Tải bản đầy đủ

ĐẶC điểm của THI PHÁP TRUYỆN cười

ĐẶC ĐIỂM CỦA THI PHÁP TRUYỆN CƯỜI
1. Hiện tượng buồn cười, cái cười và truyện cười
Cái cười, xét chung có ba loai: 1- cái cười có nguyên nhân về thể xác (do cảm giác
nhột…), 2- cái cười có nguyên nhân về mặt nhân tâm lý, tình cảm (do sự vui
sướng…), cái cười do hiện tượng buồn cười gây ra. Ở đây nói về cái cười do hiện
tượng buồn cười gây ra. Và hiện tượng buồn cười nói ở đây là hiện tượng buồn
cười được kể thành truyện cười. Như vậy, trước hết cần làm rõ các khái niệm hiện
tượng buồn cười, cái cười và truyện cười.
1.1

Hiện tượng buồn cười

Hiện tượng buồn cười là hiện tượng về bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường,
nhưng về thực chất thì trái tự nhiên, trái lẽ thường (hoặc khác hẳn lẽ thường).
Ví dụ 1: Bà cho cháu bé đi ngủ. Một lúc, bà hỏi cháu: - Cháu ngủ chưa? Cháu trả
lời: - Cháu ngủ rồi!
Câu trả lời của cháu bé, về bề ngoài, có vẻ hợp tự nhiên, bà hỏi cháu – cháu trả lời,
bà hỏi “ ngủ chưa?” – cháu trả lời “ ngủ rồi!”. Nhưng chính câu trả lời “Cháu ngủ
rồi!” đã bộc lộ thực chất trái tự nhiên của nó: đã “ngủ rồi” sao còn trả lời được? Đó
là hiện tượng buồn cười.
Ví dụ 2: Một em bé Gabrôvô mua một thứ đồ chơi hình người bằng Sô-cô-la. Bà

bán hàng hỏi: - Nào, cậu muốn mua con trai hay con gái? Sau một giây suy nghĩ,
em bé đáp: Con trai bà ạ!
Cậu bé chọn cái kẹo hình con trai, chắc hẳn vì cậu thích con trai hơn con gái –
thoạt nghe cậu đáp, có lẽ ai cũng nghĩ như thế, theo thường lệ. Nhưng, ở đây có
một chi tiết khiến ta phải nghĩ lại: cậu bé là dân Gabrôvô và cậu đã lựa chọn (giữa
kẹo hình con trai và kẹo hình con gái) “sau một giây suy nghĩ”. Thì ra cậu ta chọn
hình con trai vì hình con trai hơn được một mẩu…Sô-cô-la so với hình con gái – và
đây mới là “thực chất của vấn đề”! Đó là hiện tượng buồn cười.
1.2

Cái cười

Từ những ví dụ trên ta thấy, tuy sự nảy sinh cái cười diễn ra cực nhanh, nhưng ta
vẫn có thể dễ nhận ra diễn tiến của nó đại khái như sau:


-Thoạt tiên, ta bị bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường của hiện tượng (buồn
cười) “ đánh lừa” và ta lầm tưởng nó là như thế.
- Ngay sau đó (hoặc thậm chí, gần như cùng lúc đó), ta phát hiện ra thực chất trái
tự nhiên, trái lẽ thường của hiện tượng đó.
- Và ta bật cười.
Định nghĩa về cái cười như sau: Cái cười là hành động cười nảy sinh khi tự ta phát
hiện ra thực chất trái tự nhiên, trái (hoặc khác hẳn) lẽ thường dưới bề ngoài có vẻ
hợp tự nhiên, hợp lẽ thường, đã khiến ta thoạt tiên tưởng lầm của một hiện tượng.
Như vậy cái cười là sản phẩm của hoạt động trí óc, mà cụ thể là của óc suy lý –
chính tư duy suy lý, tư duy lôgic phát hiện ra thực chất trái tự nhiên, trái (hoặc
khác hẳn) lẽ thường của hiện tượng mà bề ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ thường
thoạt tiên đã đánh lừa nó.
1.3 Truyện cười
Truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn cười, thể hiện ở hành vi của nhân vật
(bao gồm cả hành động nói năng) nhằm gây cười.
Hành vi buồn cười, xét chung, có thể chia làm hai loại:
1.3.1 Những hành vi buồn cười gắn với những nhược điểm thông thường hoặc
những tính cách có phần khác thường nhưng không bị coi là cái xấu như:
- Những lầm lỡ thường tình mà ai cũng có thể mắc.
- Những khuyết tật về thể chất (như thiểu năng về trí lực. cận thị, câm, điếc)
-Những tính tình hoặc thói tật riêng của một lứa tuổi, một nghề nghiệp hay cả một
cộng đồng.
1.3.2 Những hành vi buồn cười gắn với những thói xấu, bao gồm:
- Những thói xấu “thông thường” của bất cứ ai (như tham ăn, sĩ diện, khoe khoang,
mê tín)


- Những thói xấu, những tính cách xấu thuộc về bản chất của một số loại người,
đặc biệt là của tầng lớp thống trị trong xã hội cũ (như hà tiện, nịnh hót, hãnh
tiến…)
Những hành vi buồn cười thuộc loại thứ nhất thường chỉ gây ra cái cười mang tính
chất phê phán từ quan điểm của lý tính thuần túy. Đó là cái cười hài hước, những
truyện cười gây ra cái cười hài hước được gọi là truyện hài hước. Truyện hài hước
thường chỉ có mục đích mua vui.
Nhũng hành vi buồn cười thuộc loại thứ hai thường gây ra cái cười vừa mang tính
chất phê phán từ quan điểm của lý tính vừa mang tính chất phê phán quan điểm của
đạo lý, của ý thức tư tưởng. Đó là cái cười châm biếm (hoặc trào phúng). Những
truyện cười gây ra cái cười châm biếm được gọi là truyện châm biếm (hay truyện
trào phúng).
Ví dụ: Truyện châm biếm Ai nuôi tôi?
Một người bố 50 tuổi có cậu con đã 30 tuổi nhưng lười, không biết nghe gì làm ăn,
chỉ nhờ vào bố. Một hôm, ông thầy tướng coi tướng cho cậu, ta bảo:
-

Bố anh sống 80 tuổi, còn anh sống tới 62 tuổi.

-

Cậu ta thấy thế, liền khóc òa lên. Thầy tướng lấy làm lạ hỏi:

-

Tôi bảo bố con anh đều thọ cả, cớ sao lại khóc?

Cậu ta trả lời:
- Bố tôi chết trước hai năm. Thế thì hai năm ấy ông bảo ai nuôi tôi mà tôi chẳng
khóc?
2. Những đặc điểm thi pháp của truyện cười dân gian
Truyện cười là thể loại truyện kể ngắn gọn bậc nhất – dài cũng thường chỉ đến 15 –
20 câu, ngắn thì 5 – 7 câu, trung bình khoảng trên dưới 10 câu. Tuy ngắn nhưng
cũng là cả một câu chuyện có mở đầu, có diễn biến, có kết thúc. Và cũng có nhân
vật lại phần lớn là nhân vật “ có nét”, gây được ấn tượng. Toàn bộ các yếu tố của
thi pháp truyện cười như kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ…đều phục vụ mục đích gây
cười.


2.1 Nhân vật của truyện cười
2.1.1 Đặc điểm chung của nhân vật truyện cười
Nhân vật (chính) của truyện cười khác nhân vật (chính) của truyện cổ tích:
Nhân vật của truyện cổ tích có cả một cuộc đời, một số phận, nhân vật của
truyện cười không có bề dày như thế - nó chỉ xuất hiện trong một tình huống nhất
định.
Nhân vật của truyện cổ tích thực hiện những hành động phi thường tronng
những hoàn cảnh, những tình huống khác thường, nhân vật của truyện cười chỉ
biểu lộ một hành vi ứng xử trái lẽ thường trong một tình huống bình thường (câu
chuyện diễn ra trong cuộc đời hàng ngày)
Nhân vật của truyện cổ tích là đối tượng của sự lý tưởng hóa, sự ca ngợi,
nhân vật của truyện cười là đối tượng của sự cười cợt, sự phê phán.

2.1.2 Nhân vật của truyện hài hước và nhân vật của truyện châm biếm
Nhân vật của truyện cười cũng được phân thành hai loại: nhân vật của truyện hài
hước và nhân vật của truyện châm biếm. Nhân vật của truyện hài hước là đối tượng
của cái cười hài hước, nhân vật của truyện châm biếm là đối tượng của cái cười
châm biếm.
Xét chung, nhân vật của truyện hài hước và nhân vật của truyện châm biếm đều
được đặt vào cùng một loại tình huống – đó là tình huống sinh hoạt đời thường.
Chỗ khác nhau của hai loại nhân vật này là ở tính chất của hành vi ứng xử của
chúng.
Ví dụ : Truyện hài hước: Phương pháp nào tốt hơn?
Sau khi nghe chuyện người Gabrôvô cho đồng hồ ngừng chạy ban đêm để đỡ mòn
máy móc, một người Xcốtlen ở thành phố Abơđin tuyên bố:
Phương pháp ấy tốt thật đấy. Nhưng làm sao để biết được giờ giấc? Tôi có
một người hàng xóm cứ cất một cái kèn dưới giường nằm. Đêm, nếu muốn biết
mấy giờ, anh ta chỉ việc mở cửa sổ ra và thổi kèn lên. Tức thì, trăm lần như một,


anh ta sẽ được nghe một tiếng giận dữ: “Cái thằng đần độn nào lại đi thổi kèn vào
lúc mười hai giờ hai mươi này!”
-

Truyện châm biếm: May không đi giày

Một anh người Giang Nam không giày, không tất tới nhà người, bị chó cắn ngay
vào chân đau lắm, máu chảy đỏ lòm. Anh ta lấy tay ôm chặt vết thương, xuýt xoa:
-

May mà không đi giày!

2.1.3 Nhân vật chính và nhân vật phụ trong truyện cười
Nhân vật phụ là đối tượng của cái cười hài hước, còn nhân vật chính là đối tượng
của cái cười châm biếm. Đây là trường hợp trong truyện có cả hai loại nhân vật :
nhân vật – đối tượng của cái cười hài hước (nhân vật phụ ) và nhân vật – đối
tượng của cái cười châm biếm (nhân vật chính), trong đó nhân vật – đối tượng của
cái cười hài hước có chức năng là lộ ra cái đáng cười tiềm ẩn nơi hành vi của nhân
vật chính, biến nó thành nhân vật đối tượng của cái cười châm biếm.
Ví dụ : Đậu phụ
Sư cụ ăn vụng thịt cầy ở trong phòng. Chú tiểu biết, hỏi:
-

Bạch cụ, cụ xơi gì trong ấy ạ?

Sư cụ đáp:
-

Tao ăn đậu phụ

Lúc ấy, có tiếng chó sủa ầm ĩ ngoài cổng chùa. Sư cụ hỏi:
-

Cái gì ngoài cổng thế?

Chú tiểu đáp:
- Bạch cụ, đậu phụ làng cắn đậu phụ chùa đấy ạ!
2.2. Xung đột trong truyện cười
2.2.1 Đặc điểm của xung đột trong truyện cười


Trong truyện cười, xung đột có nội dung và hình thức biểu hiện khác : xung đột
trong truyện cười là xung đột giữa cái thật và cái giả, giữa “sự thật và điều dối trá”,
và xung đột này biểu hiện ở mâu thuẫn ngay trong hành vi (buồn cười) của nhân
vật. “Cái giả”, “điều dối trá” là cái hình thức bên ngoài có vẻ hợp tự nhiên, hợp lẽ
thường của hành vi ( buồn cười) của nhân vật và “cái thật”, “sự thật” là cái nội
dung bên trong trái tự nhiên, trái lẽ thường của hành vi ấy. Ta có thể hình dung
biểu hiện và diễn hóa của xung đột trong truyện cười như sau:
Cái giả và cái thật cùng tồn tại trong hành vi của nhân vật: cái giả là hình
thức bên ngoài che đậy cái thật, cái thật là nội dung bên trong ẩn dưới cái giả.
-

Qua trung gian của cái cười thật và cái giả được phân biệt cùng lộ rõ.

Ví dụ: Lợn cưới, áo mới
Có anh tính hay khoe của, một hôm may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi
đứng hóng ở cửa đợi có ai đi qua người ta khen. Đứng mãi từ sáng đến chiều chả
thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm.
Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe của, tất tưởi chạy đến hỏi to:
-

Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?

Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra bảo:
-

Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!

2.2.2 Cơ sở xã hội của xung đột trong truyện cười
Người ta thường tìm hiểu cơ sở xã hội của xung đột trong một thể loại văn học dân
gian ở thời kỳ nở rộ của nó, bởi vì đây là thời kỳ mà không những chức năng đặc
thù của thể loại mà cả những đặc trưng của mối quan hệ thẩm mỹ của nó đối với
hiện thực, cả phương pháp lịch sử đặc thù của nó…đều biểu lộ rõ ràng, trọn vẹn.
2.3 Kết cấu của truyện cười
2.3.1 Đặc điểm của kết truyện cười
Cái cười, như ta đã biết, đòi hỏi hai điều kiện: 1 – có hiện tượng buồn cười (điều
kiện cần), 2 – người cười phải tự mình nhận ra cái đáng cười (điều kiện đủ). Thiếu
điều kiện thứ nhất thì, tất nhiên, không thể có cái cười. Nhưng, thiếu điều kiện thứ


hai thì cũng không có cái cười. (Chẳng thế mà cùng nghe kể một truyện cười, có
người cười trước, có người cười sau, (có khi về đến nhà mới thấy… buồn cười!, có
người thậm chí không cười được).
Do đó, mấu chốt của nghệ thuật gây cười la ở chỗ phải làm sao cho cái đáng cười
tự nó bộc lộ ra một cách cụ thể, sống động và thật tức cười để người nghe / người
đọc (truyện) tự mình phát hiện ra nó mà cười.
2.3.2 Vai trò của yếu tố bất ngờ trong kết cấu truyện cười
Thứ nhất, đó là yếu tố bất ngờ trong diễn biến câu chuyện, yếu tố bất ngờ thuộc về
tình huống trong đó diễn ra cái đáng cười.
Thứ hai, đó là yếu tố bất ngờ của hành vi nhân vật (lời nói, cử chỉ, hành động bất
ngờ). Vì hành vi buồn cười là một hiện tượng có mâu thuẫn trong đó mặt có vẻ hợp
tự nhiên, hợp lẽ thường ở bên ngoài thì quen thuộc với người ta, còn mặt trái tự
nhiên, trái lẽ thường ở bên trong thì người ta không thể lường được, do đó thường
bất ngờ với người ta. Như vậy, có thể nói đây là yếu tố bất ngờ thuộc về bản chất
của cái đáng cười.
Ví dụ: Được một bữa thả cửa
Một chị lấy phải anh chồng tham ăn, hễ ngồi vào mâm là chúi mũi gắp lấy, gắp để,
không nghĩ đến ai cả. Chị ta rất lấy làm xấu hổ, đã nhiều lần khuyên chồng ăn
uống phải từ tốn, nhưng anh chồng vẫn khônh chừa được thói xấu ấy.
Một hôm, nhà bố vợ có giỗ, hai vợ chồng đưa nhau đi ăn cỗ. Vợ sợ chồng ăn uống
thô lỗ thì xấu mặt với chị em, liền nghĩ ra một cách: chị ta lấy một sợi dây, một đầu
buộc vào chân chồng, còn đầu kia thì chị ta cầm lấy và dặn chồng:
-

Hễ bao giờ tôi giật dây mới được gắp đấy!

Chồng gật đầu.
Quả nhiên, lúc ngồi vào mâm, mọi người đều thấy anh này ăn uống từ tốn, lịch sự.
Chị vợ ở dưới bếp vừa làm vừa giật dây. Đôi lúc mải làm, quên không giật, anh
chồng cứ phải ngồi ngây ra nhìn món ăn mà nhỏ dãi. Bố vợ phải gắp thức ăn cho.
Đến giữa bữa, một con gà chạy qua, chẳng may vướng phải dây, co chân giật giật
gỡ mãi vẫn không được. Ở nhà trên, anh chồng thấy dây giật lia lịa, vội vàng cắm


đầu gắp. Càng gắp thấy dây càng giật, tưởng vợ cho thả cửa, anh ta vớ luôn cả đĩa
thức ăn trút vào bát.
2.3.3 Một số thủ pháp gây cười quen dùng
- Thủ pháp phóng đại
Truyện cười thường sử dụng thủ pháp phóng đại. Không cứ truyện châm biếm mới
phải phóng đại, mà truyện hài hước cũng cần phóng đại. Đối với truyện cười phóng
đại có một tác dụng độc đáo. Đối với tục ngữ phóng đại giúp tô đậm, nhấn mạnh
nét bản chất của sự vật hiện tượng, đối với sử thi, truyện cổ tích, phóng đại là biện
pháp nghệ thuật cơ bản nhằm lý tưởng hóa nhân vật anh hùng, đối với truyện cười,
phóng đại có mục đích lố bịch hóa cái đáng cười (trường hợp truyện hài hước)
cùng nhân vật bị cười (trường hợp truyện châm biếm) – nó vừa làm nổi rõ cái thật
như là mặt trái của hành vi nhân vật (nhờ cường điệu nét bản chất), vừa làm nổi rõ
cái giả như là mặt phải của hành vi ấy (nhờ phép tương phản), khiến cho mâu
thuẫn trong hành vi buồn cười tác động mạnh mẽ vào nhận thức, vào ý tưởng của
người nghe / người đọc truyện
Ví dụ: Siêu đại ngôn
Thằng nhỏ que Trúc Ố vào ông ngoại ăn cỗ. Bế nó trên lòng, ông hỏi cháu:
-

Có phải ngoài cháu hay nói khoác lắm hử?

Nó lễ phép thưa:
-

Không phải đâu ông ạ!

Rồi nó khoe ông con châu chấu nó đang cầm trên tay:
Con châu chấu này, ông dội nước sôi vào, nó chín đỏ ra, cháu chỉ lấy cái cỏ
thông vào đít, nó lại sống lại, bay đi liền.
Đặc tả hành vi buồn cười bằng cử chỉ, tư thế, lời nói nhân vật. Cử chỉ, tư thế hành
động của nhân vật ở điểm mở nút luôn luôn có tính chất kỳ quặc, trái tự nhiên
nhưng lại được cắt nghĩa là hợp lý bằng một lý lẽ có vẻ phù hợp, tuy rất dở hơi.
-Yếu tố tục trong truyện cười


Khái niệm “ tục” dùng ở đây cũng có hàm nghĩa tương tự như khái niệm “tục”
dùng ở đây cũng có hàm nghĩa tương tự như khái niệm “thô” dùng trong bài
“Những đặc điểm thi pháp của câu đố” (Đố thô, giảng thanh” = “Đố tục, giảng
thanh”)
Yếu tố “ tục” trong truyện cười mang ý nghĩa có phần khác yếu tố “tục” trong câu
đố. Trong câu đố, yếu tố “tục” thiên về miêu tả và cái “tục” là một trong những
hướng liên tưởng, nó là sản phẩm của thứ cảm quan phát sinh từ bản năng và đối
với câu đố nó không đơn thuần là một “phương tiện nghệ thuật”. Trong truyện
cười, kể cả những truyện “tiếu lâm” tục tĩu, cái “tục” không phải là đối tượng miêu
tả và cũng không phải là một hướng liên tưởng, nó chỉ được sử dụng đơn thuần
như một phương tiện để gây cười, và, có thể nói, nó chỉ là một phương tiện gây
cười dễ dãi. Phải thừa nhận là nghe / đọc những truyện cười có yếu tố “tục”, người
ta luôn bật cười dễ dàng mà không cần động não. Cái cười dí dỏm, hóm hỉnh, sâu
sắc, do đó thường không dung nạp yếu tố “tục”. Hạn chế của yếu tố “ tục” như là
một phương tiện gây cười chủ yếu là ở đấy.

2.4 Ngôn ngữ truyện cười
2.4.1 Lời văn kể chuyện
Trong các thể loại truyện dân gian ( bằng văn xuôi), truyện cười là thể loại mà
những bản kể có sau so với những bản kể có trước, kể cả bản kể được ghi chép đầu
tiên, ít có sự thêm bớt hoặc sửa đổi hơn cả: người ta không thể sửa đổi được cốt
truyện của truyện cười (khác với các thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích,…
truyện cười hầu như không có dị bản), không thể thêm bớt các chi tiết (với truyện
cười, thừa chi tiết thì truyện sẽ loãng, nhạt, còn thiếu chi tiết thì cái cười sẽ gượng
gạo), và cũng khó thay đổi lời văn kể chuyện (trong khi đó, ở truyền thuyết và
truyện cổ tích lời văn kể chuyện phần lớn là lời văn của người biên soạn, người kể
lại). Sở dĩ lời văn kể chuyện của truyện cười, xét chung, ít có khả năng bị thay đổi
là vì nó đã đạt tới tính chất vừa cô đúc vừa giản dị trên cơ sở tính chất ổn định của
cốt truyện và các chi tiết.
2.4.2 Ngôn ngữ đối thoại


Do đặc điểm của kết cấu truyện cười (kết cấu có dáng dấp một màn kịch), đối thoại
(bao gồm cả độc thoại) đóng vai trò quan trọng trong lời văn kể chuyện. Có thể
hình dung lời văn kể chuyện gồm hai phần : phần đối thoại là “tiêu điểm” của hành
động và diễn hóa hành động của nhân vật, còn phần còn lại của lời văn kể chuyện
là những chỉ dẫn về hoàn cảnh và diễn hóa của hoàn cảnh. Có thể nói, trong truyện
cười, đối thoại lời nói của nhân vật đóng vai trò chính trong việc thể hiện tính cách
của nhân vật. Do đó, đây cũng là chỗ kết tinh những nét đặc sắc của ngôn ngữ
truyện cười: tính chất giản dị và tự nhiên, sinh động và sắc bén… trong đó, tất
nhiên, nét nổi bật là tính chất hài hước, chắt lọc từ nguồn khẩu ngữ dân gian.
Ví dụ: Tam đại con gà
Có anh học trò, học thì dốt, nhưng lạ gì cái trò “dốt hay nói chữ” nên đi đến đâu
anh ta cũng khoe khoang là mình nào chữ tốt, nào văn hay. Trong vùng, có người
tưởng anh hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ.
Một hôm, anh dạy sách “Tam thiên tự” (Ba nghìn chữ), sau chữ “tước” là chim sẻ,
đến chữ “kê” là gà, thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, chưa biết nói
ra sao. Học trò lại hỏi gấp, thầy cuống, nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Nhưng anh ta
cũng láu, sợ người ta biết thì xấu hổ, mới bảo học trò đọc khe khẽ thôi. Nhân trong
nhà có bàn thờ Thổ công, anh ta mới rón rén đến khấn và xin ba đài âm dương để
xem chữ ấy có thật là “dủ dỉ” không. Thổ công cho ba đài được cả ba. Thế là thầy
thở phào nhẹ nhõm. Liền oai vệ ngồi lên phản, quát học trò đọc to lên. Trò vâng lời
thầy giáo, gân cổ gào:
-

Dủ dỉ là con dù dì! Dủ dỉ là con dù dì! Dủ dỉ là…

Chủ nhà đang ở ngoài vườn, nghe con học chữ lạ tai, vội chạy vào giở sách xem,
rồi nói:
Ấy chết! Chữ “Kê” là con gà, sao thầy lại bảo cháu “ dủ dỉ là con dù dì?”
Thầy tái mặt, nghĩ thầm: “Mình đã dốt, mà thổ công nhà nó cũng dốt nốt”. Nhưng
anh ta lại nhanh trí, nói gỡ ngay rằng:
Thì chữ “kê” là con gà, ai chẳng biêt! Nhưng đây là tôi dạy đến tận gốc, cho
cháu nó biết đến tam đại (ba đời) con gà kia!
Chủ nhà ngớ ra, không hiểu. Thầy bèn cắt nghĩa:


-

Thế này nhé: Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà!

Lời văn kể chuyện của truyện trên có mấy nét đáng chú ý.
Thứ nhất, lời kể đậm đà chất dân gian. Nhiều truyện cười chế giễu thầy đồ dốt
thường nặng nề, lủng củng chữ nghĩa, người không có chút vốn Hán học khó lòng
mà cười góp được. Còn ở đây, cái dốt của anh đồ này thuộc loại ai cũng thấy ngay
là… dốt, không cần dẫn giải dài dòng. Truyện không nhằm khai thác cái cười ở sự
dốt (như những truyện Bất là cây bất, Vẫn chỉ là hai quan,…) mà cười sự giấu dốt.
Lý lẽ “dạy đến tận gốc” của anh đồ, mẹo mực gỡ bí của anh đồ ở đây cũng rất chi
là bình dân: cái lôgic “… con công là ông con gà”, “sáo sậu là cậu sáo đen…”…
thì trong dân gian rất sẵn. Cũng dân gian, cái lối tiện thể lôi cả thần thánh ra báng
bổ (“Thổ công nhà nó cũng dốt!”).
Thứ hai, chỉ cần xâu chuỗi những từ ngữ đặc tả hành vi của nhân vật trong lời văn
kể chuyện, cũng đủ thấy hiện lên sống động khống chỉ một tính cách đáng cười mà
cả diễn hóa của nó:
-

Thầy dốt, nhưng lai giấu dốt, thế là thầy nói liều (“dủ dỉ là con dù dì”)

Nhưng thầy láu, sợ nhỡ sai, sợ (người ta biết thì) xấu hổ, (thầy phải) bảo học
trò đọc khẽ,
-

Rồi thầy rón rén đến khấn Thổ công,

-

Yên tâm, thầy thở phào nhẹ nhõm, và quát học trò đọc to lên,

Bị chủ nhà “ chất vấn”, thầy tái mặt, nhưng nhanh trí, thầy chống chế nói gỡ
( bằng lý lẽ “ dạy cho cháu nó biết đến tam đại con gà”)
Qua đó ta thấy cái dốt bị chê thì ít, nhưng sự giấu dốt bị cười thì nhiều, đồng thời,
ta còn nhận ra một điều sâu sắc hơn: từ sự dốt nát thảm hại, chúng ta chứng kiến sự
thảm hại của dốt nát.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×