Tải bản đầy đủ

Quy trình kinh doanh tiền tệ của ngân hàng TMCP hàng hải việt nam

Quy trình kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam

Lựa chọn một quy trình tác nghiệp thông thường nhất tại doanh nghiệp
hoặc tổ chức của anh/chị mà hiện nay anh/chị đang tham gia vào. Hãy mô
tả quy trình này theo các bước công việc đang được thực hiện hiện nay.
Theo anh/chị, quy trình này có những bất cập hay nhược điểm gì cho công
tác quản lý. Vì sao? Theo anh/chị quy trình này cần cải thiện như thế nào
để việc thực hiện trở nên tốt hơn.

Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, nghiệp vụ
kinh doanh tiền tệ hay còn gọi là nghiệp vụ kinh doanh vốn là một trong
những nghiệp vụ ngân hàng truyền thống nhưng lại rất quan trọng và mang
lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Tạo nhiều lợi nhuận cùng đồng nghĩa
với việc mang lại nhiều rủi ro (high risk - high return). Vì vậy để vừa đảm
bảo mang lại lợi nhuận từ nghiệp vụ kinh doanh nguồn vốn và hạn chế mọi
rủi ro cả về lãi suất và thanh khoản thì việc xây dựng quy trình nghiệp vụ
giao dịch kinh doanh vốn là việc làm cần thiết. Quy trình này nếu được
thiết kế một cách hợp lý, nhuần nhuyễn giữa các phòng ban sẽ mang lại
hiệu quả cao và phòng tránh rủi ro cho ngân hàng.
Dưới đây là sơ đồ Quy trình kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng TMCP
Hàng Hải Việt Nam.



Mô tả và giải thích sơ đồ quy trình nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ:
-

Bước 1: Phòng Giao dịch tiền tệ tiếp nhận và phân tích báo cáo GAP và
khuyến nghị đầu tư từ phòng Quản lý thanh khoản và Bảng cân đối kế toán
(ALM), xác định mục tiêu của các giao dịch trading book và banking book
(phục vụ thanh khoản cho hệ thống hoặc cân bằng bảng cân đối kế toán)
o Đối với những giao dịch tự doanh (trading book): P. GDTT thực
hiện cân đối nguồn và kinh doanh trong phạm vi hạn mức của mình
o Đối với những giao dịch banking book: P.GDTT thực hiện mua/bán
vốn với phòng ALM

-

Bước 2: Phòng Giao dịch kiểm tra thông tin thị trường cũng như nhu cầu
của đối tác giao dịch qua hình thức ủy thác đầu tư, vay/gửi trực tiếp trên
thị trường Liên ngân hàng, các định chế phi ngân hàng khác …

-

Bước 3: Sau khi tiếp nhận nhu cầu của khách hàng, chuyên viên giao dịch
của phòng Giao dịch Tiền tệ sẽ thông báo lãi suất, số lượng, kỳ hạn giao
dịch với đối tác đảm bảo giao dịch tuân thủ các hạn mức đã quy định
QUY TRÌNH KINH DOANH TIỀN TỆ

LẬP BÁO CÁO
GAP VÀ KHUYẾN
NGHỊ ĐÂU TƯ
PHÂN TÍCH
BÁO CÁO
GAP


KIỂM TRA THÔNG
TIN THỊ TRƯỜNG
VÀ NHU CẦU CỦA
ĐỐI TÁC

XÁC NHẬN GIAO
DỊCH
BÀN GIAO DEAL
TICKETS
BÁO LÃI
SUẤT
KIỂM TRA
THÔNG TIN GIAO
DỊCH

CẬP NHẬT HẠN
MỨC
ĐỐI TÁC
LẬP XÁC
NHẬN
GIAO DỊCH VỚI
ĐỐI TÁC

THEO DÕI GIAO
DỊCH

THEO DÕI TSĐB
(nếu có)

THỰC HIỆN
THANH TOÁN
KIỂM TRA &
XÁC NHẬN
GIAO
LƯU HỒ SƠ DỊCH
CHỨNG
TỪ PHỤC VỤ ĐỐI
CHIẾU


PHÊ DUYỆT GIAO
DỊCH

THÔNG BÁO
NGUỒN CHO
PHÒNG ALM

LẬP BÁO CÁO
GIAO DỊCH
TRONG NGÀY


-

Bước 4: Sau khi thực hiện giao dịch, chuyên viên giao dịch phòng Giao
dịch Tiền tệ nhập dữ liệu của giao dịch vào hệ thống, viết phiếu giao dịch
và chuyển sang phòng Giám sát rủi ro thị trường

-

Bước 5: Phòng Giám sát rủi ro thị trường kiểm tra việc tuân thủ hạn mức
giao dịch của đối tác cũng như hạn mức giao dịch của các chuyên viên
giao dịch phòng Giao dịch Tiền tệ

-

Bước 6: Phòng Giám sát rủi ro thị trường kiểm soát tính hợp lý của lãi suất
và kỳ hạn giao dịch của các giao dịch

-

Bước 7: Lãnh đạo phòng, khối, Ban Tổng Giám đốc căn cứ trên hạn mức
sẽ phê duyệt giao dịch, chuyên viên giao dịch phòng Giao dịch Tiền tệ
chuyển phiếu giao dịch sang phòng Xử lý giao dịch

-

Bước 8: Chuyên viên giao dịch phòng Giao dịch tiền tệ thông báo nguồn
cho phòng Cân đối và Quản lý thanh khoản để cân đối đảm bảo thanh
khoản

-

Bước 9: Cuối ngày, chuyên viên giao dịch phòng Giao dịch Tiền tệ lập báo
cáo giao dịch trong ngày gửi các cấp lãnh đạo và phòng Cân đối và quản lý
thanh khoản.

-

Bước 10: Phòng xử lý giao dịch sau khi nhận deal tickets tiến hành kiểm
tra các thông tin giao dịch trên deal tickets và làm các thủ tục liên quan đến
việc xác nhận giao dịch với đối tác.


-

Bước 11: Sau khi kiểm tra thông tin giao dịch và xác nhận giao dịch với
đối tác, phòng xử lý giao dịch tiến hành thực hiện lệnh thanh toán và theo
dõi dòng tiền đi/đến của đối tác.

-

Bước 12: Phòng xử lý giao dịch thực hiện việc kiểm soát và lưu chứng từ
phục vụ đối chiếu.
Đánh giá quy trình kinh doanh tiền tệ hiện nay:

Quy trình kinh doanh tiền tệ này đã được triển khai và áp dụng trong thời gian
khá dài, bên cạnh việc tạo ra được những quy định, các bước thực hiện một
cách rõ ràng nhưng vẫn thể hiện nhiều bất cập trong khi thực hiện như:
-

Việc bàn giao phiếu giao dịch (deal ticket) giữa Phòng Giao dịch Tiền tệ và

Phòng Quản lý Rủi ro thị trường, phòng Xử lý giao dịch hiện nay đang là vấn
đề cần phải quan tâm vì những lý do sau:
-

Thất lạc chứng từ trong việc chuyển giao giữa các bộ phận  việc này

cũng gây rủi ro trong việc chậm lệnh thanh toán cho khách hàng hoặc không
thanh toán được ngay trong ngày cho khách hàng trong trường hợp các phòng
ban đều không nhớ ra giao dịch này.
-

Chậm trễ trong khâu kiểm tra, xử lý giữa các bộ phận  chậm lệnh thanh

toán cho khách hàng hoặc không thanh toán được do hết giờ thanh toán (giờ
này theo quy định của Cục công nghệ thông tin Ngân hàng Nhà nước Việt
nam)


-

Việc quên hoặc chậm trễ thông báo nguồn (dòng tiền đi/về) giữa phòng

Giao dịch Tiền tệ và phòng Cân đối thanh khoản cũng làm ảnh hưởng đến
việc thanh toán cho khách hàng.
Ví dụ: phòng Giao dịch tiền tệ có giao dịch gửi vốn cho đối tác nhưng không
thông báo nguồn cho phòng Cân đối thanh khoản dẫn đến việc phòng này
không cập nhật đúng dòng tiền  phòng giao dịch tiền tệ không vay/gửi vốn
theo đúng nhu cầu thực của mình  làm ảnh hưởng đến khả năng thanh
khoản của ngân hàng.
Những thay đổi cần thiết để quy trình thuận tiện hơn:
-

Thay vì ghi phiếu giao dịch bằng tay rồi chuyển các phòng ban như hiện

nay, Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam cần đổi mới phần mềm đang sử
dụng để có thể in các giao dịch trực tiếp từ hệ thống và các phòng ban liên
quan có thể theo dõi và kiểm tra các giao dịch này trực tiếp trên hệ thống.
-

Việc thông báo vốn của từng giao dịch giữa phòng Giao dịch tiền tệ và

phòng Cân đối thanh khoản như hiện nay cũng dẫn đến rủi ro trong thanh
khoản vì trường hợp 1 trong 2 phòng quên mà không phát hiện ra hoặc phát
hiện ra muộn cũng sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của toàn hệ
thống.
-

Kết hợp giữa phòng giao dịch tiền tệ và phòng Cân đối thanh khoản là 1 vì

thực chất mọi giao dịch để thực hiện việc đảm bảo thanh khoản cho toàn hệ
thống ngân hàng xuất phát từ phòng Giao dịch tiền tệ. Vì ngoài chức năng


kinh doanh vốn trên thị trường Liên ngân hàng, phòng này là nơi cuối cùng đi
gửi hoặc đi vay trong trường hợp hệ thống thừa/thiếu vốn
Câu 2:
Theo anh chị những nội dung nào trong môn học quản trị tác nghiệp là có
thể áp dụng vào công việc của anh /chị hoặc doanh nghiệp của anh/chị hiện
nay? Anh chị dự định sẽ áp dụng những kiến thức đó vào những hoạt động gì
và sẽ áp dụng như thế nào?
Trong hoạt động kinh doanh sản xuất và cung ứng dịch vụ của một doanh
nghiệp hay của một ngân hàng đều có những điểm tương đồng giống nhau.
Đều có quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ đều có việc chuyển hoá các yếu tố
đầu vào thành các yếu tố đầu ra an toàn hiệu quả. Ngày nay, khi thị trường tài
chính Ngân hàng trong nước đang ngày càng cạnh tranh khốc liệt do việc nở
rộ rất nhanh của các Ngân hàng đặc biệt là về mặt số lượng nên việc quan tâm
đến chất lượng đầu vào, năng suất lao động làm sao để có đầu ra hiệu quả nhất
như: nhiều sản phẩm ưu việt và dịch vụ tốt nhất nhưng vẫn tạo ra lợi nhuận tốt
nhất với chi phí thấp nhất đang là yếu tố quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh
đạo. Qua kiến thức đã học được từ môn Quản trị hoạt động Tôi thấy không thể
không nói đến 7 loại lãng phí theo quan điểm sản xuất LEAN để từ đó ngân
hàng tìm ra những nguyên nhân do đâu và cần khắc phục bằng cách nào.
Trong 7 loại lãng phí của sản xuất Lean có thể áp dụng được rất nhiều
trong ngân hàng như đợi chờ, vận chuyển, lưu kho, thao tác, sản phẩm thừa…


-

Ngân hàng là 1 trong những ngành nghề đặc thù nên nghiệp vụ ngân hàng

cũng cần có một quy trình thông suốt giữa các phòng ban nghiệp vụ tránh tính
trạng phòng ban này phải đợi phòng ban khác trong việc thực hiện giao dịch
cho khách hàng.
-

Vận chuyển: ngày nay khi các ngân hàng mở ra quá nhiều các chi nhánh,

phòng giao dịch  mang lại thuận tiện cho khách hàng nhưng đây cũng là
một trong những yếu tố cần phải chú ý vì chính việc nhiều chi nhánh, phòng
giao dịch đã dẫn đến việc vận chuyển, lưu thông tiền mặt hàng ngày từ chi
nhánh này đến chi nhánh khác, hoặc từ phòng giao dịch này đến phòng giao
dịch khác. Do vậy cũng cần phải xem xét kết hợp trong khâu vận chuyển
nhằm tiết kiệm chi phí.
-

Vấn đề về lưu kho cũng là vấn đề cần quan tâm vì nhiều chi nhánh, nhiều

phòng giao dịch dẫn đến việc lưu kho lưu quỹ tiền mặt lớn  giảm lợi nhuận
của ngân hàng do không tận dụng được tối đa lượng tiền huy động từ khách
hàng. Do vậy cần phải đưa ra quy trình cân đối giảm tối thiểu lượng tồn quỹ,
lưu kho tiền mặt tại các quỹ chính, phòng giao dịch hoặc chi nhánh.
Kết luận
Quản trị sản xuất và tác nghiệp là một môn khoa học quản trị kinh doanh
giúp cho các doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản lý trong quá trình hoạt
động sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, nó thật sự hữu ích đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải
Việt Nam. Đối với bản thân tôi, sau khi nghiên cứu các quá trình quản trị tác


nghiệp, môn học đã giúp tôi mở rộng kiến thức, giúp tôi có thêm công cụ hữu
hiệu để tổ chức quản lý sản xuất trong đơn vị được tốt hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu tham khảo nội bộ - Môn Quản trị hoạt động – Global Advanced
MBA
2. Quy trình kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
3. Các tài liệu khác



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×