Tải bản đầy đủ

(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tại tỉnh Hà Giang và biện pháp phòng trị

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ VANG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,
BỆNH LÝ LÂM SÀNG BỆNH SÁN LÁ GAN LỚN
Ở TRÂU, BÒ TẠI TỈNH HÀ GIANG VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 8.64.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
Người hướng dẫn khoa học : TS. Trần Đức Hạnh
TS. Phan Thị Hồng Phúc

Thái Nguyên, năm 2018


i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Dưới sự hướng
dẫn của TS. Phan Thị Hồng Phúc và TS. Trần Đức Hạnh. Số liệu và kết
quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa
từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều được cảm ơn.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2018
Tác giả

Nguyễn Thị Vang


ii

LỜI CẢM ƠN
Sau hơn hai năm học tập và nghiên cứu tại trường và địa phương, đến
nay tôi đã hoàn thành bản luận văn này. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y, các thầy cô giáo đã tận tình
dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường.
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô giáo: TS.
Phan Thị Hồng Phúc & TS. Trần Đức Hạnh, những người đã trực tiếp
hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo và nhân viên Chi cục thú y
tỉnh Hà Giang.
- Bộ môn Bệnh động vật, Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên.
- Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên
- Phòng thí nghiệm, trường Cao đẳng nghề Hà Giang
- Trung Tâm kỹ thuật giống gia súc Phó Bảng, chi Nhánh xã Phong
Quang, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
- Lãnh đạo chính quyền và nhân dân các xã nơi tôi thực hiện nghiên cứu
đề tài luận văn, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện
nghiên cứu tại địa phương.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Hà Giang, tháng 10 năm 2018
Học viên


iii
Nguyễn Thị Vang
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

cs

: Cộng sự

F.

: Fasciola

GOT

: Glutamat- Oxaloacetat- transaminaza.

GPT

: Glutamat- Pyruvat- Transaminaza.

Hb

: Hemoglobin

HST

: Huyết sắc tố

L

: Lymnaea

n

: Số lượng

NXB

: Nhà xuất bản

pp

: Page

SLG

: Sán lá gan

tr

: Trang

TT

: Thể trọng


iv

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học ........... 3
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola ................................................... 3
1.1.3. Vòng đời của sán lá Fasciola ................................................................. 4
1.2. Đặc điểm của bệnh do sán lá Fasciola gây ra ở trâu, bò ............................ 7
1.2.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò ..................................... 9
1.2.3. Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bò .................................................. 13
1.2.4. Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan .......................................... 14
1.2.5. Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò ............................................. 14
1.2.6. Phòng và trị bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò .......................................... 15
1.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 17
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 17
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ...................................................... 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG ................................... 21
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................ 21
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu .............................................. 21
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 21
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 21
2.1.3. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 21
2.2. Vật liệu nghiên cứu .................................................................................. 21


v
2.2.1. Mẫu nghiên cứu ..................................................................................... 21
2.2.2. Dụng cụ và hoá chất .............................................................................. 22
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 22
2.3.1. Xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò một số huyện tỉnh
Hà Giang ......................................................................................................... 22
2.3.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò ............................................ 22
2.3.3. Đặc điểm bệnh lý lâm sàng ................................................................... 22
2.3.4. Hiệu lực tẩy sán lá gan của một số loại thuốc....................................... 23
2.3.5. Đề xuất một số biện pháp phòng bệnh sán lá gan cho trâu bò ở tỉnh
Hà Giang ......................................................................................................... 23
2.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 23
2.4.1. Phương pháp xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò ở một số
huyện thuộc tỉnh Hà Giang ............................................................................. 23
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu,
bò ở một số thuộc huyện, tỉnh Hà Giang ....................................................... 23
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .................................................. 28
3.1 Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò tại 3 huyện của tỉnh
Hà Giang ......................................................................................................... 28
3.1.1. Kết quả mổ khám trâu, bò và thu thập sán lá gan ................................. 28
3.1.2. Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò .............................. 29
3.2. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò ở ba huyện của tỉnh
Hà Giang ........................................................................................................ 30
3.2.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại các địa phương ...... 30
3.2.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo tính biệt ............... 35
3.2.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo tuổi ...................... 37
3.2.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo phương thức
chăn nuôi ......................................................................................................... 39
3.3. Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, lâm sàng .................................................. 42


vi
3.3.1. Xác định triệu chứng lâm sàng của trâu, bò nhiễm sán lá gan ............. 42
3.3.2. Bệnh tích đại thể của gan trâu, bò nhiễm sán lá gan ............................. 46
3.3.3. Bệnh tích vi thể của gan trâu, bò mắc bệnh sán lá gan ......................... 48
3.3.4. Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của trâu, bò
mắc bệnh sán lá gan ........................................................................................ 52
3.4. Nghiên cứu hiệu lực tẩy sán lá gan của một số loại thuốc ....................... 54
3.4.1. Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò ..................................... 54
3.4.2. Độ an toàn của thuốc tẩy sán lá gan trâu bò ......................................... 56
3.5. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở tỉnh
Hà Giang ......................................................................................................... 60
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 62
1. Kết luận ....................................................................................................... 62
1.1. Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu, bò ở 3 huyện của tỉnh
Hà Giang: ........................................................................................................ 62
2. Đề nghị ........................................................................................................ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 64


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Kết quả mổ khám trâu, bò và thu thập sán lá gan .......................... 28
Bảng 3.2. Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò ........................ 30
Bảng 3.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại các địa phương 31
Bảng 3.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa vụ .......... 34
Bảng 3.5. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo tính biệt ........... 35
Bảng 3.6. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo tuổi .................. 38
Bảng 3.7. Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo phương thức
chăn nuôi ......................................................................................................... 40
Bảng 3.8. Một số biểu hiện triệu chứng của trâu, bò bị nhiễm sán lá gan ...... 44
Bảng 3.9. Bệnh tích đại thể gan bò bị sán lá gan ký sinh ............................... 46
Bảng 3.10. Tỷ lệ và đặc điểm tiêu bản gan trâu, bò mắc bệnh sán lá gan có
bệnh tích vi thể ................................................................................................ 49
Bảng 3.11. Số lượng hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố, men gan
của trâu, bò bình thường và trâu, bò nhiễm sán lá gan ................................... 52
Bảng 3.12. Hiệu lực của thuốc tẩy sán lá gan cho trâu, bò ............................. 55
Bảng 3.13. Một số chỉ tiêu sinh lý của trâu, bò trước và sau khi dùng thuốc
1 giờ ................................................................................................................. 57


viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại các địa phương ..................... 32
Đồ thị 3.2. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa vụ ............................. 34
Biều đồ 3.3.Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo tính biệt ............................. 37
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo tuổi ................................... 39
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo phương thức chăn nuôi .... 41


ix

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 3.1. Gan bị sung huyết, xuất huyết ......................................................... 50
Hình 3.2. Tế bào gan bị thoái hóa, bị tổn thương, mô liên kết lan rộng ............... 51
Hình 3.3. Tổ chức gan bị xung huyết, tổ chức xơ phát triển mạnh, lan tỏa tạo
các vách xơ, có sự thâm nhiễm của bạch cầu ................................................. 51
Hình 3.4. Tổ chức gan bị xâm nhiễm tế bào viêm .......................................... 51


x


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh sán lá gan ở trâu, bò (Fasciolosis) do hai loài sán lá Fasciola
hepatica và Fasciola gigantica gây ra, được coi là bệnh ký sinh trùng phổ
biến và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi trâu, bò trên toàn thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Sán lá gan ký sinh gây nhiều tác hại đến sức sinh trưởng, sinh sản ở trâu,
bò; mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2ml máu mỗi ngày làm tổn thương
thành ống dẫn mật, xơ gan, thiếu máu…tiết độc tố gây trúng độc, viêm nhiễm
tăng sinh ở nhu mô gan…
Nguy hiểm hơn bệnh sán lá gan ở trâu, bò còn truyền lây sang người gây
viêm gan, xơ gan thậm chí biến chứng ung thư gan ở người.
Hà Giang là một tỉnh miền núi, đất trồng cỏ rộng thuận lợi cho ngành
chăn nuôi trâu, bò. Là một trong những ngành nghề trọng điểm của tỉnh trong
những năm gần đây vì vậy chăn nuôi trâu, bò được đánh giá có tiềm năng rất
phát triển.
Ngày 10 tháng 12 năm 2015, Nghị quyết 209 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Hà Giang khóa XVI kỳ họp thứ 16, về việc ban hành chính sách khuyến
khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Giang,
trong đó có nghề chăn nuôi trâu, bò là trọng tâm. Tuy nhiên, các bệnh ký sinh
trùng trên trâu, bò chưa được người chăn nuôi quan tâm đúng mức do trình
độ và kinh nghiệm của người chăn nuôi còn hạn chế, một số bà con chăn nuôi
không nói được tiếng kinh nên chưa tiếp cận được khoa học cũng như kỹ
thuật chăn nuôi trâu, bò. Đặc biệt bà con chăn nuôi chưa phân biệt cụ thể về
tẩy sán lá gan với tẩy giun nên việc phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò tại
tỉnh Hà Giang còn nhiều bất cập. Trong những năm qua, việc nghiên cứu về
bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò ở tỉnh Hà Giang còn chưa được thực hiện


2

một cách đầy đủ, vì vậy việc phòng trừ bệnh sán lá gan trên trâu, bò ở tỉnh Hà
Giang cũng chưa được chú ý.
Để góp phần phòng chống bệnh sán lá gan lớn cho đàn trâu, bò ở Hà
Giang, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm
dịch tễ, bệnh lý lâm sàng bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tại tỉnh Hà Giang
và biện pháp phòng trị ”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định loài sán lá gan ký sinh trên trâu, bò ở một số huyện thuộc
tỉnh Hà Giang.
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tại một
số huyện thuộc tỉnh Hà Giang.
- Xác định đặc điểm bệnh lý, lâm sàng bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò tại
tỉnh Hà Giang.
- Nghiên cứu biện pháp điều trị bệnh sán lá gan trâu, bò.
- Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh do sán lá gan lớn gây ra ở trâu, bò.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu là những thông tin có giá trị khoa học và thực tiễn,
làm cơ sở để ứng dụng cho người chăn nuôi trâu, bò thực hiện các biện pháp
phòng và trị sán Fasciola ở trâu, bò, nhằm đảm bảo sức khỏe đàn trâu, bò,
góp phần phát triển chăn nuôi, từ đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội của
các địa phương ở tỉnh Hà Giang.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [19], sán lá gan ký sinh và gây bệnh
cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1954
Lớp Trematoda Rudolphhi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895
Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898
Giống Fasciola Linnaeus (Linnaeus, 1758)
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus,1758)
Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
1.1.2. Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh
chéo hoặc tự thụ tinh. Sán lá có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối
với cơ quan tiêu hoá. Sán lá không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị
giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt). Hệ sinh dục rất phát triển với
cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán lá. Tử cung sán lá chứa
đầy trứng.
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
- F.gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng,
"vai" không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang.


4

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [9] mô tả F.gigantica như sau: sán hình lá,
có chiều dài 25 - 75mm, rộng 3 - 12mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp
theo của thân, vì vậy nó không có "vai" như loài khác của giống Fasciola. Hai
rìa bên thân sán lá song song với nhau, đầu cuối của thân tù. Giác bụng tròn
lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh.
Trứng hình bầu dục, phôi bào phân bố đều và màu vàng nâu. Kích thước
trứng 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10mm. Giác bụng có đường kính từ 1,4911,785 mm và giác miệng có dường kính từ 1,092 – 1,555mm.
- F.hepatica (Linnaeus, 1758): trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi
và nhô ra phía trước làm cho sán lá có "vai", nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn.
F.hepatica dài 18 - 51mm, rộng 4 - 13mm, phần trước thân nhô ra, tạo
cho sán lá có vai bè ra hai bên. Hai rìa bên thân sán lá không song song với
nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân. Những ống dẫn
tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán lá thành phần trước và
phần sau thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực. Tinh hoàn
phân nhiều nhánh xếp phía sau thân. Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nên
một mạng lưới rối như tơ vò. Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung.
Trứng của sán F.hepatica có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài
F.gigantica, kích thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09mm.
1.1.3. Vòng đời của sán lá Fasciola
Chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola đã được Leukart (1882) nghiên cứu
ở Đức và Thomas (1882) nghiên cứu ở Anh.
Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê. Sau
khi thụ tinh mỗi sán lá đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này cùng dịch
mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài. Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được
nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước…, nhiệt
độ 15 - 30oC, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp… sau 10 - 25 ngày trứng nở
thành Miracidium bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng Miracidium


5

không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ.
Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được
trong nước. Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium
xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst). Những
Miracidium không gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết.
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sán lá, được bao bọc bởi lớp màng
mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám
phôi. Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng. Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản
vô tính cho ra nhiều Redia (lôi ấu). Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn gian.
Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ
trung gian. Ở nhiệt độ 16oc hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sinh sản Redia I và dừng
phát triển, ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30oc), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành
vĩ ấu (Cercaria). Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria.
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo
thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng
trong nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và
ruột phân thành hai nhánh.
Theo Grigoryan G. A. (1958)[40], trong cơ thể Cercaria có những dạng
Glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là
cho sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu.
Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi
trường nước. Lora R. Ballweber, M. S., D. V. M. (2015)[43] cho biết, nhờ sự
hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh,
tạo thành kén (Adolescaria).
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần
khoảng 50 - 80 ngày. Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi vỏ ốc, ra môi
trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30mm chiều dài và


6

0,23mm chiều rộng. Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất
nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh. Lúc này
Cercaria đã biến thành Adolescaria.
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động. Phôi có giác
miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết, Adolescaria thường ở trong
nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh. Nếu trâu, bò, nuốt phải Adolescaria vào
đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và di
chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh
mạch ruột qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật.
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào
xoang bụng đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật.
- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật.
Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá
gan trưởng thành. Theo Skerman (1966), thời gian hoàn thành vòng đời là 92
- 117 ngày. Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của trâu
bò 3 - 5 năm, có khi tới 11 năm.
Theo Phan Địch Lân (1985) [16], nước ta đã nghiên cứu thành công
vòng đời của sán lá gan. Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 - 30oC), có ốc
vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae viridis), có vật chủ cuối cùng
(trâu, bò, dê, cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các
mức thời gian sau:
- Ở ngoài thiên nhiên: trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium)
trong khoảng 14 - 16 ngày.
- Ở trong ốc vật chủ trung gian: mao ấu (Miracidium) phát triển thành lôi
ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày. Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria)
non cần 7 - 14 ngày, thành vĩ ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày.


7

- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria)
sau 2 giờ.
- Ở trâu, bò: khi trâu bò, bê nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày
trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo
phân ra ngoài.
Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và
gây bệnh sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên). Ở những vùng có
mầm bệnh tồn tại, trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong
cơ thể trâu, bò, nghĩa là trâu cứ 3 tháng lại tạo ra một đời sán lá mới. Trong
khi trâu bò đã có sán lá gan ký sinh, tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây
tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi
trâu, bò.
As, to, pH

Phân

Mao ấu

Trứng

Fasciola
(ống dẫn mật)

MT nước

Bào ấu

Trâu,
bò
nuốt
phải
nang
ấu

Ốc
nước
ngọt

Lôi ấu
Rời KCTG

Nang ấu

Vĩ ấu

(Lơ lửng trong nước hoặc bám vào cỏ thuỷ sinh)
Tóm tắt sơ đồ vòng đời của sán lá Fasciola
1.2. Đặc điểm của bệnh do sán lá Fasciola gây ra ở trâu, bò
Trâu bò bị bệnh sán lá gan thể hiện những biến đổi cơ bản ở gan và ống
mật do tác động của Fasciola gây ra.


8

1.2.1. Cơ chế sinh bệnh của bệnh sán lá Fasciola
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [12], sán lá gan gây bệnh ở vật
chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng
và tác động mang trùng. Khi trâu bò mới nhiễm bệnh, sán lá non di hành
trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan. Một số ấu
trùng có thể theo máu di chuyển "lạc chỗ" đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến
tuỵ,...gây tổn thương và xuất huyết nặng hoặc nhẹ. Sán lá non xuyên qua các
nhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy
máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ. Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tùy theo
số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể. Trâu bò bị thiếu máu do xuất huyết, có
thể chết do mất máu.
Tác động cơ giới của sán lá còn tiếp tục khi sán lá đã vào ống dẫn mật,
tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán lá trưởng thành. Sán lá
trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutin
trên cơ thể, gây viêm ống mật. Số lượng sán lá nhiều có thể làm tắc ống mật,
mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản.
Trong quá trình ký sinh, sán lá thường xuyên tiết độc tố. Độc tố tác động
vào thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá
trình viêm. Đồng thời, độc tố của sán lá còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng
trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm
albumin giảm, globulin tăng. Độc tố của sán lá còn làm tăng nhiệt độ cơ thể,
tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan). Độc tố của sán lá còn tác động
vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu
vẹo,…). Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính
thẩm thấu của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại.
Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng
thấm nhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc
theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy những ống


9

mật này cũng dày lên. Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào yêu cầu tăng
sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan.
Khi trâu bò nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của
gan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ. Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn
khác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ
chướng, xoang phúc mạc tích nước.
Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm
đoạt dinh dưỡng. Dinh dưỡng của sán lá gan là máu trâu bò mà nó ký sinh.
Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán lá ký sinh ở ống dẫn
mật lấy 0,2ml máu mỗi ngày. Như vậy, nếu trâu bò nhiễm ít sán lá thì vai trò
chiếm đoạt dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu mỗi trâu bò có hàng trăm, hàng
nghìn sán lá ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều.
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán lá non còn mang
theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây
những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm ghép với bệnh sán lá gan.
Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng
của cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm
cho các bệnh đang có trong cơ thể trâu bò nặng thêm lên.
1.2.2. Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò
Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thế
giới. Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước.
Theo Phan Địch Lân (1980) [15], mổ khám 1.043 trâu ở Thái Nguyên, số
trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lượng
sán lá quá nhiều. Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Nam Hà, tỷ lệ nhiễm
sán lá gan ở trâu là 51,2-57,5%.
Đoàn Văn Phúc (1980) [ 23] đã kiểm tra 64 bò tại trại bò sữa Hà Nội,
thấy tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola là 73,43%. Tác giả cho biết, bệnh sán lá gan
đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò.


10

Kết quả kiểm tra trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc
Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53%. Trong đó,
trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu và Bùi Khánh Linh,
1996 [29]).
Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào
những yếu tố sau:
- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ:
Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan. Điều kiện
ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh
sản thuận lợi.
Trịnh Văn Thịnh (1978) [28], Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996)[9],
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[11] … cho biết, trâu bò nhiễm sán lá gan
thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển. Những năm mưa, tỷ lệ
nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo và khô hạn. Mùa vụ gắn
liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu. Mùa hè thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan
tăng cao hơn các mùa khác trong năm. Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường
phát ra.
- Yếu tố vùng và địa hình
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ
với nhau. Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau. Địa hình là yếu
tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng.
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều
thuộc bốn loại địa hình: ven biểu, đồng bằng, trung du và miền núi.
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở
vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm
dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi.
Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, Trịnh Văn Thịnh, 1978[28]; Phạm Văn


11

Khuê và Phan Lục, 1996[9] cho biết, vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh,
rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản. Các kiểu địa
hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng.
Phan Địch Lân (1985) [16] đã điều tra 7.359 trâu, bò ở 26 tỉnh miền Bắc
Việt Nam, kết quả thấy: trâu bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao nhất,
sau đó đến vùng trung du, vùng ven biển và miền núi (bình quân tỷ lệ nhiễm
sán lá ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%,
vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%, vùng
núi từ 14,7% đến 44,0%).
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng
Ở nước ta, theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [9], loài gia súc
nhiễm sán lá Fasciola nhiều nhất là trâu (79,6%), bò ít hơn (36%), dê ít nhất
(20%). Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều là do đặc tính ưa nước của chúng
(thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng, ao,
kênh rạch), trong khi bò và dê ít ưa nước hơn.
Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ,
các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi trâu bò càng cao thì tỷ lệ và cường độ
nhiễm càng tăng lên. Một điều dễ nhận thấy là, trâu bò tuổi càng tăng lên
(thời gian sống càng dài) thì sự tiếp súc với môi trường ngoại cảnh càng
nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải nang ấu (Adolescaria) càng cao. Mặt khác, sán
lá Fasciola trưởng thành có thời gian ký sinh ở trâu bò nhai lại tương đối dài
(3 - 5 năm, thậm chí tới 11 năm). Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho
quy luật nhiễm theo tuổi vật chủ của sán lá Fasciola spp.
Phan Địch Lân (1985) [16], cho biết, trâu dưới 3 năm tuổi chỉ nhiễm sán
lá gan 17,2 - 22,0%; trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2% -40,2%, trâu
5 - 8 năm tuổi nhiễm 42,4% - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 66,3%, trâu ở độ tuổi phế canh (loại thải) khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm cao


12

tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bỏ toàn bộ do có
quá nhiều sán lá ký sinh).
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp.
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vào
các vùng địa lý khác nhau. Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), vật
chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt Lymnaea: L.
auricularia, L. swinhoei, L.viridis, Agalba truncatula, Radix ovata.
Phan Địch Lân và cs (1985) [16] đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc
- vật chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả cho biết,
vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống
Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L.swinhoei) và ốc chanh (L.viridis). Loài
swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai. Loài
L. viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10mm, vỏ dễ vỡ,
có 4 - 5 vòng xoắn cuối cùng lớn.
Ốc L.viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ổ 7
- 10 trứng sau 7 ngày nở thành ốc con, ốc L.swinhoei thường sống trôi nổi ở
cống rãnh, ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng. Trong điều
kiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra.
Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [10], giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá
gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối
tương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt
cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao.
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:
Trứng sán lá gan được thải theo phân trâu bò ra môi trường ngoại
cảnh. Trứng sán lá rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp
của ánh sáng mặt trời. Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị
chết sau 8 - 9 ngày.


13

Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,
Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày. Ở môi trường ẩm ướt,
trứng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng).
Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh. Phôi bị chết sau 2 ngày ở
nhiệt độ thấp (-5oC  -15oC). Nhiệt độ 10 - 20oC trứng ngừng phát triển.
Nhiệt độ 40 - 50oC, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs, 1996 ).
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của
chúng tăng lên rõ rệt. Adolescaria có khả năng tồn tại ở nhiệt độ -4oC  6oC,
ở điều kiện nhiệt độ bình thường, những Adolescaria có trong cỏ khô bị ẩm và
trong môi trường nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Kaufmann, 1996).
1.2.3. Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu bò
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây
bệnh của sán lá Fasciola. Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ phụ
thuộc vào cường độ nhiễm sán lá gan, tình trạng sức khoẻ và tuổi trâu bò, tình
trạng chăm sóc quản lý,….
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê
và Phan Lục, 1996)[9], trong giai đoạn sán lá non di hành hoặc khi nuôi
dưỡng, chăm sóc kém.
Trâu bò biểu hiện: ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy,
miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng
thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo). Trâu bò có thể chết do xuất huyết nặng, trúng
độc và suy nhược cơ thể.
Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi trâu bò được
nuôi dưỡng tốt và sán lá ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật
với số lượng ít. Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng.
Nhìn chung, khi trâu bò bị bệnh sán lá gan kéo dài, nếu không được điều
trị kịp thời thì trâu bò thường chết trong tình trạng thiếu máu, ỉa chảy và suy kiệt.


14

1.2.4. Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán lá mà bệnh tích có sự khác nhau.
Đối với trâu bò nhiễm sán lá nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp
tính, gan sưng to, màu nâu sẫm, xung huyết. Trên mặt gan có thể thấy những
đường di hành của sán lá non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4mm,
trong có sán lá non với số lượng nhiều. Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi
có tơ huyết. Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm
mạc mắt nhợt nhạt.
Ở những trâu bò nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ
mô gan bị phá huỷ tạo thành sẹo mầu vàng xám. Gan xơ cứng, niêm mạc ống
dẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống. Lòng ống dẫn mật
giãn rộng, chứa đầy dịch màu nâu và sán lá Fasciola. Khi ống mật bị canxi
hoá nhiều, sán lá ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn.
Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu bò, Phan Địch Lân (1985) [16] cho
biết: khi mổ khám trâu bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan
to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần). Gan màu đỏ sẫm, biểu hiện
xung huyết. Dưới vỏ gan thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại những đường
ngoằn nghèo do sán lá di hành. Tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹo
đặc biệt. Trong gan còn thấy những sán lá non không đến được ống dẫn mật,
đóng kén to bằng hạt đậu và chết trong kén. Cắt tổ chức gan thấy lạo xạo do
biến chất thoái hoá. Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ gan.
Trường hợp viêm phúc mạc xoang bụng chứa nhiều nước (cổ chướng).
1.2.5. Chẩn đoán bệnh sán lá Fasciola ở trâu bò
Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên trâu bò còn sống hoặc đã chết, tuỳ
điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp.
- Đối với trâu bò còn sống
Để chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện
pháp như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân
con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học.
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường thấy nhất là: kiệt sức,
thiếu máu, ỉa chảy, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức,… Tuy nhiên,


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×