là đo bằng các đơn vị có thể so sánh với nhau được). Chỉ khi tất cả
các tỷ suất lợi tức dự kiến đều bằng nhau, tức là khi đó điều kiện ngang bằng tiền lãi, thì sẽ
không có tình trạng dư cung về một số dạng tiền gởi nào đó và cũng không có tình trạng dư
cầu về một số loại tiền gởi khác. Thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi không một loại tiền gởi
nào ở trong tình trạng dư cầu hoặc dư cung. Do vậy, có thể nói rằng thị trường hối đoái sẽ
cân bằng khi có điều kiện ngang bằng về tiền lãi.
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, mức lãi suất cao là công cụ để chống
lạm phát và nó thường được sử dụng để đáp ứng yêu cầu can thiệp vào nền kinh tế. Ngoài ra,
chính sách lãi suất còn được sử dụng vào mục đích điều chỉnh giá trị đối ngoại của nội tệ.
Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể nó là phương
pháp thường được sử dụng với mong muốn có những thay đổi cấp thời về tỷ giá. Cơ chế tác
động của công cụ này đến tỷ giá hối đoái như sau: Trong thế cân bằng ban đầu của cung cầu
ngoại tệ trên thị trường, khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi cùng
chiều của lãi suất trên thị trường. Cụ thể, nếu lãi suất tăng sẽ dẫn đến xu hướng là một đồng
vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và những người sở hữu vốn
ngoại tệ trong nước sẽ có khuynh hướng chuyển đổi đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để
thu lãi cao hơn. Kết quả là tỷ giá giảm (đồng nội tệ tăng). Trong trường hợp ngược lại, nếu
muốn tỷ giá tăng thì sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
Tuy nhiên lãi suất và tỷ giá chỉ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau một cách gián
tiếp, chứ không phải là mối quan hệ trực tiếp và nhân quả. Các yếu tố để hình thành lãi suất
và tỷ giá không giống nhau, do đó biến động của lãi suất (lên cao chẳng hạn) không nhất
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

6


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
thiết đưa đến tỷ giá hối đoái biến động theo (hạ xuống chẳng hạn). Lãi suất lên cao có thể thu
hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng khi tình hình chính trị, kinh tế và tiền tệ
trong nước không ổn định, thì không nhất thiết thực hiện được, bởi vì với vốn nước ngoài,
vấn đề lúc đó lại đặt ra trước tiên là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề
thu hút được lãi nhiều.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

7


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

CHƯƠNG II.THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
– TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
I. THỰC TRẠNG VỀ CƠ CHẾ LÃI SUẤT QUA CÁC THỜI KỲ
Bước ngoặc trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế Việt Nam trong lĩnh vực ngân
hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ
tướng Chính phủ), làm tiền đề cho hai pháp lệnh về: Ngân hàng Nhà nước và pháp lệnh về
ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23/5/1989 của Hội đồng nhà nước,
có hiệu lực từ ngày 1/10/1990 với nội dung chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng một cấp và
xây dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển. Đến ngày 1/10/1998 Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ
chức tín dụng ra đời và có hiệu lực cho đến nay đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho
hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.
Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy những
bước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế. Quá trình :
1. Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7/2000) :
Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi
căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất , bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy
động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất
đầu ra). Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát,
ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng
hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á.
2. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8/2000-5/2002) :
Vào tháng 8 năm 2000, NHNN đưa ra cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ
trong đó lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do
NHNN và các ngân hàng không được tính lãi suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản +
0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn. Lãi suất cơ bản
và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ
công bố điều chỉnh kịp thời. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng
thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường
quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi suất này cho thấy

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

8


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và
từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới.
3. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6/2002 – 5/2008):
Từ cuối tháng 5/2002, Thống đốc đã có Quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN về việc
thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt
Nam của các ngân hàng đối với khách hàng. Trong đó quy định các ngân hàng xác định lãi
suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm
của khách hàng vay; NHNN công bố lãi suất cơ bản nhưng với mục đích định hướng lãi suất
thị trường và chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với các ngân hàng khi ấn định lãi suất kinh doanh.
Việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong những năm qua đã tạo điều kiện cho các ngân
hàng chủ động trong việc huy động và cho vay vốn, tăng năng lực cạnh tranh, chủ động
phòng ngừa rủi ro và hội nhập vào nền tài chính khu vực và quốc tế.
NHNN điều hành lãi suất theo hướng thận trọng, linh hoạt nhằm ổn định mặt bằng lãi
suất với mức lãi suất cơ bản được duy trì ổn định là 8,25%/năm. Lý do chủ yếu của việc giữ
ổn định lãi suất này là nhằm phát tín hiệu định hướng ổn định lãi suất thị trường để hạn chế
tác động tăng lãi suất cho vay và cộng hưởng làm tăng chi phí sản xuất, từ đó góp phần kiểm
soát lạm phát. Đối với việc kiểm soát mức tăng tiền tệ để kiềm chế lạm phát, thì chủ yếu sử
dụng nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, còn lãi suất chỉ đóng vai trò bổ trợ cho các
công cụ này.
4. Cơ chế lãi suất cơ bản (5/2008-4/2010) :

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

9


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
Năm 2007, lạm phát ở nước ta lại tăng cao lên 12,63%, đó là hậu quả của chính sách
tiền tệ nới lỏng và tăng trưởng nóng ở nước ta trong hai năm 2006-2007. Đến hết tháng
06/2008, lạm phát ở Việt Nam đã là 18,44% so với 31/12/2007 và 24,8% so với cùng kỳ năm
trước, mức cao nhất trong 15 năm kể từ năm 1993. Ngân hàng Nhà nước buộc phải ra một
loạt các biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra Quyết định số
187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/1/2008 về việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và phát hành tín
phiếu bắt buộc theo quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/2/2008 nhằm rút bớt tiền từ lưu
thông về, chủ động kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng dư nợ
tín dụng phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Bước đầu đã làm giảm bớt một phần lượng
tiền từ các NHTM, giảm đáng kể hệ số nhân tiền, nhưng lại nẩy sinh tình trạng khó khăn
thanh khoản cho các NHTM, nhất là những NHTMCP nhỏ. Từ đó, làn sóng tăng lãi suất
trong huy động dấy lên, từ tháng 2/2008 lãi suất huy động trên thị trường đã biến động mạnh
do các NHTM liên tục tăng lãi suất huy động VND lên mức 13-14%/năm và đã đẩy lãi suất
cho vay lên đến mức trên 20%/năm.
Cũng trong thời gian này, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bắt đầu nóng lên, đến
giữa tháng 2/2008 đã lên đến 30%, có ngân hàng đặt thầu lên đến 40%/năm .Trong khi đó lãi
suất cơ bản của NHNN chỉ với mức 8,75%/năm và lãi suất tái chiết khấu cấp vốn với mức
7,5%/năm, lãi suất chiết khấu với mức 6%/năm theo quyết định 306/QĐ-NHNN ngày
30/1/2008 vẫn không có tác dụng hướng dẫn thị trường. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà
nước đã quy định trần lãi suất huy động là 12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày
26/02/2008 nhằm hạn chế cuộc đua này.

Tiếp đó thực hiện chỉ đạo của chính phủ trong việc sử dụng công cụ lãi suất để kiềm
chế lạm phát, ngày 16/5/2008, NHNN đã ban hành quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, theo đó qui định việc các TCTD ấn định
lãi suất huy động và cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150%
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

10


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
của lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Trên cơ sở quyết định trên, cùng ngày 16/5/2008,
NHNN qui định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 12%/năm.Sau quyết định tăng
lãi suất cơ bản lên 12%/năm, lãi suất huy động của các NHTM điều chỉnh lên 16-17%/năm.
Từ khi NHNN tiếp tục tăng lãi suất cơ bản lên 14%/năm thì lãi suất huy động lại đẩy lên
theo, thường ở mức 17-18%/năm. Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng
phù hợp với quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động
12%/năm theo công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực. Đến
hết tháng 06/2008, khi GDP tăng khoảng 6,8% thì tốc độ tăng M2 chỉ tăng 6% so với đầu
năm và mức độ tăng trưởng tín dụng chỉ ở mức 12%/năm, nguy cơ thiếu thanh khoản của
các NHTM đã được giải tỏa.
Quý 3/2008, cuộc đua lãi suất bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau một loạt các quyết định
của NHNN trong việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: lãi suất cơ bản giảm xuống
từ 14% còn 8,5%; lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên 3,5%/năm, 5%/năm,
10%/năm sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm; tín phiếu bắt buộc đựơc thanh toán
trước hạn; giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% xuống đến 5% và các loại lãi suất chiết khấu, lãi
suất tái cấp vốn cũng được hạ xuống. Chỉ số lạm phát ở tháng 7/2008 được công bố ở mức
1,13% là mức thấp nhất so với các tháng trước đã làm cho tình hình dịu đi, tháng 8/2008 là
1,56%, đến tháng 9/2008 chỉ còn 0,18%, tháng 10/2008 giá cả bắt đầu có xu hướng giảm (âm
0,19%), sang tháng 11/2008 chỉ số giá giảm với mức độ sâu hơn (âm 0,76%) và tháng
12/2008 chỉ số giá cả vẫn tiếp tục giảm còn 0,68%, cả năm 2008 mức lạm phát là 19,98%.
Tăng trưởng GDP đạt 6,23%, thấp hơn dự kiến khoảng 2%.
Như vậy, NHNN đã điều hành chính sách lãi suất kiềm chế lạm phát một cách hiệu
quả.
Bước sang năm 2009 thì những biện pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tốc độ
tăng trưởng, cũng như chính sách vĩ mô đã có những kết quả tích cực. Ngày 01/02/2009
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 01/2009/TT-NHNN hướng dẫn về
lãi suất thoả thuận của các Ngân hàng thương mại đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ
đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đi kèm theo đó là
cơ chế thống kê, theo dõi và thanh tra, giám sát nhằm hạn chế rủi ro.
Năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi. Do áp lực từ cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý
găm giữ ngoại tệ. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã thực thi Chính sách tiền tệ một cách linh
hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường. NHNN đã hạ thấp
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

11


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
lãi suất chỉ đạo từ 14% xuống 7%, hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 11% xuống 5%. Các loại
lãi suất: lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân
hàng nhà nước đối với các ngân hàng đều được giảm với mức phổ biến là 1%. Cụ thể lãi suất
tái cấp vốn là 7%/năm so với mức 8%/năm như trước đây. Lãi suất tái chiết khấu là 5%/năm
so với mức 6%/năm. Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và
cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của ngân hàng nhà nước đối với các
ngân hàng giảm từ 8%/năm xuống 7%/năm. Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ
lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh
nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu
cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng.
5. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (4.2010 đến nay):
NHNN thực hiện chính sách tiền tệ khá thận trọng trong những tháng đầu năm 2010 do
áp lực lạm phát bùng nổ trong quý I. Tuy nhiên, việc lạm phát ổn định ở mức thấp trong quý
II nên NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng thận trọng từ quý II đã làm cho tăng
trưởng tín dụng tăng cao hơn, điều này được thể hiện qua Thông tư 12 của NHNN ban hành
ngày 14/4/2010 về việc cho vay theo lãi suất thỏa thuận và thể hiện qua việc quyết tâm của
Chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu lãi suất “vào 10 ra 12”. Trong thực tế cho thấy rằng
mục tiêu này của Chính phủ đã không phát huy được tác dụng vì mặt bằng lãi suất trong nền
kinh tế diễn biến theo chiều ngược lại và đứng ở mức cao.

Trước diễn biến của lạm phát tăng cao từ tháng 9, NHNN đã trở lại với chính sách tiền
tệ thắt chặt nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát thông qua việc nâng lãi suất cơ bản lên 9% và
các lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu lên 8% từ ngày 5/11/2010. Việc nâng lãi suất
này cùng với những quy định mới của Thông tư 13 về nâng tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ cấp tín
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

12


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
dụng đã ảnh hưởng đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng và phần nào tác động đến mặt
bằng lãi suất cao ở thời điểm hiện tại. Hơn nữa, thị trường tiền tệ chứng kiến cuộc đua lãi
suất mạnh mẽ giữa các ngân hàng vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12 với lãi suất huy động
lên đến 18% và lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng hơn 13%, trong đó có cả
những ngân hàng lớn tham gia vào cuộc đua này đã cho thấy vấn đề thanh khoản của hệ
thống ngân hàng có thể đang gặp khó khăn ở thời điểm hiện tại.
Sự bất ổn của thị trường tiền tệ trong năm 2010 cho thấy các công cụ điều hành tiền tệ
của Ngân hàng nhà nước không còn nhiều hiệu quả khi lãi suất cơ bản chỉ còn mang tính chất
tham khảo do lãi suất hiện tại đang được áp dụng theo cơ chế thỏa thuận, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc hiện tại đã gần quá ngưỡng chịu đựng của hệ thống ngân hàng nên việc nên khả năng
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc gần như không còn trong khi hoạt động thị trường mở từ lâu chưa
phải là công cụ hữu hiệu để ổn định thị trường tiền tệ Việt Nam. Hơn nữa, việc chính sách tài
khóa được mở rộng trong một thời gian dài với mức thâm hụt ngân sách hàng năm đều trên
5% (giới hạn an toàn) chính là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả của
chính sách tiền tệ của NHNN và dẫn tới những bất ổn trên thị trường tiền tệ ở thời điểm hiện
tại. Chính những bất ổn của chính sách tiền tệ trong năm qua cùng với việc nợ công và thâm
hụt ngân sách lần lượt vượt ngưỡng an toàn ở mức 56,6% GDP và 5,8% GDP đã dẫn đến
việc hai tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế lớn là Moody’s và S&P lần lượt hạ mức tín
nhiệm Việt Nam xuống còn B1 và BB và làm cho CDS của Việt Nam ở mức cao nhất so với
các nước trong khu vực. Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho Việt Nam trong việc huy động
nguồn vốn quốc tế trong thời gian tới.
6. Đánh giá chung về chính sách điều hành lãi suất ỡ Việt Nam thời gian qua :
Điều hành lãi suất là một hành động quan trọng của ngân hàng trung ương đối với ổn
định và tăng trưởng kinh tế. Mặc dù có những thành công trong việc điều hành hệ thống ngân
hàng đem lại tăng trưởng và ổn định cho nền kinh tế, cách thức điều hành lãi suất của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn cho thấy một vài điểm chưa hoàn thiện:
-

Chính sách lãi suất bị động chưa bắt kịp diễn biến thực tế: Thực tế thời gian qua

chúng ta thường xuyên chứng kiến những biến động trái chiều trong lãi suất và tính thanh
khoản của thị trường. Những biến cố xãy ra thường vượt sức chịu đựng của thị trường thì lúc
này cơ chế chính sách mới được đưa ra để hướng dẫn thay vì chính sách của Nhà nước phải
phát huy tác dụng là công cụ dự báo, dẫn dắt và định hướng thị trường.
-

Chính sách điều chỉnh thường tạo ra cú sốc lớn, doanh nghiệp gặp rủi ro khi

chưa có công cụ phòng ngừa: Một hệ lụy từ việc chính sách chưa thể hiện vai trò dự báo,
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

13


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
dẫn dắt thị trường. Khi tình hình biến động theo một chiều hướng xấu thì lúc này NHNN mới
đưa ra “toa trị bệnh”, chính những điều chỉnh không báo trước này làm doanh nghiệp bị lúng
túng, thậm chí là gặp rất nhiều khó khăn. Đồng thời vì sự thay đổi đột ngột trong chính sách
này, doanh nghiệp chưa có thời gian và công cụ phòng ngừa tạo ra áp lực lớn cho doanh
nghiêp.
-

Tồn tại cơ chế lãi suất 2 giá song song nhau, làm bóp méo thị trường : Tình hình

vừa qua cho thấy, thị trường gặp khó khăn về tính thanh khoản, doanh nghiệp khó tiếp cận
vốn. Trong khi cần phải duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn lớn làm đẩy lãi
suất trên thị trường tự do tăng cao, trong khi lãi suất cơ bản do nhà nước ban hành để hướng
dẫn thị lại ở mức quá thấp và bị vô hiệu lực. Khi có khoảng chệnh lệch và để kiềm chế vay
nợ tín dụng thì NHTW điều chỉnh lãi suất lên cao hơn, nhưng nhu cầu vay nợ doanh nghiệp
vẫn cao, thì “lãi suất ngầm” trên thị trường cao hơn quy định thông qua thỏa thuận riêng.
-

Điều hành lãi suất quá dựa vào tín hiệu doanh nghiệp: việc ra quyết định về lãi

suất của NHNN Việt Nam là luôn chậm vì không chú trọng đủ mức vào những dấu hiệu vĩ
mô phản ánh khuynh hướng của nền kinh tế, NHNN dường như thường hay dựa vào những
thông tin vi mô để đưa ra quyết định. Hiện tượng căn cứ vào lời kêu ca thiếu vốn làm ăn của
doanh nghiệp là không thích hợp trong việc ra quyết định về lãi suất. Trong bất kỳ trường
hợp nào được hưởng ưu đãi (lãi suất), các doanh nghiệp được hưởng rồi sẽ vẫn kêu thiếu
chẳng ai nói đủ rồi bao giờ, còn những doanh nghiệp chưa được tiếp cận lại càng kêu to. Do
cách tiếp cận như vậy, việc kéo dài chính sách ưu đãi lãi suất là tất yếu. Và hành động này là
không hợp lý, nó giống bạn giữ chân ga quá lâu khi xe đã lên đỉnh dốc, làm cho xe quá đà,
khó kiểm soát sau đó.

II. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI QUA CÁC THỜI KỲ:
1. Giai đoạn 1992 đến 1997:
Giai đoạn 1992 đến khi khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á (7/1997), NHNN
Việt Nam áp dụng chính sách TGHĐ cố định để kiềm chế lạm phát. Việc điều hành tỷ giá
còn quá sơ cứng và thụ động, đồng Việt Nam bị định giá cao so với đôla Mỹ. Điều này đã tạo
ra và tích lũy các nhân tố gây mất ổn định và kiềm hãm sự phát triển kinh tế.
2. Giai đoạn từ 1997 đến 1999:
Mặc dù thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam không bị kéo vào làn sóng khủng hoảng tài
chính Châu Á, nhưng Chính phủ và NHNN đã thấy được tính chất nghiêm trọng của việc áp
dụng chế độ TGHĐ cố định lâu dài nên đã có khoảng 10 lần điều chỉnh biên độ. Nhưng
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

14


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
NHNN vẫn còn lúng túng trong việc điều hành tỷ giá. Dù vậy, sự vận động tỷ giá trong giai
đoạn này có thể cho rằng TGHĐ đã từng bước vận động theo cơ chế thị trường.
3. Giai đoạn 1999 đến 2006:
Trong giai đoạn này, Việt Nam phải thực hiện những cam kết về mở cửa thị trường tài
chính tiền tệ thì việc giữ tỷ giá ở mức thấp sẽ gây nhiều bất lợi. Từ 26/2/1999, NHNN chấm
dứt công bố tỷ giá chính thức mà chỉ công bố TGBQLNH của đồng Việt Nam so với đôla
Mỹ. Tuy nhiên, diễn biến tỷ giá còn nhiều phức tạp. Cơ chế điều hành tỷ giá quy định biên
độ mua bán làm việc yết giá của NHTM còn cứng nhắc, chưa phản ánh đúng cung cầu ngoại
tệ trên thị trường.
Ngày 12/7/2000, NHNN áp dụng nghiệp vụ thị trường mở. Tỷ giá biến động liên tục,
lúc tăng, lúc giảm đột ngột, không do ý chí chủ quan của NHNN mà do sự mất cân đối cung
cầu ngoại tệ.
Ngày 01/07/2002, NHNN VN công bố nới lỏng biên độ lên 0,25% so với tỉ giá giao
dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Biên độ giao dịch này được giữ cố định trong
thời gian dài, từ 2003 đến 2006. Tỉ giá năm 2003 tăng 3% so với năm 2002 và ổn định với
việc đồng Việt Nam được định giá thấp đã cải thiện rõ rệt tình trạng thâm hụt cán cân thương
mại từ -12,8% GDP năm 2003 xuống còn -8,8% năm 2006, góp phần cải thiện cán cân tài
khoản vãng lai từ -4,9% GDP năm 2003 xuống còn -3% GDP năm 2006, đã tiếp tục cải thiện
được cán cân thanh toán quốc tế, qua đó dự trữ ngoại tệ tiếp tục tăng. Đồng thời, sự ổn định
của tỉ giá đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài, từ đây các nhân tố lạm phát được nuôi
dưỡng, tốc độ tăng trưởng GDP ổn định.
Từ ngày 07/11/2006, Việt Nam được kết nạp vào WTO, một biểu hiện rõ rệt nhất sau
khi hội nhập, đó là dòng vốn nước ngoài chảy vào nhiều, áp lực lạm phát gia tăng. Để không
đi chệch hướng, Nhà nước đã có những chính sách đổi mới hợp lý, trong đó có chính sách
điều hành tỉ giá hối đoái. Chính vì thế, ngày 31/12/2006, NHNN đã nâng biên độ giao dịch tỉ
giá lên 0,5% so với 0,25% trước đó. Bên cạnh đó, để kiềm chế lạm phát, NHNN đã áp dụng
chính sác thắt chặt tiền tệ như tăng lãi suất, tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc ở các ngân hàng thương
mại. Và yêu cầu ngân hàng mua trái phiếu bắt buộc nhằm hạn chế nguồn cung tiền và giảm
tốc độ tăng giá của các mặt hàng.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

15


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
4. Giai đoạn 2007-2009:

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

Biểu đồ tỷ giá USD/VND trong 5 năm trở lại đây (2006-2011), nguồn: TVSI

Sau khi là thành viên chính thức của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO cũng nảy sinh
một vấn đề Việt Nam đang phải “đối mặt” đó là xử lý các nguồn vốn ngoại tệ chuyển vào VN
với khối lượng rất lớn, song vấn đề đặt ra trong điều hành chính sách tiền tệ của NHTW Việt
Nam là thực hiện mục tiêu điều hành tỷ giá. Trong nước, tỷ giá USD/VND trên các thị
trường từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2007 tương đối ổn định nhưng biến động khá nhiều trong
tháng 8 và tháng 9. Vào thời điểm giữa tháng 8 tỷ giá mua - bán USD/VND của NHTM và
trên thị trường tự do tăng nhanh do nguồn cung về ngoại tệ giảm sút, trong khi cầu về ngoại
tệ lại tăng mạnh làm VND mất giá khá mạnh. Từ tháng 9, nguồn cung ngoại tệ trên thị
trường đã có chiều hướng tăng mạnh, thị trường ngoại tệ lại có biểu hiện dư thừa ngoại tệ.
Với chủ trương chung tạo điều kiện để nền kinh tế Việt Nam ngày càng thích nghi với
mức độ mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, trong năm 2007, NHNN cũng đã nới rộng
biên độ tỷ giá giữa USD/VND. Ngày 24/12/2007 Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định
mở rộng biên độ tỷ giá từ ±0,5% lên ±0,75% (tăng 0,25%), tạo điều kiện cho các NHTM ấn
định tỷ giá mua bán linh hoạt hơn sát với cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Cơ chế tỷ giá
ngày càng linh hoạt hơn sẽ đòi hỏi các NHTM và thành viên tham gia thị trường ngoại hối
phải nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro về biến động tỷ giá, để đảm bảo hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
So với thời điểm đầu năm 2007, tỷ giá BQLNH tăng 12đ/USD, cuối năm đang ở mức
16.113đ/USD. Tỷ giá của các NHTM giảm khoảng 20-35đ/USD, giao dịch ở mức
16.000/16.010/16.030đ/USD. Tỷ giá mua bán USD/VND trên thị trường tự do cũng giảm từ
5-35đ/USD so với thời điểm đầu năm và giao dịch ở mức 16.020/16.040đ/USD trên thị
trường Hà Nội và 16.050/16.085đ/USD trên thị trường TP HCM.
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

16


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
Đầu năm 2008, tỷ giá còn dao động quanh mức 16.000 – 16.200 VND/USD, thì đến
giữa tháng 3/2008, tỷ giá giảm xuống còn 15.400 VND/USD. Tuy nhiên, vào những ngày
cuối tháng 3/2008, thị trường đảo chiều, VND không thể tăng giá tăng mạnh hơn. Trong
tháng 4/2008, tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng lên, để ổn định tỷ giá, NHNN phải bán
ngoại tệ can thiệp thị trường. Từ đầu tháng 5 có sự xáo động mạnh trong cung-cầu ngoại tệ
trên thị trường, giá USD bán ra của các NH bất ngờ tăng mạnh thêm 20 VND. Tỷ giá
USD/VND vẫn tiếp tục tăng khiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới. Ở hầu hết các
NHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho phép, trên thị trường tự do, giá bán dao
động xung quanh 17.100 – 17.500 VND/USD. Tính toán của Tổng cục Thống kê công bố
cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với 1,02% so với tháng trước
đó. Đặc biệt trung tuần tháng 6/2008, cơn sốt USD bùng phát, có thời điểm giá chợ đen lên
tới 19.000-19.800 VND/USD.
Đến trung tuần tháng 8, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và ngoại tệ trên thị trường tự
do không quá cách biệt, cụ thể tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ 16.489 VND/USD lên
16.493 VND/USD và dừng ở mức 16.496 VND/USD. Tuy nhiên cuối tháng 10 tỷ giá ở các
NHTM bất ngờ tăng vọt tới mốc 16.800 VND/USD, trong khi tỷ giá bình quân liên ngân
hàng vẫn ổn định, thậm chí giảm nhẹ, giá USD trên thị trường tự do cũng đã xuống dưới mốc
17.000 VND. Còn trên thị trường thế giới, phần lớn tất cả các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều
mất giá so với USD nhất là sau khi Chính phủ Mỹ can thiệp vào thị trường tài chính, ngăn
chặn khủng hoảng khiến USD lên giá.
Quyết định nới rộng biên độ tỷ giá thêm ±3% vào ngày 25/12/2008 (trước đó là
07/03/2008 tăng từ ±0,75% lên 1% và 7/11/2008 từ 1% lên 2%) được xem là một quyết định
cho ba mục tiêu là: thứ nhất đưa giá sát với thị trường hơn; thứ hai là giúp hội nhập thi
trường tốt hơn; thứ ba là là kích thích xuất khẩu, chống trì trệ sản xuất.
Đầu tháng 1/2009 đến tháng 2/2009, tỷ giá USD/VND không có biến động mạnh - tăng
giảm trong khoảng 17.480 đến 17.490 VND/USD - nguyên nhân phần lớn là do có sự can
thiệp của nhà nước. Nhưng, đến tuần thứ ba (16/2 – 20/2), tỷ giá lại biến động khá mạnh. Tỷ
giá niêm yết tại các ngân hàng vẫn không đổi, nhưng trên thị trường tự do tỷ giá USD/VND
có nơi đã lên đến 18.000đ. Trong hệ thống ngân hàng đã xảy ra tình trạng thiếu USD, khiến
cho nhiều người có nhu cầu không thể đổi được ngoại tệ. Mặt khác do việc chênh lệch tỷ giá
giao dịch giữa ngân hàng và thị trường tự do đã khiến cho những người dân hay doanh
nghiệp có USD không bán cho các ngân hàng mà bán trên thị trường tự do. Trong phiên sáng
ngày 20/3/2009, đồng USD trên thị trường tự do còn giữ biên độ trung bình trên cả nước:
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

17


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
17.600-17.700 đồng. Từ tháng 4 đến tháng 7/09 tỷ giá VNĐ/USD liên tục tăng cụ thể là từ
17.720 VNĐ/USD vào đầu tháng 4 đến 17.819 VNĐ/USD vào cuối tháng 7, tuy nhiên nữa
đầu tháng 8 tỷ giá đã giảm nhẹ về mức 17.812 VNĐ/USD. Quý 4/09 tỷ giá đã vượt qua
ngưỡng 18.000 VNĐ/USD, và đỉnh của nó là vào cuối tháng 10/09 là 18.862 VNĐ/US.
NHNN đã thực hiện thay đổi mạnh giữa tỷ giá Việt Nam và USD lần thay đổi vào ngày
26/11/09, tỷ lệ phá giá là 5,44%, đồng thời NHNN thu hẹp biên độ dao động của tỷ giá từ 5%
xuống 3% . Lúc này NHNN công bố mức tỉ giá bình quân liên ngân hàng là 17.961
VND/USD thì mức tỉ giá sàn là 17.422 VND/USD và trần giao dịch là 18.500 VND/USD.
5. Giai đoạn 2010-nay:
Trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã phải hai lần điều chỉnh tỷ giá trên thị trường
ngoại tệ. Lần thứ nhất vào ngày 11/02/2010, cơ quan này quyết định tăng tỷ giá thêm 3%, lên
mức 18.544 đồng một USD. Sau đó, đến ngày 17/8/2010, Ngân hàng Nhà nước lại thực hiện
điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%), biên độ tỷ
giá vẫn giữ nguyên ở mức +/-3%. Và giá USD trên thị trường tự do bắt đầu đà tăng không
phanh từ thời điểm này, do việc điều chỉnh trên tác động mạnh tới tâm lý người dân, doanh
nghiệp cũng như nhà đầu cơ. Vào cuối tháng 9, giá USD tự do chính thức vượt mốc 20.000
đồng một USD, giá mua bán niêm yết tại hầu hết ngân hàng cũng ở mức kịch trần cho phép.
Trong nhiều ngày, đa số ngân hàng để giá USD mua và bán ngang nhau, cho thấy nguồn
cung ngoại tệ đang khá căng thẳng. Đà tăng của USD chưa dừng lại ở đó, đến cuối ngày
04/11/2010, mốc 21.000 đồng một USD chính thức được xác lập trên thị trường tự do. Tuy
nhiên, thời điểm ghi nhận đỉnh cao nhất của đồng ngoại tệ xanh này trên “chợ đen” phải kể
đến lúc 9h30 ngày 01/12/2010, khi USD vọt lên 21.600 đồng.
Vào các tháng cuối năm 2010, người người, nhà nhà rút tiền mua vàng, USD tích trữ vì
lo ngại VND mất giá, khiến một lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư không được lưu thông qua
hệ thống ngân hàng hay đổ vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Có thời điểm, các nhà đầu tư
còn xôn xao tin đồn USD có thể lên 23.000 đồng, do một số nhận định từ một vài tổ chức
nước ngoài. Tuy nhiên, sau khi Ngân hàng Nhà nước cho phép nhập khẩu vàng trở lại, giá
kim loại quý giảm dần, kéo theo giá USD trên thị trường tự do cũng hạ nhiệt và dao động
quanh mức dưới 21.000 đồng.
Ngày 11/02/2011, Ngân hàng Nhà nước công bố điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân
hàng lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ +/- 3% xuống +/- 1% áp
dụng cho ngày 11/02/2011. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ điều hành tỷ giá
tương đối linh hoạt trong thời gian tới. Với quyết định điều chỉnh tỷ giá này của NHNN, giá
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

18


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
mua USD được niêm yết tại các NHTM cũng điều chỉnh theo, giá mua bằng tiền mặt và
chuyển khoản được áp dụng ở mức 20.690 VND/USD, riêng giá bán được áp dụng với mức
20.890 VND/USD. Đây là lần nâng tỷ giá USD/VND đầu tiên kể từ ngày 18/08/2010 đến
nay. Theo đó, tỷ giá trần USD/VND giao dịch tăng lên ở mức 20.900 VND/USD. Đây là đợt
điều chỉnh đầu tiên trong năm 2011 và là lần thứ 4 kể từ năm 2009 đến nay. Tuy nhiên cũng
cần lưu ý đây là lần điều chỉnh tỷ giá mạnh nhất trong vài năm gần đây với tỷ giá liên ngân
hàng được điều chỉnh tăng tới 9,3%. Trong những ngày gần đây, tỷ giá thị trường chợ đen đã
giao dịch tới mức 21.500 VND/USD. Trước đó, trong khoảng 2 tháng, tỷ giá được giao dịch
khá ổn định quanh mức 21.000 VND/USD và cao hơn tỷ giá niêm yết chính thức khoảng 7%
- 8%. Việc tỷ giá thị trường chợ đen vượt xa giá niêm yết chính thức kéo dài trong gần 6
tháng thì việc điều chỉnh tỷ giá chính thức là điều không thể tránh khỏi. Việc ngân hàng nhà
nước điều chỉnh tỷ giá chỉ còn là một động thái “hợp thức hóa” các giao dịch trên thị trường.
Dưới góc độ kinh tế học thì việc đưa tỷ giá chính thức về gần tỷ giá thị trường chợ đen sẽ
làm giảm chi phí giao dịch có nghĩa làm giảm tổn thất vô ích cho toàn bộ nền kinh tế.
Việc tăng tỉ giá này đã có những tác động cơ bản: xóa bỏ cơ chế 2 giá tồn tại trước đó
trong ngân hàng, làm giao dịch mua bán ngoại tệ rõ ràng minh bạch hơn; thứ hai, tỉ giá mới
sát với thực tế hơn, nên xóa bỏ tâm lý cất giữu USD trong dân, tạo động lực cho người có
USD bán cho ngân hàng. Ngoài ra, nó cũng có tác động khuyến khích, thu hút và giải ngân
FDI, ODA và kiều hối; phù hợp với cung cầu ngoại tệ trên thị trường, tăng tính thanh khoản
trong thị trường, kiềm chế nhập siêu; hướng tới điều chỉnh tỉ giá liên ngân hàng linh hoạt,
góp phần ổn định thị trường ngoại hối, đảm bảo lợi ích của nền kinh tế, của doanh nghiệp,
bảo toàn dự trữ ngoại hối.
Nhưng bên cạnh đó, việc tăng tỉ giá cũng đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến thị
trường. Trước hết, đó là ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nhập khẩu, mà nói rõ là doanh thu
và lợi nhuận của các doanh nghiệp này, trong đó có những mặt hàng thiết yếu ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất và hoạt động của người dân như gas, phôi thép… Vì tỉ giá nâng lên cao,
giá cả các mặt hàng này tăng kéo theo giá cả các mặt hàng khác, góp phần đưa lạm phát lên
cao.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

19


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
6. Đánh giá chung về cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái :
6.1. Ưu điểm :
Sau năm 1989, với việc thực hiện một chế độ tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt theo sát
thị trường thì chính sách tỷ giá hối đoái mặt sau đã có tác động tích cực đến hoạt động của
nền kinh tế nước ta. Nhũng tác động tích cực đó thể hiện ở một số mặt sau:
-

Chính sách TGHD phù hợp với cung cầu thị trường với sự can thiệp của Nhà nước đã

tạo cho sản xuất phát triển: hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng phát
triển, tăng khả năng cạnh tranh xuất nhập khẩu, kìm chế lạm phát…
-

Cải thiện được cán cân thanh toán theo chiều hướng tốt nhờ chính sách tỷ giá hối đoái

phù hợp.
-

Việc ổn định tỷ giá và sự cởi mở trong quản lý ngoại hối, luật đầu tư đã tạo điều kiện

thu hút vốn đầu tư khá nhanh.
-

NHNN kiểm soát các nguồn thu ngoại tệ chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng, do

đó tạo hiệu quả trong kiểm soát tình hình tỷ giá hối đoái và góp phần tăng dự trữ ngoại tệ.
-

Cơ chế tỷ giá mềm mỏng linh hoạt hơn, ít áp đặt nhưng không buông lỏng, phù hợp

với cung cầu thị trường giúp doanh nghiệp chủ động cân đối nhu cầu ngoại tệ.
6.2. Hạn chế :
Mặc dù chính sách tỷ giá hối đoái đã được đổi mới và đã tác động tích cực đến sự ổn
định và phát triển kinh tế nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại:
-

Tính cứng nhắc kém hiệu quả của tỷ giá : Nhà nước quy định quá chi tiết biên độ và

biên độ dao động hẹp, thể hiện sự can thiệp quá sâu vào hoạt động của thị trường.
-

Cung cầu ngoại tệ bị biến dạng, không phản ánh cung cầu ngoại tệ trên thị trường:

Tình hình hiện nay cho thấy cung cầu thực trên thị trường khó mà xác định vì tồn tại thị
trường chợ đen biến động phức tạp trong khi đó khả năng can thiệp và phân phối các công cụ
tiền tệ rất hạn chế. Bên cạnh đó, văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, gây khó khăn trong việc
cân đối cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế để làm cơ sở hoạch định chính sách tỷ giá.
-

Cơ chế hai tỷ giá tồn tại song song và có độ chênh lệch lớn : Thị trường chợ đen tồn

tại ngoài tầm kiểm soát của chính phủ, vì USD là đồng tiền mạnh, chiếm vị trí quan trọng
trong chi trả và dự trữ .. .Trong khi trên thị trường chính thức không thể đáp ứng hết nhu cầu,
trong khi đó cầu USD tăng cao buộc người dân phải tìm trên thị trường chợ đen và chấp nhận
mua với tỷ giá khá cao.
-

Hiện tượng “ đô la hóa “ vẫn tồn tại.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

20


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
- Hoạt động dự báo tỷ giá hầu như chưa tồn tại và nghiệp vụ quản trị rủi ro thì kém phát
triển hơn ai hết những doanh nghiệp kinh doanh sản xuất gặp rủi ro.
-

Hiện tương găm giữ ngoại tệ, đầu cơ tỷ giá vẫn còn phổ biến : thời gian qua tỷ giá

biến động liên tục theo chiều hướng tăng lên, tạo ra tâm lý găm giữ hoặc đầu cơ trong dân.
Số ngoại tệ trôi nổi ngoài hệ thống ngân hàng khó kiểm soát.
-

Thị trường liên ngân hàng hoạt động chưa đạt hiệu quả cao: thời gian qua chúng ta

thường chứng kiến thị trường ngoại hối trong tình trạng căng thẳng, doanh nghiệp khó tiếp
cận với nguồn ngoại tệ, trong khi một lượng cung ngoại tệ đang nắm giữ trong dân còn rất
lớn, thể hiện thì trường ngân hàng chưa hoạt động tốt trong việc thu hút lượng cung ngoại tệ
và đáp ứng tính thanh khoản. Bên cạnh đó, tính minh bạch thông tin trên thị trường kém hiệu
quả tạo khó khăn trong việc hoạch định chính sách dựa vào thông tin trên thị trường.

Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

21


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh

CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH
CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT – TỶ GIÁ TRONG THỜI GIAN TỚI.
I. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
1. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển của thị trường tiền tệ :
Sớm hoàn chỉnh các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Công cụ chuyển nhượng để mở
rộng áp dụng các công cụ mới (như thương phiếu) trên thị trường. Đối với các công cụ đã
hình thành trên thị trường như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu của các NHTM… cần tiếp tục
chuẩn hóa để tạo điều kiện cho các công cụ này được giao dịch trên thị trường thứ cấp.
Ban hành đồng bộ văn bản hướng dẫn thực hiện các công cụ phái sinh, công cụ phòng
ngừa rủi ro theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh các nghiệp vụ kỳ hạn và hoán đổi, cho phép các
NHTM thực hiện giao dịch quyền chọn, tương lai để phòng ngừa rủi ro tỷ giá, góp phần cải
thiện tính thanh khoản cho thị trường. Bên cạnh đó cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho
hoạt động của thị trường thứ cấp nhằm tạo tính thanh khoản cho các công cụ trên thị trường
tiền tệ.
Tiếp tục triển khai việc hoàn thiện các văn bản pháp lý cho việc hình thành và phát triển
các thành viên chuyên nghiệp trên thị trường tiền tệ nhất là các nhà tạo lập thị trường.
2. Thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao vai trò điều tiết, hướng dẫn thị trường
của NHNN :
Nâng cao năng lực, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thông qua việc đổi mới và
hoàn thiện các công cụ CSTT gián tiếp nhất là nghiệp vụ thị trường mở.
Tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất của NHNN, xác định rõ lãi suất chủ đạo định
hướng lãi suất thị trường. NHNN phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính để hình thành đường
cong lãi suất chuẩn, tăng cường tính thị trường của lãi suất tín phiếu Kho bạc, cũng như đa
dạng hóa kỳ hạn của tín phiếu.
Nâng cao khả năng phân tích dự báo kinh tế vĩ mô, dự báo thị trường tiền tệ theo hướng
áp dụng mô hình kinh tế lượng để điều hành chính sách sách một cách chủ động, hiệu quả.
Nâng cấp và đồng bộ hóa máy móc thiết bị, chương trình phần mềm, ứng dụng nối mạng
trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường tiền tệ, đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Chính phủ qua
NHNN.
NHNN sớm xây dựng hệ thống mạng theo dõi các hoạt động trên thị trường tiền tệ,
nhất là hoạt động trên thị trường liên ngân hàng nhằm nắm bắt kịp thời thông tin về tình hình
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

22


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
thị trường phục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ. Hoàn thiện hệ thống thông tin nội
bộ ngành theo hướng tin học hóa, đảm bảo nắm bắt được đầy đủ, kịp thời, chính xác thông
tin; tăng cường phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin giữa các Bộ, ngành để phục vụ công tác
phân tích, dự báo tiền tệ.
3. Tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn, năng lực kinh doanh của các tổ
chức tín dụng- các thành viên chủ yếu của thị trường :
Các tổ chức tín dụng có biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn phù hợp
với thông lệ quốc tế, thực hiện phân tích lưu chuyển vốn trên cơ sở theo dõi kỳ hạn của các
khoản mục trên bảng cân đối.
Hoàn thiện hệ thống thông tin thanh toán nhằm thực hiện quản lý vốn tập trung, trực
tuyến điều chuyển vốn linh hoạt trong nội bộ từng hệ thống ngân hàng, cũng như giữa các
ngân hàng; đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, năng
lực tài chính và sức cạnh tranh.
Chuẩn hoá tổ chức hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền tệ ở các NHTM đảm bảo
tách bạch rõ ràng giữa chức năng kinh doanh với chức năng thanh toán và quản lý rủi ro.
Các NHTM tăng cường công tác đào tạo cán bộ trong hoạt động thị trường tiền tệ, nâng
cao trình độ kinh doanh, giao dịch tiền tệ cùng với việc xây dựng các biện pháp đảm bảo an
toàn và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động.

II. NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
Thực trạng nền kinh tế hiện nay đang đứng trước thử thách với “ba nút cổ chai”, gồm
có tỷ giá hối đoái bất ổn, lãi suất ngân hàng tăng cao và lạm phát có thể sẽ lên mức hai con
số. Tình trạng như thế, tăng trưởng kinh tế có thể đạt, nhưng chỉ có số lượng chứ không có
chất lượng. Do đó, phải tìm phương thức để thoát khỏi tình trạng trên, đưa đất nước vào phát
triển. Hơn nữa, đây là những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, rất quan trọng. Vì
vậy, cần phải tìm giải pháp để thoát khỏi khó khăn, đưa đất nước tăng trưởng bền vững. Một
trong những giải pháp được đề nghị đó là nâng cao vai trò chỉ đạo của NHNN và Chính phủ.
Trước hết, cần trao thêm quyền cho NHNN nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng.
NHNN phải được đảm bảo tính độc lập trong việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và
giám sát an toàn của hệ thống tài chính tín dụng quốc gia vì mục tiêu ổn định xã hội, phát
triển kinh tế. Hiện tại, Chính phủ đã “bao cấp chức năng” của Ngân hàng NN, hành chính
hóa các công cụ kinh tế vốn có bản chất thị trường, NHNN trước khi giải quyết vấn đề lãi
suất phải trình xin ý kiến CP và điều đó làm Ngân hàng Nhà nước bị động trong nhiều quyết
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

23


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
định và sự bị động này đôi khi gây tổn hại lớn, ảnh hưởng tới tâm lý người dân và đe dọa đến
nền kinh tế. Hãy trao quyền cho Thống đốc để điều hành thị trường tiền tệ một cách chủ
động
Thêm vào đó, Chính phủ cần phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa với chính sách tiền
tệ, với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp. Lạm phát quá cao , trong khi lãi suất thấp
hơn, lãi suất không dương thì cũng vô phương huy động, ảnh hưởng tới tính thanh khoản của
các ngân hàng, làm cho các ngân hàng phải ấn định lãi suất huy động cao để tăng khả năng
huy động vốn. Chính phủ không chỉ có chính sách tiền tệ là công cụ để ổn định kinh tế vĩ
mô. Vì thế phải sử dụng cả hai chính sách trên cho thật sự có hiệu quả. Những công cụ thị
trường mở phải ra vào thị trường, tới tay người dân, chứ không chỉ ở lại trong khu vực ngân
hàng để ổn định đồng tiền. Việc sử dụng vốn không hiệu quả và các khó khăn tài chính của
các tập đoàn lớn trong thời gian qua làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư trong và ngoài
nước. Phải thực hiện kiểm soát chặt chẽ các khoản đầu tư công, giảm bội chi ngân sách, sử
dụng vốn ngân sách nhà nước đạt hiệu quả cao nhất.
Một vấn đề cũng cần phải nghiên cứu nữa là việc vi phạm trong huy động lãi suất.
Trong tình hình nhạy cảm hiện nay, lạm phát gắn liền với niềm tin và yếu tố tâm lý thì việc
xé rào lãi suất như của Techcombank trong năm vừa qua sẽ làm rối loạn thị trường tiền tệ,
ảnh hưởng tới tâm lý của người dân từ đó sẽ tạo áp lực cho cuộc đua lãi suất diễn ra mà
nguyên nhân không phải là do căng thẳng nguồn vốn. Do đó, Ngân hàng NN cần xem lại vấn
đề cấu trúc ngân hàng, tránh ngân hàng to nhỏ choảng nhau, phải có biện pháp xử lý thích
hợp với các trường hợp vi phạm. Ngân hàng NN phải là một ngân hàng Mẹ, cả trên luật pháp
lẫn trên thực tế, để điều hành theo quy luật thị trường chứ không phải một cơ quan ban hành
chính như hiện nay. Có như vậy mới giữ được sự ổn định trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện
cho các chính sách vĩ mô phát huy tác dụng tối đa.
Cuối cùng, biện pháp trung và dài hạn đối với vấn đề lãi suất là phải tạo niềm tin vào
đồng nội tệ. Hiện nay, chúng ta chưa tôn trọng quy luật thị trường, chưa coi trọng phối hợp
chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, điều hành vĩ mô quá kém, độ trễ của chính sách
tiền tệ từ các năm trước bắt đầu ảnh hưởng. Những vấn đề này không do lỗi của đồng tiền
nhưng hậu quả lại đổ hết lên đồng tiền. Hệ quả là cuối cùng người dân càng ngày càng mất
lòng tin vào đồng tiền và quay ra tích trữ vàng, bất động sản, chứng khoán, làm tăng tỷ giá,
tăng lạm phát; ngân hàng phải xé rào lãi suất để cạnh tranh, đẩy lãi suất lên; doanh nghiệp
không chịu nổi. Trong trung hạn và dài hạn, về nhận thức, phải trả lại cho Ngân hàng Nhà
nước chức năng điều hành tiền tệ theo những quy luật của kinh tế thị trường; không thể tăng
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

24


Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ
GVHD : GS.TS. Dương Thị Bình Minh
trưởng nhanh trong khi thực lực không có; phải coi trọng tăng trưởng có chất lượng; đặc biệt
là phải đặt vấn đề ổn định giá trị đồng tiền lên hàng đầu. Tăng trưởng không cao nhưng ổn
định và có chất lượng thì tự nhiên sẽ bớt được lạm phát. Trong trường hợp cần thiết thì cũng
phải hy sinh trong chính sách tiền tệ bằng những biện pháp nghiệp vụ tức thời. Cần có các
quỹ bình ổn ở cấp quốc gia để sử dụng trong trường hợp cần thiết. Cần loại bỏ vàng khỏi
thanh toán. Mặc dù vàng có vai trò tiền nhưng chỉ nên giữ nó ở chức năng cất trữ chứ không
nên để nó tham gia các hoạt động thanh toán, gây rối loạn thị trường. Xây dựng đề án chống
đô la hóa, xử lý hành vi đầu cơ ngoại tệ, găm giữ ngoại tệ quá lâu trong lúc đất nước cần
ngoại tệ. Ngân hàng Nhà nước nên can thiệp bằng các nguồn dự trữ chứ tuyệt đối không nên
phá giá trong thời điểm này. Nâng cao khả năng sản xuất của nền kinh tế, cải thiện cán cân
thương mại, phát triển nội lực của Việt Nam là lời giải dài hạn cho bài toán hiện nay.

III. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CƠ CHẾ LÃI SUẤT
1. Lựa chọn cơ chế điều hành lãi suất:
Chính sách lãi suất là một công cụ của Chính sách tiền tệ. Vì vậy mục tiêu theo đuổi
của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của Chính sách tiền tệ, quá trình hoàn thiện
cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của Chính
sách tiền tệ là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh
tế vĩ mô. Điều đó có nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú
sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng
trưởng kinh tế. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ.
Trên nguyên tắc đó, trong thời kỳ hội nhập hai vấn đề nổi lên mà chính sách lãi suất cần
hướng tới nhiều hơn, đó là áp lực lạm phát gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh
tế vĩ mô. Theo đó, chính sách này phải giải quyết được những mối quan hệ ràng buộc và bất
cập hiện nay trên thị trường tiền tệ, nhưng đồng thời cùng với các công cụ chính sách khác
thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển. Do vậy, tự do hóa lãi suất là mục tiêu cần hướng tới để
đảm bảo sự vận hành của thị trường về cơ bản tuân theo quy luật cung cầu, phân bổ nguồn
vốn hợp lý. Tuy nhiên, với thực trạng nền kinh tế đang phải đối mặt với những bất cập của
thị trường tiền tệ thì áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp là cần thiết, và từng bước tạo
dựng những điều kiện cần thiết để tự do hóa lãi suất. Vậy cơ chế điều hành lãi suất trong thời
gian tới cần phải chú trọng đó là “Tự do hóa lãi suất – có kiểm soát”.
2. Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất: “Tự do hóa lãi suất – có kiểm soát” :
Thứ nhất, phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất thị trường.
Theo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, để có thể phát huy được tốt vai trò định
Nhóm 3 – Đêm 6 – K20

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x