Tải bản đầy đủ

Đánh giá hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Điện Quan huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai (Khóa luận tốt nghiệp)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

LỰ VĂN CHIẾN
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI
TRƯỜNG RỪNG TẠI XÃ ĐIỆN QUAN, HUYỆN BẢO YÊN,
TỈNH LÀO CAI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa


: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2014 – 2018

Thái Nguyên, năm 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

“ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI
TRƯỜNG RỪNG TẠI XÃ ĐIỆN QUAN HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Lớp

: K45-QLTNR

Khoa

: Lâm Nghiệp

Giáo viên hướng dẫn

: Th.S Lục Văn Cường

Thái Nguyên, năm 2018




i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi, các số liệu và kết quả thực hiện trình bày trong khóa luận là quá trình theo
dõi, điều tra tại cơ sở thực tập hoàn toàn trung thực, khách quan.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA DVHD

Th.S Lục Văn Cường

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lự Văn Chiến

XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM KHÓA LUẬN
Xác nhận sinh viên đã sửa đúng yêu cầu của HĐ và GV chấm phản biện!


ii

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp rất quan trọng và cần thiết để tạo điều kiện cho sinh
viên tiếp xúc với thực tế, củng cố kiến thức đã học. Được sự nhất trí của nhà
trường, ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã
Điện Quan, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai”.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thanh Tiến và Th.S
Lục Văn Cường người đã giành nhiều thời gian chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình
trong quá trình em thực hiện đề tài. Em xin trân thành cảm ơn các thầy giáo,
cô giáo Khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên. Những người đã truyền đạt tri thức và phương pháp học tập,
tìm hiểu và nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian em học tập tại nơi đây.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của ban lãnh đạo cùng các cán bộ
tại Hạt kiểm lâm huyện Bảo Yên và UBND xã Điện Quan đã tạo điều kiện tốt
nhất để giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại đơn vị. Em xin gửi lời cảm ơn
tới gia đình, bạn bè và nguời thân đã tạo điều kiện và động viên giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài do trình độ và thời gian có hạn,
bước đầu được làm quen với thực tế và phương pháp nghiên cứu vì thế khóa
luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được được
sự góp ý của các thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện tốt hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Lự Văn Chiến


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất của xã Điện Quan ...................... 24
đến 31/12/2017 ................................................................................................. 24
Bảng 4.2. Thống kê diện tích đủ điều kiện chi trả DVMTR năm 2014 .......... 25
Bảng 4.3. Thống kê diện tích đủ điều kiện chi trả DVMTR năm 2015 .......... 25
Bảng 4.4. Thống kê diện tích đủ điều kiện chi trả DVMTR năm 2016 .......... 26
Bảng 4.5. Thống kê số tiền hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR ............ 28
Bảng 4.6. Mục đích sử dụng tiền từ chi trả DVMTR ..................................... 29
Bảng 4.7. Số hộ tham gia Quản lý Bảo vệ rừng.............................................. 31
Bảng 4.5. Tầm quan trọng của việc chi trả DVMTR ...................................... 31
Bảng 4.9. So sánh mức độ che phủ của rừng của xã Điện Quan .................... 36
Bảng 4.10. Diện tích rừng trồng qua các năm ................................................ 36


iv

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ phân tích hiệu quả của chính sách CTDVMTR.................... 23
Hình 4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quỹ BN&PTR ....................................... 27
Hình 4.2. Lộ trình chi trả dịch vụ môi trường rừng ........................................ 28


v

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ARBCP

(Asia Regional Biodiversity Conservation Programme)
Chương trình Bảo tồn Đa dạng sinh học vùng Châu Á

BNNPTNT

Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn

BTNMT

Bộ tài nguyên môi trường

CHXHCN

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

DVMTR

Dịch vụ môi trường rừng

FONAFIFO

(national forestry rinancing fund)Quỹ tài chính Quốc gia về
rừng

FONAG

(Fondo para la Conservación del Agua )Quỹ bảo tồn quốc gia

ICRAF

(The international centre for research in agroforestry)Trung
tâm Nông-Lâm thế giới

IFAD

( International Fund for Agricultural Development )Quỹ phát
triển nông nghiệp quốc tế

NĐ - CP

Nghị định - Chính phủ

PES

(Payment for forest Environmental services)Chi trả dịch vụ môi
trường rừng

PSA-H

Chương trình về dịch vụ môi trường thủy văn

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

QĐ - TTg

Quyết định - Thủ tướng

QLBVR

Quản lý Bảo vệ rừng

RUPES

(Rewarding Upland Poor for Environmental Services )Chương
trình chi trả cho người nghèo vùng cao DVMT

TTLT

Thông tư liên tịch

UBND

Ủy ban nhân dân

VNFF

(Vietnam forest protection and Development Fund)Quỹ Bảo vệ
và Phát triển rừng Việt Nam


vi

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ v
MỤC LỤC ........................................................................................................ vi
Phần 1 MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu .................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất ............................................................. 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ........................................... 3
2.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ............................................................... 4
2.1.1. Khái quát về chi trả DVMTR .................................................................. 4
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ............................................................. 6
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước............................................................. 12
2.4. Tổng quan về cơ sở thực tập .................................................................... 16
2.4.1. Điều kiện tự nhiên. ................................................................................ 16
2.4.2. Tài nguyên ............................................................................................. 18
2.4.3. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 19
2.4.4. Các yếu tố văn hóa, nhân văn ............................................................... 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG - ĐỊA ĐIỂM – THỜI GIAN- NỘI DUNG PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................................................... 22
3.1. Đối tượng phạm vi và thời gian nghiên cứu ............................................ 22


vii

3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22
3.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 22
3.3.1. Phương pháp kế thừa............................................................................. 22
3.3.2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn ......................................................... 22
3.3.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu .......................................... 23
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 24
4.1. Kết quả khái quát tình hình thực hiện chi trả DVMTR tại xã Điện Quan,
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai .......................................................................... 24
4.1.1. Khái quát tài nguyên rừng xã Điện Quan ............................................. 24
4.1.2. Thống kê diện tích, số hộ được nhận chi trả DVMTR ......................... 25
4.1.3. Hệ thống tổ chức và lộ trình chi trả của Quỹ Bảo vệ và PTR .............. 27
4.2. Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường từ chính sách
chi trả DVMTR tại xã Điện Quan huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai .................... 28
4.2.1. Chính sách chi trả DVMTR tác động trực tiếp kinh tế hộ gia đình ...... 28
4.2.2. Chính sách chi trả DVMTR nâng cao nhận thức về rừngvà tạo việc làm
cho cộng đồng ................................................................................................. 30
4.2.3. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tác động trực tiếp tới công
tác xóa đói giảm nghèo ................................................................................... 33
4.2.4. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần bảo vệ môi
trường .............................................................................................................. 35
4.2.5. Những khó khăn và thách thức khi thực hiện chi trả DVMTR tại xã
Điện Quan huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai ........................................................ 38
4.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách chi trả
DVMTR góp phần quản lý TNR..................................................................... 41
4.3.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức ......................................................... 42
4.3.2. Cần tăng thêm mức chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người cung cấp
dịch vụ môi trường rừng. ................................................................................ 42


viii

4.3.3. Chính phủ cần cải thiện điều kiện của hệ thống quyền sử dụng đất. .... 43
4.3.4. Chính phủ cần xây dựng các quy định pháp lý chặt chẽ hơn về trách
nhiệm của các bên tham gia ............................................................................ 43
4.3.5. Tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực xây dựng, giám sát, thực hiện
chính sách chi trả dịch vụ môi trường ............................................................. 43
4.3.6. Công tác kiểm tra giám sát:................................................................... 44
4.3.7. Về phòng cháy, chữa cháy rừng:........................................................... 44
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................... 46
5.1. Kết luận .................................................................................................... 46
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 47


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Lâm nghiệp Việt Nam là một ngành kinh tế- kĩ thuật có vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận không thể tách rời trong lĩnh
vực nông nghiệp và nông thôn. Bên cạnh đó, lâm nghiệp có vai trò chính
trong việc bảo vệ môi trường cũng như chống biến đổi khí hậu. Trong những
năm gần đây, ngành Lâm nghiệp đang có những bước tăng trưởng đáng kể và
tương đối toàn diện. Ngành Lâm nghiệp đang góp phần đáng kể vào tăng
trưởng chung của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đóng góp vào
tăng trưởng kinh tế và góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của
một bộ phận dân cư miền núi cũng như những người làm trong ngành lâm
nghiệp.Vì vậy, lâm nghiệp Việt Nam là một trong những yếu tố quan trọng
đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước [4].
Xã Điện Quan là xã vùng 3 của huyện Bảo Yên- tỉnh Lào Cai có nguồn
tài nguyên rừng tương đối phong phú và đa dạng. Xã có tổng diện tích tự
nhiên là 4278,4 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 2690,9 ha; trong đó có 1753,27
ha rừng sản xuất (chiếm 65,15% diện tích đất lâm nghiệp); 937,63 rừng
phòng hộ (chiếm 34,85% diện tích đất lâm nghiệp). Diện tích rừng lớn, thảm
thực vật khá phong phú và sự đa dạng là lợi thế đối với xã Điện Quan trong
phát triển kinh tế rừng, tạo đầu vào cho phát triển công nghiệp chế biến lâm
sản (bột giấy, đồ gỗ) [17].
Chính sách chi trả DVMTR chính thức triển khai tại Việt Nam từ đầu
năm 2011, ngay sau khi Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm
2010 của Chính phủ có hiệu lực, chi trả DVMTR đã trở thành một trong
những chính sách lâm nghiệp nổi bật, đáng chú ý nhất tại Việt Nam, thu được
nhiều thành tựu ý nghĩa. Trở thành một nguồn tài chính ổn định với số tiền
tổng thu DVMTR toàn quốc đến ngày 30/12/2016 là 6.510,6 tỷ đồng.


2

Tính tới tháng 12 năm 2012, có 35 trong tổng số 63 tỉnh thành trên cả
nước đã thiết lập Ban chỉ đạo để giám sát việc triển khai Nghị định 05/ NĐCP và Nghị định 99/2010/NĐ-CP, và đã có 27 tỉnh thành đã thành lập và vận
hành Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng cấp tỉnh. Hầu hết các tỉnh này đều phân
bố trên các địa bàn có tiềm năng thủy điện cao như: Tây Bắc, Tây Nguyên và
miền Trung. Bên cạnh đó, VNFF cũng đã ký 27 hợp đồng PFES với các cơ sở
sản xuất thủy điện và công ty cung cấp nước sử dụng dịch vụ môi trường rừng
từ lưu vực của 2 tỉnh trở lên. Quỹ cấp tỉnh đã ký 94 hợp đồng PFES, bao gồm
62 hợp đồng với các nhà máy thủy điện, 11 hợp đồng với Công ty cung cấp
nước sạch và 21 hợp đồng với Công ty du lịch. Các tỉnh ký được nhiều hợp
đồng bao gồm Lâm Đồng (40), Lào Cai (19), Đắk Lắk (8), Quảng Nam (7),
Đắk Nông (6) và Kon Tum (5). Các quỹ cấp tỉnh ở các tỉnh trên đã tiến hành
các chương trình nâng cao nhận thức; hầu hết các tỉnh cũng đang xây dựng kế
hoạch cho việc thu và chi cũng như xác định ranh giới giữa các chủ rừng tại
các lưu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Doanh thu từ PFES trong
năm 2012 là 1.172,44 tỉ đồng (khoảng 55 triệu USD) [12].
Những thay đổi này, hoặc làm tăng cường, hoặc suy giảm vai trò và chức
năng vốn có của các bên liên quan; từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới tính minh bạch,
công bằng và hiệu quả của chính sách chi trả DVMTR nói riêng và chất lượng
quản lý bảo vệ rừng nói chung ở các địa phương. Đồng thời, sự thiếu vắng của
một hệ thống giám sát– đánh giá thực hiện và hiệu quả chi trả DVMTR toàn
diện, có chiều sâu về cả ba khía cạnh thể chế– môi trường– xã hội, cũng được
coi là nguyên nhân khiến những hiệu quả và tác động của chính sách chi
trả DVMTR chưa được nhận diện và đánh giá một cách đầy đủ.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại xã Điện Quan
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai”.


3

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát hóa được diện tích rừng nói chung và diện tích rừng đáp
ứng chi trả DVMTR nói riêng của xã Điện Quan huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
- Đánh giá, phân tích được hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của
chính sách chi trả DVMTR đến cộng đồng dân cư tại xã Điện Quan huyện
Bảo Yên tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của
chính sách chi trả DVMTR đến công tác QLBVR tại xã Điện Quan huyện
Bảo Yên tỉnh Lào Cai
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Thông qua nghiên cứu giúp cho sinh viên tiếp cấn những phương pháp
mới trong quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) nói chung, trong công tác chi trả
DVMTR nói riêng. Đồng thời, vận dụng những kiến thức đã học để áp dụng
vào thực tiễn công tác của ngành Lâm nghiệp.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Thông qua đợt thực tập được tiếp cận với cộng đồng thôn bản, cán bộ
địa phương cũng như cán bộ kiểm lâm để được học học hỏi chia sẻ những
kiến thức của ngành. Đồng thời, giúp cho sinh viên được làm quen với những
công việc sau này, góp phần củng cố kiến thức. Mặt khác thông qua kết quả
nghiên cứu là tư liệu quan trọng giúp địa phương có những điều chỉnh trong
công tác chi trả DVMTR được hiệu quả hơn.

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU


4

2.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Khái quát về chi trả DVMTR
 Môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực
vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi
trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người,
gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn
nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa
dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của
các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác [13].
 Dịch vụ môi trường
Dịch vụ môi trường (Environmental Services) là những dịch vụ và chức
năng được cung cấp bởi hệ sinh thái và có những giá trị nhất định về kinh tế.
Các nhóm dịch vụ môi trường bao gồm:
- Chức năng phòng hộ đầu nguồn
- Bảo vệ đa dạng sinh học
- Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên
- Hấp thụ Các- bon
Dịch vụ môi trường rừng là việc cung ứng và sử dụng bền vững các giá
trị sử dụng của môi trường rừng như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống
bồi lắng lòng hồ, ngăn chặn lũ lụt, lũ quét, cảnh quan, đa dạng sinh
học…(Điều 4 chương I, Quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
ngày 10 tháng 4 năm 2008). Trong đó, giá trị môi trường rừng được hiểu là
giá trị mà rừng làm lợi cho môi trường, do bản thân các khu rừng tạo ra
nhưng không chỉ được sử dụng bới những người quản lý, bảo vệ và phát triển
rừng mà còn bởi toàn xã hội. Với việc xem xét đến các đến các dịch vụ môi
trường rừng thì các giá trị này được xem xét như một loại hàng hoá công
cộng, có thể do cả xã hội sử dụng mà người làm rừng không quản lý và điều
tiết được quá trình khai thác và sử dụng chúng [13].


5

Khái niệm chi trả dịch vụ môi trường
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payment for Ecosystem Services - PES)
hay còn được gọi là chi trả cho dịch vụ môi trường (Payment for
Environmental Services) được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử
dụng các dịch vụ sinh thái bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người
sử dụng dịch vụ hệ sinh thái.
Một khái niệm hẹp hơn về chi trả môi trường được đưa ra năm 2005 là:
“ Chi trả dịch vụ môi trường là một giao dịch trên cơ sở tự nguyện mà ở đó
dịch vụ môi trường được xác định cụ thể (hoặc hoạt động sử dụng đất để đảm
bảo có được dịch vụ này) đang được người mua (tối thiểu một người mua)
mua của người bán (tối thiểu một người bán) khi và chỉ khi người cung cấp
dịch vụ môi trường đảm bảo được việc cung cấp dịch vụ môi trường này”.
(Wunder 2005, p9).
Trong quyết định 380/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ có quy định
chi tiết hơn về khái niệm chi trả dịch vụ môi trường được áp dụng cho hoạt
động trồng rừng. Theo đó, chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ kinh tế
giữa người sử dụng các dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho người cung ứng
dịch vụ môi trường rừng [13].
Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường
Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi
trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra
dịch vụ đã cung ứng.
- Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bằng tiền thông qua hình
thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp.
- Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua Quỹ bảo vệ và phát
triển rừng là tiền của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng ủy thác cho Quỹ
để trả cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng.


6

- Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là một yếu tố trong giá thành
sản phẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng và không thay thế thuế tài
nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.
- Đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, công bằng; phù hợp với hệ
thống luật pháp của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc
gia nhập [7].
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Chi trả DVMTR là một lĩnh vực hoàn toàn mới, trong những năm 90
của thế kỷ XX mới được các nước trên thế giới quan tâm thực hiện. Với
những giá trị và lợi ích bền vững của việc chi trả DVMTR đã thu hút được sự
quan tâm đáng kể của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học và các nhà hoạch
định chính sách trên thế giới. Chi trả DVMTR đã nhanh chóng trở lên phổ
biến ở một số nước và được thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật. Hiện nay
chi trả DVMTR được xem như một chiến lược dựa vào thị trường để quản lý
tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích và chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng
và xã hội. Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã áp dụng và thực hiện các mô
hình chi trả DVMTR sớm nhất. Ở Châu Âu chính phủ một số nước đã quan
tâm đầu tư và thực hiện nhiêu chương trình, mô hình DVMTR. Chi trả dịch
vụ rừng phòng hộ đầu nguồn hiện đang được thực hiện tại các quốc gia Costa
Rica, Ecuador, Bolivia, Ấn Độ, Nam Phi, Mexico và Hoa kỳ. Trong hầu hết
các trường hợp này, thực hiện tối đa hóa các dịch vụ rừng phòng hộ đầu
nguồn thông qua các hệ thống chi trả đều mang lại kết quả góp phần giảm
nghèo. Ở Châu Úc, Australia đã lập pháp hóa quyền phát thải cacbon từ năm
1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cacbon của
rừng. Chi trả DVMTR cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm ở Châu
Á như Indonesia, Philippines, Trung quốc, Nepal và Việt Nam bước đầu đã
xây dựng được các chương trình chi trả DVMTR có quy mô lớn, chi trả cho
các chủ rừng để thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nhằm tăng cường cung


7

cấp các dịch vụ thủy văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ
cacbon, tạo cảnh quan du lịch sinh thái và đã thu được một số thành công nhất
định trong công cuộc bảo tôn đa dạng sinh học và xóa đói giảm nghèo cho
nhân dân vùng đầu nguồn. Chi trả DVMTR đang được thử nghiệm ở một số
nước trên thế giới, Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Từ năm 2002 Trung tâm nghiên cứu nông lâm thế giới (ICRAF) đã tích
cực giới thiệu khái niệm chi trả DVMTR (PES) vào Việt Nam. Quỹ phát triển
nông nghiệp quốc tế (IFAD) đã hỗ trợ dự án đền đáp cho người nghèo vùng
cao cho các DVMTR mà họ cung cấp tại Indonesia, Philippines, Nepal là
“xây dựng cơ chế mới để cải thiện sinh kế và an ninh tài nguyên cho cộng
đồng nghèo vùng cao ở Châu Á” thông qua xây dựng các cơ chế nhằm đền
đáp người nghèo vùng cao về các DVMTR họ cung cấp cho các cộng đồng
trong nước và trên phạm vi toàn cầu
Các hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Mỹ
- Tại Hoa Kỳ: Là quốc gia nghiên cứu và tổ chức thực hiện các mô hình
PES sớm nhất, ngay từ giữa thập kỷ 80, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã thực hiện
“Chương trình duy trì bảo tồn”, ở Hawai đã áp dụng chính sách mua lại đất
hoặc mua nhượng quyền để bảo tồn, bảo vệ rừng đầu nguồn, duy trì, cải thiện
nguồn nước mặt, nước ngầm, phục vụ đời sống sinh hoạt, phát triển du lịch,
nông nghiệp và các ngành nghề khác. Ở Oregon, Portland áp dụng chính sách
bảo tồn và phát triển cá Hồi và môi trường sinh thái của chúng. Từ việc xác
định và đầu tư đúng mục tiêu sẽ hình thành các dịch vụ hệ sinh thái, cụ thể họ
đã phát triển du lịch sinh thái, lấy dòng sông nơi cá Hồi đẻ là nơi tham quan
về sinh thái, lấy các khu rừng bi khai thác quá mức xưa kia là nơi giáo dục
cho học sinh, sinh viên và du khách vê ý thức bảo vệ rừng v.v… Ở New
York, chính quyền thành phố đã thực hiện các chương trình mua đất để quy
hoạch và bảo vệ rừng đầu nguồn va nhiều chương trình hỗ trợ cho các chủ đất
áp dụng các phương thức quản lý tốt nhất nhằm tích cực hạn chế các nguy cơ


8

ô nhiễm đối với nguồn cung cấp nước cho thành phố. Các hoạt động hỗ trợ
sản xuất cho chủ đất được đầu tư từ nguồn tiền nước bán cho người sử dụng
nước ở thành phố, kể cả du khách. Chính quyền thành phố đã lập ra công ty
phi lợi nhuận để tiếp thu nguồn kinh phí này và hỗ trợ cho các nông dân là
chủ đất đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho thành phố.
- Tại Costa Rica, năm 1996, thực hiện Chi trả DVMTR thông qua Quỹ
tài chính Quốc gia về rừng (FONAFIFO) đã chi trả cho các chủ rừng và các
khu bảo tồn để phục hồi, quản lý và bảo tồn rừng. FONAFIFO hoạt động như
một người trung gian giữa chủ rừng và người mua các dịch vụ hệ sinh thái.
Nguồn tài chính thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: thuế nhiên liệu
hóa thạch, bán tín chỉ cacbon, tài trợ nước ngoài và khoản chi trả từ các dịch
vụ hệ sinh thái. FONAFIFO và nhà máy thủy điện chi trả cho các chủ rừng tư
nhân cung cấp dịch vụ rừng phòng hộ đầu nguồn khoảng 45 USD/ha/năm cho
hoạt động bảo vệ rừng của mình và 116 USD/ha/năm cho phục hồi rừng. Một
số khách sạn tham gia vào cơ chế chi trả DVMTR để bảo vệ lưu vực. Cơ sở
của việc chi trả này là mối tương quan chặt chẽ giữa người cung cấp DVMT
nước do việc bảo vệ, duy trì cải thiện chất lượng nước và dòng chảy với
người hưởng lợi là ngành du lịch. Lý do là các hoạt động ngành du lịch phụ
thuộc rất lớn vào trữ lượng và chất lượng nước. Vì vậy từ năm 2005 một số
khách sạn chi trả hàng năm 45,5 USD cho mỗi ha đất của các chủ rừng địa
phương và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của mô hình DVMT. Tuy
nhiên cũng ở Cốt-xơ-ta Ri-ca “vẫn chưa có một cơ chế được thừa nhận chung
nào dựa vào lợi ích của mọi người được chi trả trực tiếp từ vẻ đẹp cảnh quan
và bảo tồn đa dạng sinh học”, gần đây tại Tan-za-ni-a có một nhóm công ty
du lịch đã liên kết cùng nhau làm hợp đồng với một làng nằm trong khu vực
đồng cỏ tại địa phương để bảo vệ các loài hoang dã chủ yếu thông qua chi trả
tài chính hàng năm [11]


9

- Tại Ecuador, năm 1999 Quỹ bảo tồn quốc gia (FONAG) được thành
lập cáccông ty nước đô thị ở Quito và Pimampiro xây dựng bằng cách áp phí
lên nước sinh hoạt. Theo đó, tất cả các đơn vị công cộng sử dụng nước dành
1% doanh thu đóng góp vào FONAG. Quỹ này được đầu tư cho việc bảo tồn
lưu vực đầu nguôn và chi trả trực tiếp cho các chủ rừng.
- Tại Colombia, những người sử dụng nước phục vụ công- nông nghiệp
ở thung lũng Cauca đã thành lập các hiệp hội để thu các khoản phí chi trả tự
nguyện cho các chủ rừng để cải thiện dòng chảy và giảm bồi lắng 0,5
USD/m3 nước thương phẩm [5].
- Tại Bolivia, hai công ty năng lượng Mỹ phối hợp với một tổ chức phi
chính phủ của Bolivia và Ủy ban bảo vệ thiên nhiên để tài trợ cho việc ngừng
khai thác gỗ và các hoạt động khác nhằm mở rộng diện tích và chất lượng của
Vườn Quốc gia Noel Kempff với mục đích tăng cường hấp thụ cacbon.
- Tại khu vực Trung Mỹ và Mexico, Chương trình về DVMT thủy văn
(PSA-H) là Chương trinh lớn nhất Châu Mỹ. PSA-H tập trung vào bảo tồn
các rừng tự nhiên bị đe dọa nhằm duy trì các dòng chảy và chất lượng nước.
Mexico đã thành lập quỹ lâm nghiệp năm 2002, thực hiện chi trả DVMTR từ
việc sử dụng đất. Ủy ban Lâm nghiệp Quốc gia ký hợp đồng với chủ đất để
quản lý nhằm duy trì các dịch vụ đầu nguồn. Ngoài ra người nông dân ở
Ugada và Mexico đã tiến hành liên kết với nhau để tham gia thị trường
cacbon quốc tế, bên mua là công ty sản xuất bao bì Teltra Pak có trụ sở tại
Vương quốc Anh. Nhóm nông dân này đã liên hệ với tổ chức phi chính phủ
Ecotrust có trụ sở tại Uganda, sau đó tổ chức này lại phối hợp với trung tâm
quản lý cacbon Edinburg. Theo hợp đồng, nhóm nông dân phải trồng cây bản
địa. Trong thời gian thực hiện Hợp đồng, những cây này sẽ hấp thụ được 57
tấn cacbon và họ sẽ nhận được 8 USD/tấn. Trong khi cây trồng đang lớn, họ
có thể nuôi dê dưới tán cây. Khi hợp đồng kết thúc, họ có thể sử dụng hoặc
bán số gỗ đó [5].


10

- Tại Brazil, Nhà nước phân bổ ngân sách cho các thành phố để bảo vệ
các khu rừng phòng hộ đầu nguồn và phục hồi diện tích rừng nghèo kiệt. Ở
Parana cũng như ở Minas Gerais, 5% doanh thu từ lưu thông hàng hóa và dịch
vụ (ICMS)- một loại thuế gián tiếp đánh vào tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ
được phân bổ cho các thành phố có cơ quan bảo tồn hay diện tích rừng cần
bảo vệ hoặc cho các thành phố cung cấp nước cung cấp nước cho các thành
phố lân cận [5]. Chính phủ cũng đã thực hiện “Chương trình ủng hộ môi
trường” trong đó, chi trả để thúc đẩy sự bền vững môi trường của khu vực
Amazon.
Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Âu
- Tại Pháp, Công ty Perrier Vittel (hiện nay do Nestlé sở hữu) phát hiện
ra rằng bỏ tiền đầu tư vào bảo tồn diện tích đất chăn nuôi sung quanh khu vực
đất gập nước sẽ tiết kiệm chi phí hơn là việc xây dựng nhà máy lọc nước để
giải quyết vấn đề chất lượng nước. Theo đó họ đã mua 600 mẫu đất nằm
trong khu vực sinh cảnh nhạy cảm và ký hợp đồng bảo tồn dài hạn với nông
dân trong vùng. Nông dân vùng đầu nguồn Rhine-Meuse ở miền đông nam
nước pháp được nhận tiền đền bù để chấp nhận giảm quy mô chăn nuôi bò
sửa trên đồng cỏ, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải chăn nuôi và trồng rừng
ở những khu vực nước thẩm thấu nhạy cảm. Công ty Perrier Vittel chi trả chất
lượng nước cho mỗi trang trại nuôi bò sữa ở thượng lưu khoảng 230
USD/ha/năm, trong 7 năm Công ty đã chi trả số tiền là 3,8 triệu USD [5].
- Tại Đức, Chính phủ đã đầu tư một loạt chương trình để chi trả cho các
chủ đất tư nhân với mục đích thay đổi cách sử dụng đất của họ nhằm tăng
cường hoặc duy trì dịch vụ hệ sinh thái. Những dự án này bao gồm trợ cấp
cho sản xuất cà phê và ca cao trong bóng râm, quản lý rừng bền vững, bảo tồn
đất và cải tạo các cánh đồng chăn thả ở các nước Mỹ La tinh gồm Honduras,
Costa Rica, Colombia, Ecuador, Peru, Paraguay và Cộng hòa Dominica.


11

- Tại Chile, một số cá nhân khu vực tư nhân đã bỏ tiền đầu tư vào khu
vực bảo vệ tư nhân chỉ vì mục đích bảo tồn trên những diện tích có tính đa
dạng sinh học cao. Việc chi trả được thực hiện trên nguyên tắc hoàn toàn tự
nguyện xuất phát từ ý nguyện muốn hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn của
Chính phủ tại những sinh cảnh có nguy cơ bị đe dọa [5].
Hoạt động chi trả DVMTR ở Châu Á.
Trong những năm gần đây, các Chương trình chi trả DVMTR đã được
phát triển và thực hiện thí điểm tại các nước Châu Á như Indonesia,
Philippines, Trung quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam nhằm xác định điều kiện
để thành lập cơ chế chi trả DVMTR. Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã
có nhiều nghiên cứu điển hình về chi trả DVMTR đối với việc quản lý lưu
vực đầu nguồn.
Năm 1998, Trung quốc đã bổ sung và sửa đổi Luật quy định hệ thống
bồi thường sinh thái rừng. Triển khai thí điểm hệ thống bồi thường giai đoạn
2001- 2004. Năm 2004, thành lập Quỹ bồi thường lợi ích sinh thái rừng.
Từ năm 2001-2006, nhiều nhà tài trợ cũng đã khảo sát khả thi các
Chương trình chi trả DVMTR ở Châu Á. Trong khuôn khổ hỗ trợ của Quỹ
Quốc tế và phát triển nông nghiệp (IFAD), Trung tâm Nông-Lâm thế giới
(ICRAF) đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về khái
niệm nâng cao nhận thức về chi trả DVMTR bằng chương trình chi trả cho
người nghèo vùng cao DVMT (RUPES) ở Châu Á. RUPES đang tích cực
thực hiện các Chương trinh thí điểm ở Indonesia, Philippines và Nepal.
Tại Indonesia, thiết lập cơ chế chuyển giao dịch vụ từ các chức năng
rừng phòng hộ đầu nguôn. Khách hàng của Công ty PDAM (40.000 hộ gia
đình) ở Mataram đồng ý trả 0,15-0,20 USD hàng tháng cho công tác bảo tồn
chức năng phòng hộ đầu nguồn tại huyện Tây Lombok.

Tại Bakun

(Phillipines), Chính phủ công nhận các quyền sở hữu không chính thức về đất
đai do tổ tiên để lại. Việc được giao đất ở Bakun được xem là hoạt động chi


12

trả cho việc quản lý bên vững. Về phía cộng đồng, tất cả mọi người đều được
chi trả, hưởng lợi cho việc trao đổi cung cấp dịch vụ đầu nguồn.
Tại Kulekhani (Nepal), Ban quản lý rừng địa phương và Ủy ban phát
triển thôn xây dựng kế hoạch quản lý và hoạt động. Kế hoạch này được coi là
một văn bản pháp lý, quy định về quản lý rừng và các biện pháp sử dụng đất
hợp lý đối với chi tra DVMTR. Hiệp hội điện lực quốc gia trả phí từ công
trình thủy điện cho cộng đồng vì các hoạt động bảo vệ rừng đầu nguồn và sử
dụng đất bền vững.
Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu về chi trả DVMTR đã được xây
dựng ở nhiều quốc gia. Từ các mô hình chi trả DVMTR ở các nước cho thấy,
quản lý bảo vệ đầu nguồn đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo
vệ tài nguyên và đa dạng sinh học nhằm tạo nguồn tài chính bền vững và chia
sẻ lợi ích cho cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng và hướng tới giảm nghèo
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam hiện có khoảng 13,38 triệu ha rừng, độ che phủ đạt
39,5%phân bố trên địa bàn 61 tỉnh, thành phố [3]; Chiến lược phát triển lâm
nghiệp ở Việt Nam dự kiến đến năm 2020 đưa diện tích rừng đạt khoảng gần
16 triệu ha, với tỷ lệ che phủ 47% [1]. Rừng có vai trò rất quan trọng trong
đời sống con người và sự phát triển bên vũng của quốc gia. Các hệ sinh thái
rừng phát triển tốt với đầy đủ chức năng và đang cung cấp những giá trị
DVMT vô cùng to lớn như: Bảo vệ phòng hộ đầu nguồn, điều tiết và duy trì
nguôn nước, hấp thụ và lưu giữ cacbon, tạo cảnh quan phục vụ cho dịch vụ,
du lịch…nhưng những năm trước đây chúng được coi là tài sản chung và
được sử dụng miễn phí cho toàn xã hội, trong khi đó việc duy trì và bảo vệ
các hệ sinh thái rừng thường chỉ được thực hiện bởi một nhóm nhỏ người, họ
là những người lao động trong ngành lâm nghiệp (là các chủ rừng) trực tiếp
đầu tư vốn, công sức để trồng, bảo vệ, gìn giữ và phát triển rừng nhưng họ
chưa được hưởng những lợi ích xứng đáng mà xã hội phải trả cho sự nỗ lực


13

của họ. Trong khi xã hội, cộng đồng, tổ chức và cá nhân không tham gia bảo
vệ tái tạo rừng lại được hưởng lợi từ các dịch vụ do rừng tạo ra. Ngày nay
cộng đồng xã hội nhận thức được rằng, các giá trị sử dụng của rừng tạo ra
không còn là miễn phí. Chính vì thế, cần có một cơ chế để bảo vệ và khuyến
khích quyền lợi về kinh tế cho những chủ rừng, đồng thời những người được
hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái phải chi trả cho những người tham gia
duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó.
Từ năm 2004 Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xây dựng nền móng cho
một chương trình quốc gia về chi trả DVMTR. Trên cơ sở khung pháp lý Việt
Nam đã có như: Luật tài nguyên nước (1998),Luật đất đai (2003), Luật bảo vệ
và phát triển rừng (2004), Luật bảo vệ môi trường (2005) đều thừa nhận các
nhân tố của dịch vụ hệ sinh thái mang lại là bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ
cảnh quan, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn và hấp thụ cacbon. Đặc biệt Điều
74 Luật đa dạng sinh học (2008) quy định “Tổ chức, cá nhân sử dụng
DVMTR liên quan đến đa dạng sinh học có trách nhiệm trả tiền cho tổ chức,
cá nhân cung cấp DVMTR” các khung pháp lí trên là tiền đề cho Việt Nam đã
sẵn sàng sử dụng một số công cụ tài chính và kinh tế cần thiết để thực thi hoạt
động chi trả DVMTR, tạo cơ sở pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn bước đầu để
PES thực sự ứng dụng có hiệu quả rộng rãi ở Việt Nam. Đó chính là lí do Việt
Nam ban hành chính sách chi trả DVMTR theo đúng pháp luật. Hai trong
những văn bản quan trọng nhất là Quyết định số 380/TTg ngày 10/4/2008 của
Thủ tướng Chính phủ về thi điểm DVMTR ở 02 tỉnh (Lâm Đồng, Sơn La) và
Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về thực hiện chi
trả DVMTR trên phạm vi cả nước. Dự án thí điểm về chi trả DVMTR đã
được triển khai tại tỉnh Lâm Đồng với sự hỗ trợ của tổ chức Winrock
Internationnal; tỉnh Sơn La với sự hỗ trợ của cơ quan hợp tác kỹ thuật CHLB
Đức (GTZ) và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên thực
hiện chi trả DVMTR ở Đông Nam Á.


14

- Các chương trình, dự án làm tiền để cho PES ở Việt Nam
Chương trình Bảo tồn Đa dạng sinh học vùng Châu Á (ARBCP) đã hỗ
trợ Chính phủ Việt Nam từ năm 2006, do Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn phối hợp với tổ chức Winrock Internationnal thực hiện thành công
Chương trình thí điểm về chi trả DVMTR, đã cải thiện sinh kế cho hơn
32.000 người dân nghèo nông thôn đồng thời tăng cường bảo tồn đa dạng sinh
học ở tỉnh Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Phước và ở Việt Nam. Chương trình
hợp tác Việt Nam- Thụy Điển có vai trò quan trọng đầu tiên về phát triển lâm
nghiệp xã hội ở Việt Nam, cho đến nay các Chương trình này luôn đi đầu
trong phát triển LNXH ở nước ta.
Dự án trồng rừng quy mô nhỏ để hấp thụ khí CO2 được Cục Lâm
Nghiệp, Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu sinh
thái và môi trường và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản cùng phối hợp xây
dựng. Dự án tiến hành tại Xuân Phong và Bắc Phong thuộc huyện Cao Phong,
tỉnh Hòa Bình.
Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng là một Chương trình kinh tế, xã hội,
sinh thái trọng điểm của nhà nước Việt Nam theo đó sẽ trồng mới 5 triệu
hecta rừng và bảo vệ diện tích rừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1998 đến
năm 2010 nhằm nâng cao độ che phủ rừng của Việt Nam.
Quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê,
nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 03/9/2003 của Bộ
nông nghiệp va phát triển nông thôn, Bộ Tài chính về quyền lợi, nghĩa vụ của
hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng
Chính phủ về giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng
trong buôn làng là đồng bào thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên.


15

Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ nông nghiệp và
PTNT về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng
cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn. Dự án phát
triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây nguyên (Flitch) do ngân hàng
phát triển Châu Á tài trợ, được triển khai từ năm 2007 trên 6 tỉnh Tây nguyên:
Đăk lăk; Đăk Nông; Gia Lai; Lâm Đồng; Kon Tum và Phú Yên với mục đích
góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách của các hộ nghèo so với các hộ
trung bình sống dựa vào rừng.
Chương trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (NTPRCC), được thực hiện theo quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008
của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến nội dung giao rừng, cho thuê rừng.
Nghị định số 113/2010/NĐ-CP ngày 03/12/2010 quy định về xác định
thiệt hại đối với môi trường, là một công cụ pháp lý quan trọng dựa trên
nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền, bước đầu giúp tháo gỡ những
rào cản và thách thức về mặt pháp lý mà cơ quan quản lý nhà nước về môi
trường khi giải quyết các vụ việc khởi kiện đòi hỏi bồi thường thiệt hại do
hành vi vi phạm pháp Luật môi trường gây ra.
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày
24/12/2010 nhằm mục đích tạo một hành lang pháp lý thống nhất về tổ chức,
quản lý hệ thống rừng đặc dụng trên toàn quốc.
Với những Chương trình thực hiện nêu trên, qua nhiều năm thực hiện
và đạt được kết quả rất khả quan, cho thấy đây là những dự án tạo cơ sở pháp
lý và kinh nghiệm thực tiễn là tiền đề cho Việt Nam sẵn sàng thực hiện chính
sách PES thành công ở Việt Nam và có sức lan tỏa lớn trong khu vực.
Tính đến tháng 12/2010 các chi trả DVMTR tổng cộng là
87.067.200.000 đồng (tương đương 4,46 triệu USD) đã được thực hiện cho 22
Ban quản lý rừng và các doanh nghiệp lâm nghiệp và 9.870 hộ gia đình, trong
đó 6.858 là hộ dân tộ thiểu số, bảo vệ được 209.705 ha rừng. Trong năm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×