Tải bản đầy đủ

Đề tài phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp tại phát diệm kim sơn ninh bình

A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ xa xưa, các nghề tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm vị trí quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa tinh thần ở các vùng quê Việt Nam.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc
tế, sự phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp rất có ý nghĩa trong việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền
thống của dân. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương hỗ trợ và phát triển
nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước, các ngành nghề, làng nghề tiểu
thủ công nghiệp ở nước ta đã và đang được khôi phục và phát triển. Một cuộc
điều tra của Bộ công nghiệp cho thấy làng nghề Việt Nam đang sử dụng 1,3 triệu
thợ thủ công chuyên nghiệp và 3 đến 5 triệu lao động thời vụ đã khẳng định
được vị trí quan trọng của làng nghề trong nền kinh tế nói chung. Làng nghề
phát triển góp phần giải quyết việc làm cho nông thôn đang có quá nhiều người
thất nghiệp; giữ gìn và phát triển văn hóa truyền thống; đặc biệt tạo ra bộ mặt đô
thị mới cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương và làm giàu
trên quê hương mình. Ngoài ra, việc phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp,
đặc biệt là các nghề truyền thống còn có một ý nghĩa khác là sử dụng được lao
động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận.
Hiện nay, huyện Kim Sơn của tỉnh Ninh Bình có 35 làng nghề thủ công
thuộc 10 nhóm ngành nghề chính như: nghề cói, nghề nấu rượu, nghề mộc, mây

tre đan,...Cùng với sự phát triển làng nghề truyền thống của cả nước và của
huyện Kim Sơn, các nghề tiểu thủ công nghiệp của thị trấn Phát Diệm cũng
được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều kiện để phát triển, mở rộng
quy mô và đa dạng ngành nghề. Nhiều nghề như đan cói, đan bèo bồng, nấu
rượu,… được khôi phục và phát triển; đồng thời, nhiều nghề mới được xuất hiện
và phát triển mạnh như: may mặc, mộc chạm trổ mỹ nghệ, mộc dân dụng, gia
công cơ khí,… Thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn
làng nghề được mở rộng quy mô, đã sử dụng máy móc, công nghệ thay thế cho
lao động thủ công. Để nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn thực trạng của
việc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại địa phương và đưa ra các giải
pháp thiết thực phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần
thúc đẩy ngành nghề tại địa phương phát triển đúng hướng và hiệu quả, đáp ứng
được yêu cầu của kinh tế thị trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình hình
phát triển tiểu thủ công nghiệp ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh
Ninh Bình. Thực trạng và giải pháp”.
1


2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
2.1. Mục đích của đề tài.
Trên cơ sở khảo sát thực trạng về tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp
của thị trấn Phát Diệm, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, từ
đó đề xuất các giải pháp phát triển các tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị trấn
Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
2.2. Nhiệm vụ của đề tài.
- Hệ thống hoá có bổ sung một số lý luận cơ bản về phát triển tiểu thủ
công nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
hiện nay.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phát triển tiểu thủ công nghiệp trên
địa bàn thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
- Nêu lên quan điểm và đề xuất các giải pháp phát triển tiểu thủ công
nghiệp trên địa bàn thị trấn Phát Diệm.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và các
nhân tố tác động tới sự phát triển tiểu thủ công nghiệp hiện nay.
4. Phạm vi nghiên.
- Về không gian: thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng phát triển tiểu thủ công nghiệp trên
địa bàn thị trấn Phát Diệm qua 4 năm (từ năm 2012 đến năm 2015). Từ đó đề
xuất những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển tiểu thủ công nghiệp ở địa
phương.
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng
hợp, diễn giải, khảo sát, thống kê, so sánh; phương pháp kết hợp logic với lịch
sử, lý luận với thực tế.
6. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận được
kết cấu thành 3 phần:
I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghề tiểu thủ công nghiệp.
II. Thực trạng về phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp ở thị trấn Phát
Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2012 - 2015.
III. Phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển tiểu thủ
2


công nghiệp ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đến năm
2020.

B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHỀ TIỂU THỦ
CÔNG NGHIỆP
1. Cơ sở lý luận
1.1. Một số khái niệm về tiểu thủ công nghiệp
- Nghề thủ công: Là những nghề sản xuất ra sản phẩm mà kỹ thuật sản
xuất chủ yếu là làm bằng tay. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các
nghề thủ công có thể sử dụng máy, hóa chất và các giải pháp kỹ thuật của công
nghiệp trong một số công đoạn, phần việc nhất định nhưng phần quyết định chất
lượng và hình thức đặc trưng của sản phẩm vẫn làm bằng tay. Nguyên liệu của
các nghề thủ công thường lấy trực tiếp từ thiên nhiên; công cụ sản xuất thường
là công cụ cầm tay đơn giản.
- Thủ công nghiệp: Là lĩnh vực sản xuất bao gồm tất cả các nghề thủ
công. Cũng có khi gọi là ngành nghề thủ công.
- Tiểu công nghiệp: Là những đơn vị sản xuất công nghiệp với quy mô
nhỏ. Tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp khó tách biệt với nhau, tiểu công
nghiệp là hình thức phát triển cao hơn của thủ công nghiệp trong điều kiện phát
triển công nghiệp ngày nay.
- Tiểu thủ công nghiệp bao gồm toàn bộ cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ,
được tiến hành bằng các kĩ thuật thủ công kết hợp với máy móc cơ khí, chuyên
sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống được tiến hành
sản xuất ở nông thôn, ở các làng nghề, thị trấn và đô thị.
- Ngành tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp: Là lĩnh vực sản xuất bao gồm
các nghề thủ công và các cơ sở công nghiệp nhỏ. Thường các cơ sở công nghiệp
nhỏ này có nguồn gốc từ các nghề thủ công phát triển thành.
1.2. Đặc trưng của nghề tiểu thủ công nghiệp
Nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) có một số nét đặc trưng nổi bật sau đây:
- Ra đời và phát triển trên cơ sở kỹ thuật tinh xảo và tài hoa của đôi tay và
trí óc của các nghệ nhân, được truyền từ đời này sang đời khác, được mọi lứa
tuổi tiếp thu và có hành nghề.
3


- Đáp ứng được nhu cầu của xã hội ở các địa phương và trong cả nước
nên giá trị và giá trị sử dụng khá cao. Nét nổi bật là nguyên vật liệu được khai
thác tại chỗ, nhiều nghề đã tạo được danh tiếng về sản xuất của một làng, một
vùng quê và nhiều nơi biết đến.
- Kết tinh được nhiều truyền thống, tinh hoa của dân tộc, tạo nên đặc thù
phản ánh thói quen của nhân dân bao đời. Trong đó, nổi bật là các thói quen sử
dụng nguyên vật liệu, sử dụng công cụ tinh xảo; thói quen về tạo hình sản phẩm;
thói quen trang trí thông qua dùng màu sắc, hình thể; thói quen về thể hiện kỹ
năng, kỹ xảo trong các thao tác trên cơ sở sử dụng linh hoạt, mềm dẻo các công
cụ lao động một cách tinh tế với sự cảm nhận khác nhau. Tính đặc thù này đã tạo
nên các sản phẩm phong phú, tinh tế, với độ kỳ công cao, khiến sản phẩm trở
nên độc đáo thu hút sự chú ý của người sử dụng.
- Sản phẩm thể hiện sự tích hợp các kiến thức về tự nhiên, xã hội, môi
trường, văn hóa, khoa học kỹ thuật, tinh hoa văn hóa dân tộc và truyền thống
đẹp trong đời sống xã hội qua nhiều thời đại. Tuy xuất phát từ công cụ thủ công
nhưng với tài khéo léo và sự cảm thụ sâu sắc của các nghệ nhân đã tạo nên các
sản phẩm thiết dụng, độc đáo. Ngày nay kết hợp với trang thiết bị hiện đại và
công nghệ cao, sẽ tạo bước phát triển mới của các nghề truyền thống với chất
lượng, hiệu quả cao mà vẫn thể hiện được tài hoa của nghệ nhân và tính độc đáo
của sản phẩm truyền thống Việt Nam.
1.3. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của các nghề
tiểu thủ công nghiệp.
Quá trình hình thành và phát triển của các nghề TTCN chịu ảnh hưởng
của nhiều nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, trong đó thì các nhân tố kinh tế -xã
hội có ảnh hưởng mạnh mẽ hơn cả. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự
phát triển gồm có:
1.3.1. Nhu cầu thị trường
Sự tồn tại và phát triển của các nghề TTCN phụ thuộc rất lớn vào khả
năng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và thường xuyên biến đổi
của thị trường. Những nghề có khả năng thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của
thị trường thường có sự phát triển nhanh chóng. Sự thay đổi nhu cầu của thị
trường tạo định hướng cho sự phát triển của các nghề TTCN. Ngay cả trong mỗi
một nghề, cũng có những làng nghề phát triển, trong khi một số làng nghề khác
lại không phát triển được, do sản phẩm làm ra chỉ là những sản phẩm truyền
4


thống, ít chú ý đến sự thay đổi kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng và giá cả nhằm
đáp ứng được sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường.
1.3.2. Cơ chế chính sách về phát triển các nghề TTCN
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển
hay suy vong của các nghề TTCN. Chính sách mở cửa hội nhập nền kinh tế
nước ta với khu vực và thế giới cũng làm cho một số sản phẩm có điều kiện phát
triển vì mở rộng được thị trường, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ, trong đó có
sản phẩm thêu ren truyền thống, nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho hàng
nước ngoài tràn vào thị trường trong nước khá nhiều, làm cho sản phẩm của các
làng nghề khó có thể cạnh tranh nổi với sản phẩm ngoại nhập, làm hạn chế sự
phát triển của một số làng nghề. Trong quá trình CNH - HĐH đất nước, nếu
không có chính sách phát triển hợp lý đối với sự kết hợp giữa đại công nghiệp
với tiểu thủ công nghiệp thì các làng nghề cũng khó có điều kiện phát triển.
1.3.3. Vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh
Vốn là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ quá trình sản xuất,
kinh doanh nào. Trước đây, vốn của các hộ sản xuất, kinh doanh trong các nghề
TTCN rất nhỏ, thường là vốn tự có của gia đình hoặc vay mượn của họ hàng,
làng xóm, nên quy mô sản xuất không mở rộng được. Ngày nay, trong điều kiện
nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi
hỏi các hộ sản xuất, kinh doanh phải có số vốn khá lớn để đầu tư, cải tiến công
nghệ, đưa thiết bị, máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn, nhằm nâng
cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của thị trường.
1.3.4. Yếu tố nguyên vật liệu
Yếu tố nguyên vật liệu cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất TTCN.
Trước đây, phần lớn các làng nghề được hình thành do có nguồn nguyên vật liệu
tại chỗ và nghề nghiệp chủ yếu được gắn bó với nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa
phương. Hiện nay, nguồn nguyên liệu của nhiều làng nghề truyền thống đã cạn
kiệt, phải vận chuyển từ những nơi khác về. Trong điều kiện khoa học và công
nghệ phát triển như hiện nay, nguyên vật liệu cho các làng nghề rất phong phú, đa
dạng. Một loại nguyên vật liệu có thể dùng cho nhiều loại sản phẩm, ngược lại
một loại sản phẩm có thể dùng nhiều loại nguyên vật liệu thay thế. Vì vậy, vấn đề
chọn lựa và sử dụng các loại nguyên vật liệu thay thế hợp lý, theo hướng đa dạng
hóa, giá rẻ, bảo đảm cho quy trình sản xuất nhanh, đảm bảo sản phẩm của các
làng nghề có được chất lượng cao, giá thành hạ là điều cần được quan tâm.
1.3.5. Kết cấu hạ tầng
5


Kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông, điện, cấp và thoát nước, bưu
chính- viễn thông,... có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành, tồn tại và phát triển
của các nghề TTCN, trong đó giao thông vận tải là yếu tố quan trọng nhất. Bởi
vì khi giao lưu kinh tế phát triển rộng khắp, khi mà thị trường tiêu thụ sản phẩm
của các làng nghề không chỉ ở tại địa phương mà vươn tới các thị trường xa xôi
khác, khi mà nguồn nguyên liệu tại chỗ đã cạn kiệt phải vận chuyển từ nơi xa về
thì nhu cầu về hệ thống giao thông vận tải phát triển thuận lợi đối với các làng
nghề là rất quan trọng. Trong công cuộc CNH, HĐH, sự phát triển của các nghề
TTCN chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điện, nước và thoát nước,
trong việc đưa thiết bị, công nghệ, máy móc hiện đại để đổi mới công nghệ cổ
truyền, làm tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và làm
giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Sự phát triển của các nghề TTCN trong điều
kiện nền kinh tế thị trường chịu tác động mạnh bởi yếu tố thông tin nói chung,
bưu chính viễn thông nói riêng. Nó sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp nắm bắt
kịp thời, nhanh chóng, chính xác những thông tin về thị hiếu, giá cả, mẫu mã,
chất lượng, quy cách sản phẩm trên thị trường, để có những ứng xử thích hợp
đáp ứng nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, nhà
trưng bày, giới thiệu sản phẩm, chợ, trường học, bệnh viện... cũng là những nhân
tố tích cực giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm nhanh, phát triển mạnh nguồn nhân
lực có sức khỏe, trình độ tri thức và kỹ thuật tay nghề cao, tạo điều kiện cho các
nghề TTCN phát triển.
1.3.6. Trình độ kỹ thuật và công nghệ
Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất lao động, chất lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của
các sản phẩm hàng hóa trên thị trường và cuối cùng là quyết định đến sự tồn tại
hay suy vong của một cơ sở sản xuất, một ngành nghề nào đó. Hiện nay, phần
lớn các cơ sở sản xuất TTCN vẫn sử dụng thiết bị thủ công, công nghệ cổ truyền
chủ yếu dựa vào kinh nghiệm có tính chất cha truyền con nối trong từng hộ gia
đình là chính. Để đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, các cơ sở sản
xuất kinh doanh không thể không đổi mới trang thiết bị, cải tiến áp dụng một số
tiến bộ khoa học công nghệ vào các lĩnh vực sản xuất.
1.3.7. Yếu tố truyền thống
Đây là yếu tố có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của các nghề
TTCN, là nhân tố quan trọng không chỉ chi phối các hoạt động sản xuất mà chi
phối cả tiêu dùng và đời sống của cư dân nông thôn. Yếu tố truyền thống có tác
6


dụng bảo tồn những nét đặc trưng văn hóa của từng nghề, của dân tộc, làm cho
sản phẩm có tính độc đáo và có giá trị cao. Song, trong điều kiện của nền kinh tế
thị trường, không thể chỉ có kinh nghiệm cổ truyền, mà còn phải có khoa học và
công nghệ hiện đại, phải có những con người có đầu óc kinh doanh năng động,
sáng tạo. Yếu tố truyền thống trong điều kiện hiện nay có tác dụng hai mặt, vừa
tích cực vừa tiêu cực, đối với sự phát triển của các làng nghề. Cần phải đưa
những tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại vào sản phẩm nhưng vẫn phải
giữ được những yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và
những sản phẩm của các làng nghề phải được tiếp nhận trong thị trường của xã
hội hiện đại.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Một số nét về tình hình phát triển các nghề TTCN ở huyện Kim
Sơn.
Kim Sơn là huyện đồng bằng có nguồn nhân lực lao động dồi dào. Chính
vì thế phát triển ngành nghề TTCN là một vấn đề quan trọng để giảm bớt sức ép
về lao động nông nhàn trong nông thôn. Huyện Kim Sơn vốn có nhiều nghề
truyền thống từ nhiều đời nay để lại, như: dệt chiếu cói; đan lát bằng cói, bèo
tây, đay; nấu rượu; may, làm mộc; gia công cơ khí... Song, trước đây các nghề
này chủ yếu sản xuất tự cung, tự cấp, không tạo ra sản phẩm hàng hóa, nên thu
nhập đem lại từ nghề rất thấp. Trải qua một thời gian dài với cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, một số ngành nghề kìm hãm không phát triển được, có nghề
mai một tưởng chừng như mất hẳn.
Đến nay, được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp, các làng
nghề và ngành nghề truyền thống phát triển khá mạnh. Không để các làng nghề
hoạt động mang tính chất “tự phát”, Huyện ủy, UBND huyện đã chỉ đạo các
ngành phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, tổ hợp, các địa phương, đoàn thể
tổ chức dạy nghề, đào tạo nâng cao tay nghề để người lao động “bắt kịp” với
yêu cầu đòi hỏi của thị trường.
Để nâng cao thu nhập cho người dân theo các tiêu chí nông thôn mới,
huyện Kim Sơn đã có nhiều giải pháp, trong đó dựa theo đặc thù, tình hình của
mỗi địa phương để có những giải pháp phù hợp. Trong lĩnh vực phát triển tiểu
thủ công nghiệp, huyện đã chỉ đạo các ngành, đoàn thể phối hợp với các doanh
nghiệp, tổ hợp tổ chức các lớp đào tạo nghề, nâng cao tay nghề cho người lao
động để từng bước đáp ứng nhu cầu của thị trường về mẫu mã, chất lượng sản
phẩm. Bên cạnh đó, huyện đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi về vốn, mặt
bằng sản xuất, cơ chế, chính sách… nhằm giúp các doanh nghiệp, tổ hợp phát
7


triển sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị
trường. Với 35 làng nghề truyền thống đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng
nghìn lao động nông thôn, tạo sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu lao động. Các
nghề truyền thống của Kim Sơn ít “kén” người làm, lại có thể làm quanh năm,
nhất là vào lúc mùa màng rảnh rỗi nên phù hợp với lao động vùng nông thôn. Có
việc làm ngay tại địa phương còn giúp người lao động yên tâm gắn bó với quê
hương. Dường như “tiếng lành đồn xa” về sự khéo léo của đôi bàn tay người
làm nghề, sự tinh xảo trên các sản phẩm… nên đã thu hút khách hàng trong và
ngoài tỉnh tìm đến. Theo số liệu thống kê, năm 2015 tổng giá trị công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Kim Sơn (giá so sánh năm 2010) là 4.487 tỷ
đồng, tăng 33,5% so với năm 2014. Trong đó khu vực nhà nước là 2.401 tỷ
đồng, khu vực ngoài nhà nước là 955 tỷ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài là 1.130 tỷ đồng. Các sản phẩm chủ yếu là: gạo, rượu, may mặc, các sản
phẩm hàng cói mỹ nghệ, ...
2.2. Vai trò của nghề tiểu thủ công nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã
hội của huyện Kim Sơn.
2.2.1. Phát triển các nghề TTCN góp phần tạo việc làm, nâng cao thu
nhập cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn.
Với diện tích đất canh tác bình quân thấp và tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc
làm đối với lao động trên địa bàn còn chiếm tỷ lệ cao, vì thế vấn đề giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động đòi hỏi sự hỗ trợ nhiều mặt và đồng bộ của
các ngành nghề và khu vực. Việc mở mang, đầu tư phát triển ngành nghề ở các
làng nghề là biện pháp tốt nhất để huy động nguồn lao động này. Bởi vì, sản
xuất TTCN chủ yếu thực hiện bằng tay, không đòi hỏi cao về chuyên môn, kỹ
thuật như đối với các lĩnh vực sản xuất khác. Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công
tuy có quy mô nhỏ, thậm chí chỉ là sản xuất của các hộ gia đình nhưng đã thu
hút một số lượng khá lớn lao động nông thôn không chỉ ở trong xã mà cả với
những xã lân cận. Sự phát triển của các làng nghề đã có vài trò tích cực trong
việc hạn chế di dân tự do. Bên cạnh đó, tạo thêm công ăn việc làm sẽ làm tăng
thu nhập của người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống
nhân dân. Ở các xã, thị trấn có nghề TTCN tỷ lệ hộ khá và giàu thường cao, tỷ lệ
hộ nghèo thường rất thấp và hầu như không có hộ đói. Thu nhập từ nghề thủ
công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho người dân ở các làng
nghề một cuộc sống đầy đủ, phong lưu hơn cả về vật chất lẫn tinh thần.
2.2.2. Phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp đã góp phần phát triển
kinh tế địa phương và xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
8


Phát triển các nghề TTCN góp phần tăng thu nhập của người dân, đồng
thời đã tạo ra nguồn tích luỹ khá lớn và ổn định cho các hộ gia đình cũng như
cho ngân sách địa phương. Vì vậy, nguồn vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn được huy động từ sự đóng góp của người dân tại địa phương có nghề
TTCN phát triển cũng khác hẳn so với các địa phương không có nghề. Đường
làng, ngõ xóm đều được bê tông hoá, cơ sở hạ tầng khang trang, hệ thống điện
nước được cải tạo và nâng cấp. Đời sống văn hoá tinh thần của người dân được
cải thiện và từng bước được nâng cao. Sức mua của người dân có xu hướng
tăng, góp phần tạo điều kiện cho thị trường hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ phát
triển. Thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn và góp phần tích
cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2.2.3. Các nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển góp phần phát huy tiềm
năng, thế mạnh nội lực của địa phương
Các nghề TTCN của huyện Kim Sơn cho phép khai thác triệt để hơn các
nguồn lực ở địa phương, cụ thể là nguồn lao động, nguyên vật liệu, tiền vốn.
Một khi các nghề TTCN ở nông thôn phát triển mạnh, nó sẽ tạo ra một đội ngũ
lao động có tay nghề cao. Chính thông qua lực lượng này để tiếp thu những tiến
bộ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến áp dụng vào sản xuất, làm cho sản phẩm có
chất lượng cao, giá thành giảm, khả năng cạnh tranh trên thị trường lớn. Như
vậy các nghề TTCN càng phát triển mạnh nó càng có điều kiện để đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn. Hơn nữa khi cơ sở vật chất kỹ thuật được
tăng cường và hiện đại, chính là tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ lao động
thích ứng với tác phong công nghiệp, nâng cao tính tổ chức kỷ luật. Đồng thời
trình độ văn hoá của người lao động ngày một nâng cao, lại là cơ sở thuận lợi
cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào lĩnh vực sản xuất và
hoạt động dịch vụ trong làng nghề.
2.2.4. Phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp góp phần bảo tồn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương
Các sản phẩm TTCN bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật từ đời
này sang đời khác, hun đúc các thế hệ nghệ nhân tài ba và những sản phẩm độc
đáo mang bản sắc riêng. Để các làng nghề truyền thống mai một cũng tức là
đánh mất đi một phần máu thịt của nhiều thế hệ, đánh mất một thứ vô cùng quý
giá của dân tộc. Các làng nghề không chỉ là nơi sản xuất ra hàng hoá mà còn
chứa đựng những tiềm ẩn giá trị văn hoá tinh thần, truyền thống văn hoá của dân
tộc được lưu truyền bao đời nay. Chính vì thế, các làng nghề truyền thống với
9


những bàn tay vàng của người thợ thủ công cần được coi trọng, bảo tồn và phát
triển. Bảo tồn và phát triển các làng nghề là tăng thêm sức mạnh cội nguồn, gieo
vào lòng mỗi người Việt Nam tình cảm dân tộc, yêu quý, trân trọng, giữ gìn di
sản và bản sắc văn hoá Việt Nam. Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế, thì việc phát triển TTCN đã và đang hấp dẫn, thu hút không ít du khách trong
và ngoài nước đến tìm hiểu, chiêm ngưỡng những nét văn hoá đặc sắc, những
sản phẩm truyền thống của dân tộc ta. Ngoài ra nó còn là điều kiện thuận lợi cho
các hoạt động du lịch ở làng nghề thu được lợi nhuận cao.
II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG
NGHIỆP Ở THỊ TRẤN PHÁT DIỆM, HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH
BÌNH GIAI ĐOẠN 2012 - 2015
1. Khái quát đặc điểm của Thị trấn Phát Diệm
1.1. Điều kiện tự nhiên.
Thị Trấn Phát Diệm là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hoá – xã hội của
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Cách trung tâm thành phố Ninh Bình 27 km về
phía Đông Nam, thị trấn nằm trên quốc lộ 10 và ngã tư sông Vạc, sông Ân, đồng
thời nằm giữa 3 xã: Kim Chính, Thượng Kiệm, Lưu Phương. Thị trấn Phát Diệm
có diện tích đất tự nhiên trên 105 ha; nằm ở trung tâm đồng bằng ven biển Kim
Sơn nên có địa hình bằng phẳng, ở độ cao trung bình từ 0,8 đến 1m so với mực
nước biển.
1.2. Dân số, lao động
Tính đến cuối năm 2015, dân số thị trấn Phát Diệm là 10.653 người, với
2388 hộ gia đình, trong đó có 549 hộ đồng bào theo đạo thiên chúa chiếm 23%
dân số, 6523 người trong độ tuổi lao động.
1.3. Tình hình kinh tế - xã hội.
Thị trấn Phát Diệm gồm 8 đơn vị phố, có trên 500 đảng viên sinh hoạt tại
14 chi bộ. Thị trấn Phát Diệm nằm ở trung tâm huyện Kim Sơn có nhiều tiềm
năng, thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội đại biểu lần thứ XXVI
Đảng bộ thị trấn đã xác định nhiệm vụ xây dựng thị trấn Phát Diệm trở thành
một địa bàn phát triển kinh tế - văn hoá trọng điểm của huyện. Phấn đấu xây
dựng thị trấn văn minh, giàu đẹp và sớm trở thành thị xã Phát Diệm.
Được sự quan tâm của các cấp các ngành, phát triển kinh tế xã hội ở thị
trấn Phát Diệm bước đầu đạt kết quả tốt, văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh
xã hội được đảm bảo, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
10


Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, bình quân đạt 13%, thu ngân sách đạt chỉ
tiêu là 7.135.048 đồng (năm 2015). Đời sống vật chất và tinh thần của người dân
được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 14,4 triệu đồng (năm
2012) lên 26 triệu đồng (năm 2015); tỷ lệ hộ nghèo giảm hiện chỉ còn 3,79%
(năm 2015). Thành công trong xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở Thị trấn
Phát Diệm là kết quả của ý Đảng - lòng dân, trở thành động lực quan trọng để
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.
2. Tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị trấn
Phát Diệm
2.1. Các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu của các ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp ở thị trấn Phát Diệm.
Đặc trưng riêng biệt của từng ngành nghề, và từng địa phương chi phối sự
hình thành các hình thức sản xuất kinh doanh thích hợp. Thực tế, trong các
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tồn tại các loại hình sản xuất kinh doanh rất đa
dạng và phong phú, hoạt động đan xen và cùng phát triển… Đối với các ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp ở thị trấn Phát Diệm, hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh chủ yếu là: Doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình …(trong đó hình thức sản
xuất kinh doanh hộ gia đình chiếm khoảng 45%).
- Hộ gia đình: Đây là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến ở thị trấn Phát
Diệm. Hiện nay thị trấn Phát Diệm có khoảng hơn 170 hộ gia đình làm nghề sản
xuất mộc dân dụng, hàng cói, nấu rượu, dệt chiếu, cơ khí, …
- Hộ kiêm (khoảng 110 hộ): Các hộ gia đình này ngoài làm nông nghiệp
còn kiêm sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp như nghề sản xuất mộc
dân dụng và gia công may tại nhà.
- Doanh nghiệp tư nhân: Hình thức này ngày càng phát triển và có xu
hướng gia tăng, đến cuối năm 2015 có 20 doanh nghiệp.
2.2. Một số ngành tiểu thủ công nghiệp ở thị trấn Phát Diệm
- May mặc: Là lĩnh vực giải quyết được nhiều lao động trong nông nghiệp
nông thôn làm chuyển đổi nhanh cơ cấu lao động nông thôn. Thời gian qua đã
có nhiều doanh nghiệp đầu tư mới và đầu tư mở rộng sản xuất thu hút hàng trăm
lao động trong thị trấn và các xã lân cận như: Công ty cổ phần May và thương
mại Kim Sơn chuyên may quần áo xuất khẩu.

11


- Đan cói, bèo bồng: Là ngành thu hút nhiều lao động ở các độ tuổi, nhiều
cơ sở doanh nghiệp như Xí nghiệp tư nhân Năng Động chuyên sản xuất hàng cói
mỹ nghệ, , xí nghiệp Xuân Hòa, Minh Hoàng, Kim Thành,..
- Gia công cơ khí: Ngành vật liệu xây dựng như cán tôn, cán kéo sắt,
khung cửa sắt, sản phẩm kim loại... phát triển tốt, quy mô doanh nghiệp ngày
càng mở rộng. Các cơ sở được đầu tư phát triển đúng hướng và có thị phần ổn
định. Nhiều cơ sở cơ khí trên địa bàn thị trấn như doanh nghiệp tư nhân Vũ Văn
Thắng, ….đã đáp ứng tốt các yêu cầu về cơ giới hoá đồng ruộng trong nông
nghiệp nông thôn.
- Nghề mộc dân dụng: Trước đây chủ yếu là các cơ sở làm các sản phẩm
đồ gỗ như giường, tủ, bàn ghế… hầu hết các khâu công việc đều làm bằng thủ
công. Trong những năm gần đây, theo cơ chế thị trường, nghề mộc ngày càng
mở rộng... Ở thị trấn đã có tới 28 cơ sở sản xuất các mặt hàng bàn ghế, đồ gia
dụng từ gỗ tạo việc làm cho hơn 100 lao động. Đặc biệt, nhiều hộ dân nhạy bén
đã đầu tư máy móc, tìm kiếm nguồn hàng, mẫu mã sản phẩm, mở rộng mặt bằng
xưởng để chuyên sản xuất các mặt hàng mộc nội thất nhà ở, văn phòng cao
cấp... vừa có lãi cao, thị trường tiêu thụ mạnh. Trước kia, nghề mộc chỉ được coi
là nghề phụ nhằm giải quyết nhu cầu việc làm và kiếm thêm thu nhập trong thời
gian nông nhàn. Nhưng nay, với nhu cầu của người dân thì nghề mộc lại trở
thành nghề chính nuôi sống nhiều gia đình. Không tính đến những người vốn
lớn, tự đứng ra mở xưởng sản xuất đóng và bán các sản phẩm mộc thu lãi hàng
trăm triệu đồng mỗi năm thì với giá tiền công hiện nay cho một người thợ làm
thuê là 150 ngàn đồng/ngày thì trung bình mỗi tháng một người thợ lành nghề
cũng có thu nhập từ 3- 5 triệu đồng/tháng.
- Nghề nấu rượu: Là sự kết hợp giữa chăn nuôi và nấu rượu mang lại thu
nhập cao các cho các hộ gia đình như nhà Anh Minh - Trì Chính, Chị Hường –
Phát Diệm Nam, anh Thành – PD Tây,…
3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở
thị trấn Phát Diệm
3.1. Những thành tựu đạt được
Từ sau khi triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị trấn nhiệm kì 20102015 về 4 mũi nhọn đột phá tăng trưởng kinh tế trong đó trọng tâm là phát triển
nghề TTCN. Chính vì thế sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị trấn có
nhiều khởi sắc, khu vực làng nghề hoạt động có hiệu quả, nhiều ngành nghề
12


được mở rộng và có tốc độ tăng trưởng cao. Giá trị sản xuất CN-TTCN năm
2015 đạt 163.600.000.000 tăng 10,4% so với năm 2014.
Các ngành nghề TTCN trên địa bàn thị trấn Phát Diệm bước đầu đã phát
huy nguồn lực và tiềm năng hiện có của địa phương, đóng góp một phần quan
trọng trong tổng thu nhập quốc dân GDP của địa phương, cung cấp một số nhu
cầu thiết yếu các sản phẩm hàng hóa cho địa phương và vùng lân cận, từng bước
hình thành hệ thống ngành nghề trong cơ cấu kinh tế huyện; sử dụng được nhiều
loại lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho nhân dân và thực
hiện chuyển đổi cơ cấu lao động, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng kết cấu hạ
tầng trên địa bàn.
Sự phát triển của nghề TTCN không những chỉ thu hút lao động ở gia
đình mà còn thu hút được nhiều lao động từ các xã lân cận và hạn chế di dân tự
do. Đồng thời sản xuất TTCN không chỉ tạo ra một số lượng lớn lao động mà
còn giải quyết việc làm cho những lao động nông nghiệp nhàn rỗi sau vụ sản
xuất. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất thủ công trong làng nghề còn thu hút được
không ít người già, trẻ em, người tàn tật tham gia sản xuất ở những công đoạn
đơn giản.
Bảng 1: Số lao động tham gia ở một số nghề TTCN của thị trấn Phát Diệm.
Lao động (người)

Nghề

Lao động chính

Lao động thời vụ

May mặc

110

65

Gia công cơ khí

40

38

Mộc dân dụng

102

33

Đan cói, đan bèo bồng

346

150

Nấu rượu

56

30

(Nguồn: Văn phòng UBND thị trấn Phát Diệm)
Bên cạnh đó, sự phục hồi và phát triển của các nghề TTCN đã có ý nghĩa
rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở thị trấn Phát Diệm. Thu nhập của
các hộ làm nghề thủ công ở các làng nghề cao hơn từ 2 – 8 lần thu nhập của hộ
thuần nông. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của TTCN là 10,09%.
3.2. Những hạn chế
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
của thị trấn Phát Diệm còn có một số hạn chế sau:
13


- Việc xây dựng và phát triển của các nghề còn nhiều hạn chế: TTCN phát
triển chưa vững chắc, thu hút đầu tư chậm, làm ăn theo kiểu tự phát, quy mô nhỏ
lẻ, chưa bắt kịp với sự phát triển của thị trường, còn hạn chế về dự báo cungcầu. Vốn, công nghệ, thiết bị sản xuất, thị trường, thông tin, trình độ kỹ thuật và
quản lý chưa tốt, tay nghề thấp, mẫu mã sản phẩm chậm được cải tiến, đổi mới.
Sản phẩm do các làng nghề sản xuất phần lớn chưa hấp dẫn, sức cạnh tranh kém.
- Đại bộ phận lao động chưa qua đào tạo, chủ yếu biết nghề dựa vào tính
truyền thống “cha truyền con nối” trong gia đình, sản xuất chủ yếu là các hộ cá
thể. Sự gắn kết giữa sản xuất kinh doanh chưa chặt chẽ, còn tình trạng tranh
mua, tranh bán. Các cơ sở thường bán hàng qua trung gian nên bị ép giá, giá trị
thị trường ngày càng thấp.
- Các điều kiện và môi trường kinh doanh ở địa phương như kết cấu hạ
tầng kinh tế – xã hội, các quan hệ cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm, hệ thống
các cơ quan cung ứng, dịch vụ,….chưa thuận lợi cho việc đầu tư kinh doanh.
Các nghề chủ yếu vẫn nằm trong khu dân cư, chưa được quy hoạch thành khu
sản xuất tập trung. Bên cạnh đó, việc đầu tư vốn còn hạn chế, môi trường ở các
làm mộc, xí nghiệp may còn bụi bặm cũng chưa được xử lý tốt.
- Nghề mộc dân dụng, may thải ra hàm lượng bụi lớn làm ô nhiễm không
khí khiến người dân mắc các bệnh về phổi, viêm phế quản khá cao. Bên cạnh đó
các thiết bị cưa, bào, cán sắt, máy nghiền đá gây tiếng ồn ảnh hưởng đến thần
kinh, thính giác của người dân nơi đây.
3.3. Nguyên nhân
3.3.1. Nguyên nhân của những kết quả
- Với quan điểm chỉ đạo của Tỉnh uỷ về khôi phục, phát triển ngành nghề
truyền thống; các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, huyện đã triển khai nhiều
biện pháp như: tiến hành quy hoạch cụm làng nghề, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật và nhiều biện pháp hỗ trợ khác giúp làng nghề truyền thống phát triển.
- Đảng ủy, UBND, HĐND làm tốt công tác tuyên truyền giúp cho mỗi cán
bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của phát triển nghề
và làng nghề của chính địa phương mình... Để các nghề phù hợp với từng cơ sở
sản xuất, Đảng ủy thị trấn Phát Diệm đã xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các
ngành liên quan triển khai tổ chức thực hiện xuống từng cơ sở. Đồng thời
khuyến khích các tổ chức, cá nhân liên doanh, liên kết đầu tư mở rộng quy mô
sản xuất, máy móc, công nghệ tiên tiến, đẩy nhanh cải tiến mẫu mã, tìm kiếm thị
14


trường tiêu thụ sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu mang tính đặc trưng
của các làng nghề.
Bên cạnh đó, thị trấn Phát Diệm đã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ
chế chính sách, giúp các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp vay vốn thông qua các
ngân hàng, quỹ tín dụng để phát triển nghề truyền thống, du nhập thêm nghề
mới...
3.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
- Hầu hết các cơ sở sản xuất đều quá nhỏ, thiếu năng lực và kinh nghiệm
quản lý và thiếu thông tin. Hoạt động thị trường và xúc tiến thương mại yếu.
Quan hệ giao dịch còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của kinh tế thị
trường.
- Cơ chế, chính sách của Nhà nước và của tỉnh chưa đồng bộ để tháo gỡ
khó khăn và phát triển sức sản xuất của các cơ sở; chưa khuyến khích, thu hút
được các nguồn đầu tư. Chưa xây dựng được quy hoạch, chiến lược phát triển
TTCN trên cơ sở tiềm năng và thế mạnh của thị trấn. Phần lớn các cơ sở tổ chức
sản xuất mang tính tự phát, manh mún, phân tán, thiếu sự hướng dẫn và quản lý
của nhà nước.
- Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn phần lớn là cơ sở vừa và
nhỏ, quy mô tài chính thấp nên không đủ kinh phí đầu tư cho việc xử lý khói
bụi. Hơn nữa cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư xây dựng tương xứng với sự phát
triển của làng nghề, những hoạt động nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường đã
và đang thực hiện chưa đủ để cải thiện tình hình hiện nay ở các làng nghề.
III. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT
TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP CỦA THỊ TRẤN PHÁT DIỆM,
HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH ĐẾN NĂM 2020
1. Phương hướng chung
Phát huy những kết quả đã đạt được của năm trước và bám sát sự chỉ đạo
của Huyện uỷ, UBND huyện Kim Sơn, phương hướng phát triển của các nghề
TTCN của thị trấn Phát Diệm cho đến năm 2020 cần tập trung vào những định
hướng cơ bản sau:
- Tăng quy mô sản xuất, đặc biệt là nghề sản xuất hàng cói mỹ nghệ, may
mặc, nấu ruợu, dệt chiếu, đồ gỗ thành phẩm… Phát triển các làng nghề, kết hợp
hài hòa nhiều quy mô, loại hình tổ chức sản xuất.
15


- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống phải tạo được động
lực xóa đói giảm nghèo, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân, tạo sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ đó thúc đẩy quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa
và hiện đại hóa. Bên cạnh đó phát triển các nghề TTCN gắn với phát triển đô thị
vaă minh tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa lao động, nguyên liệu, thị trường và
môi trường.
- Phát triển các nghề TTCN phải xuất phát từ nhu cầu thị trường để lựa
chọn các mặt hàng, chủng loại, nhằm thỏa mãn tốt nhu cầu thị trường về số
lượng, chất lượng và giá cả sản phẩm; sản phẩm TTCN phải có sức cạnh tranh
với sản phẩm cùng loại được sản xuất ở các địa phương khác trong cả nước.
- Phải gắn với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và đẩy mạnh xuất
khẩu. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội cho các nghề
TTCN ở thị trấn tạo việc làm để tăng trưởng sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu song
cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho sự phát triển; vì vậy việc phát triển
các nghề TTCN cần chủ động chuẩn bị đầy đủ về nội lực để từng bước phát triển
theo hướng bền vững.
2. Những giải pháp chủ yếu
2.1. Giải pháp về thị trường
Thị trường bao giờ cũng là căn cứ ban đầu để phát triển sản xuất. Trước
hết, cần tăng cường khả năng tiếp cận, nghiên cứu, dự báo và mở rộng thị trường
thông qua hình thức quảng cáo, triển lãm, hội chợ, đầu tư cho việc nghiên cứu,
nắm bắt và cung cấp thông tin về thị trường, như các thông tin hàng hóa, chất
lượng và giá cả hàng hóa, khách hàng và điều kiện mua bán của khách hàng,
phương thức mua bán và thị hiếu người tiêu dùng. Bên cạnh đó cần hỗ trợ cung
cấp về thông tin thị trường thông qua các hình thức phong phú như: mở trang
web giới thiệu sản phẩm; tổ chức và hỗ trợ cho các cơ sở đi tham quan hội chợ,
tham quan các làng nghề ở trong và ngoài tỉnh; phổ biến thông tin giá cả rộng rãi
trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại cho các sản phẩm TTCN
như tổ chức tham gia các hội chợ trong và ngoài tỉnh để giới thiệu sản phẩm, tìm
đối tác, ký kết các hợp đồng. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện để các cơ sở
sản xuất kinh doanh TTCN mở đại lý, các cửa hàng, quầy giới thiệu sản phẩm
tại các trung tâm thương mại, các chợ nông thôn ở các địa phương khác nhau.
2.2. Giải pháp về xây dựng thương hiệu cho các sản
phẩm TTCN
16


Cùng với giải pháp về thị trường, cần chú trọng đến việc xây dựng và phát
triển thương hiệu, thực hiện tốt chiến lược tiếp thị, quảng bá sản phẩm để tạo sự
tin tưởng và ấn tượng tốt đẹp trong lòng khách hàng. Cần nghiên cứu có kế
hoạch đầu tư phát triển các mô hình làng nghề truyền thống, hình thành các hợp
tác xã để củng cố thương hiệu riêng cho các sản phẩm mang tính đặc thù của thị
trấn (rượu, cói mỹ nghệ, mộc…). Các sản phẩm đó phải tạo được dấu ấn riêng,
chất lượng tốt, độc đáo không thể lẫn với bất kì sản phẩm cùng loại của các cơ
sở sản xuất khác ngoài địa phương. Hướng dẫn các cơ sở sản xuất đăng ký
thương hiệu và bảo vệ thương hiệu của mình.
2.3. Giải pháp về vốn
Trong sản xuất các ngành TTCN ở thị trấn Phát Diệm, nhu cầu về vốn
không thật lớn như một số ngành nghề khác, song nó vẫn có vai trò hết sức quan
trọng vì đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định của quá trình sản xuất. Hiện nay,
nguồn vốn đầu tư vào sản xuất TTCN ở thị trấn còn thấp, chủ yếu là vốn tự có.
Do vậy, cần tạo lập môi trường kinh tế ổn định và có chính sách khuyến khích
tăng tích luỹ để đầu tư phát triển tiểu thủ công nghiệp. Mở rộng và phát triển hệ
thống ngân hàng phục vụ phát triển TTCN, cho vay với lãi suất ưu đãi. Việc vay
vốn để mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, hiện đại hoá trang thiết bị
máy móc, đầu tư xử lý môi trường phải được ưu tiên hàng đầu trong chính sách
cho vay vốn của ngân hàng đối với các cơ sở sản xuất TTCN.
2.4. Giải pháp về đào tạo, nâng cao trình độ người lao động
Tay nghề của người lao động gần như quyết định hoàn toàn chất lượng
của sản phẩm. Vì thế cần mở rộng quy mô và đa dạng hoá các hình thức dạy
nghề, truyền nghề. Cải tiến chương trình và tổ chức lại hệ thống các trường dạy
nghề. Tập trung chủ yếu vào đào tạo những kiến thức thiết thực cho việc phát
triển nghề, các kỹ năng có tác dụng thiết thực cho nghề TTCN. Ngoài các tổ
chức, các trung tâm dạy nghề cần có các lớp tập huấn ngay tại địa phương. Kết
hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành thực tế tại các cơ sở sản xuất TTCN
trên địa bàn, giữa truyền nghề trực tiếp với đào tạo cơ bản.
- Thường xuyên mời các chuyên gia giỏi về địa phương mở các lớp bồi
dưỡng kiến thức về quản lý, kiến thức kinh tế thị trường cho đội ngũ cán bộ
quản lý trong các cơ sở sản xuất TTCN của thị trấn và tổ chức tập huấn, chuyển
giao kỹ thuật nuôi trồng cho người dân. Có chính sách ưu đãi đối với những
nghệ nhân, thợ giỏi, những người có tay nghề cao, bên cạnh đó khuyến khích họ
truyền nghề giới thiệu những bí quyết nghề cho thế hệ sau.
17


2.5. Phát triển các nghề TTCN gắn với bảo vệ môi trường.
Tiến hành quy hoạch phát triển các nghề TTCN theo hướng ưu tiên các
mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng có thế mạnh như may mặc, đan cói, bèo bồng,
…Đưa ra những phương án về định hướng phát triển các loại sản phẩm có thị
trường và thân thiện với môi trường, tận dụng được nguyên liệu và nhân công
sẵn có tại địa phương. Áp dụng các giải pháp công nghệ giảm thiểu ô nhiễm do
sản xuất nghề gây ra, hướng dẫn áp dụng công nghệ mới ít gây ô nhiễm môi
trường. Việc đổi mới này không những nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng
hóa sản phẩm mà còn tiết kiệm nguyên vật liệu và giảm thiểu mức độ ô nhiễm
môi trường. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng, các cấp, ngành địa phương
nên thành lập ban an toàn vệ sinh làng nghề để phổ biến thông tin, pháp luật về
môi trường, đồng thời có biện pháp xử phạt nghiêm khắc đối với các cơ sở sản
xuất vi phạm
3. Kiến nghị
Từ kết quả nghiên cứu của Tiểu luận, tôi xin đưa ra một số kiến nghị
nhằm thúc đấy sự phát triển của TTCN trên địa bàn thị trấn Phát Diệm.
3.1. Với cơ sở (thị trấn Phát Diệm):
Trước hết là cần phải nâng cao ý thức tự giác của người nhân dân. Biện
pháp quan trọng góp phần nâng cao ý thức của người dân là tuyên truyền và giáo
dục. Cần có kế hoạch tuyên truyền sâu rộng, cụ thể, nhắm vào đối tượng rõ ràng
nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân làng nghề đối với việc bảo vệ
môi trường. Tổ chức thành nhóm “Vì môi trường” để giáo dục, tuyên truyền sẽ
hiệu quả hơn. Chẳng hạn có thể tổ chức cuộc thi về bảo vệ môi trường cho từng
nhóm đối tượng như: trẻ em, thanh niên… Hoạt động này vừa có tác dụng tuyên
truyền, giáo dục chính những người tham gia cuộc thi mà nó còn có tác dụng
tuyên truyền, giáo dục các đối tượng khác.
- Khôi phục nghề dệt chiếu, nấu rượu,… bởi đây là những ngành nghề
truyền thống lâu đời của địa phương….
- Phát triển vùng nguyên liệu cho sản xuất: Để đảm bảo nguồn nguyên
liệu cho sản xuất trong tương lai, địa phương cần phải có chiến lược và kế hoạch
cụ thể cho việc quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cho sản xuất.
- Tìm thị trường cho sản phẩm đầu ra: Phải nắm bắt được nhu cầu thị
trường, từ đó có kế hoạch phát triển thích hợp cho từng giai đoạn. Tham gia các
hoạt động hội chợ triển lãm trong và ngoài nước. Đẩy mạnh quảng bá các sản
phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia vào hội chợ, lập
18


Website để giới thiệu các sản phẩm trên Internet. Tìm kiếm thăm dò những thị
trường mới.
- Nghiên cứu, thiết kế mẫu mã sản phẩm: Liên kết nghệ nhân, Nhà mỹ
thuật, Nhà sản xuất, Nhà kinh doanh, tìm tòi mẫu mã mới và nhanh chóng đưa
vào sản xuất.... Phát hiện, bồi dưỡng những tài năng trẻ tinh thông trong sản xuất
kinh doanh, khả năng tạo mẫu cừ khôi.
3.2. Với các cấp (huyện Kim Sơn và tỉnh Ninh Bình):
- Mở các lớp tập huấn mẫu mã mới để cạnh tranh trên thị trường và xuất
khẩu. Hỗ trợ làng nghề thay đổi dây chuyền sản xuất hiện đại, ứng dụng các
thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các
sản phẩm của làng nghề. Quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu để phục vụ cho
làng nghề. Hướng dẫn quy trình thủ tục để thành lập hợp tác xã quản lý chung
cho làng nghề và hỗ trợ làng nghề trong việc đăng ký thương hiệu.
- Đầu tư cơ sở vật chất, vốn sản xuất: Ban hành các chính sách ưu đãi về
đầu tư, vốn tín dụng, thuế, mặt bằng sản xuất, đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật
làng nghề, điểm công nghiệp, các chính sách hỗ trợ khác nhằm giảm chi phí sản
xuất, nâng cao giá trị sản phẩm.

C. KẾT LUẬN
Trong thời kì đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, các ngành TTCN
có vai trò và vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế. Ngoài việc góp phần hỗ trợ
và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, TTCN mở ra nhiều cơ hội việc
làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, tạo ra
sự gắn bó hữu cơ giữa các vùng nguyên liệu, giữa các thành phần kinh tế, tạo
cho người lao động có thêm việc làm và tăng thu nhập. Trong những năm qua
các nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị trấn Phát Diệm đã đạt được nhiều
kết quả tốt. Các cơ sở sản xuất không ngừng tăng lên về số lượng và về quy mô
với các sản phẩm đa dạng, phong phú. Các nghề tiểu thủ công nghiệp đã thu hút
lao động cả trong và ngoài độ tuổi lao động, giải quyết số lao động nông nhàn và
tạo việc làm cho cả lao động ở các địa phương khác. Thu nhập tăng, đời sống
vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện, số hộ có kinh tế khá, giàu tăng
lên, số hộ nghèo giảm một cách rõ rệt qua các năm. Thông qua việc bán sản
phẩm mang bản sắc riêng của xã các nghề tiểu thủ công nghiệp đã giới thiệu
những nét đẹp văn hóa với các khách hàng trong và ngoài nước, góp phần bảo
tồn và phát triển di sản văn hóa của dân tộc, từ đó tạo ra những giá trị văn hóa
19


mới, xây dựng quan hệ cộng đồng văn hóa xã hội trong nông thôn ngày càng tốt
đẹp.
Đề tài “Phát triển tiểu thủ công nghiệp ở thị trấn Phát Diệm, huyện
Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Thực trạng và giải pháp” là kết quả của quá trình
nghiên cứu và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Với nhận thức về thực trạng,
việc phát triển TTCN trong giai đoạn tới cần có sự nỗ lực không chỉ của các cơ
quan chức năng, các ngành, các cấp mà nó còn là nhiệm vụ của toàn dân, các tổ
chức quần chúng để giải quyết những tồn tại, khó khăn và phát huy tốt những
mặt mạnh cũng như vai trò của TTCN trong phát triển kinh tế thị trấn Phát
Diệm. Hi vọng rằng phương hướng phát triển TTCN sẽ đóng góp một phần nhỏ
bé vào sự phát triển của kinh tế huyện Kim Sơn và tỉnh Ninh Bình. Vì vậy, cần
triển khai những giải pháp đồng bộ, thiết thực trên tất cả các phương diện như
mở rộng thị trường, coi trọng xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm TTCN
của thị trấn, áp dụng các biện pháp huy động vốn cho các cơ sở sản xuất TTCN,
đẩy mạnh việc ứng dụng và chuyển giao khoa học kỹ thuật, tăng cường đào tạo,
nâng cao tay nghề cho người lao động; đồng thời phát triển các nghề TTCN gắn
với bảo vệ môi trường. Đó sẽ là yếu tố quan trọng, là nền tảng để nghề và làng
nghề hiện nay phát triển bền vững trong tương lai.

20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×