Tải bản đầy đủ

(Luận văn thạc sĩ) Dấu ấn đường thi trong thơ mới (qua trường hợp Huy Cận, Vũ Hoàng Chương)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN ĐỘNG

DẤU ẤN ĐƯỜNG THI TRONG THƠ MỚI
(QUA TRƯỜNG HỢP HUY CẬN, VŨ HOÀNG
CHƯƠNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM


THÁI NGUYÊN, NĂM 2018

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN VĂN ĐỘNG

DẤU ẤN ĐƯỜNG THI TRONG THƠ MỚI

(QUA TRƯỜNG HỢP HUY CẬN, VŨ HOÀNG
CHƯƠNG)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP


THÁI NGUYÊN, NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng. Các kết
quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng
được công bố ở bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Động


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí - Truyền thông
và Văn học,Trường Đại học Khoa học, Đại họcThái Nguyên và
cácThầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình
học tập.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng
viên hướng dẫn Nguyễn Đăng Điệp đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè
và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Động


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu ................................................................ 5
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu ......................................................... 5
5. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 9
6. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 9
7. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 9
NỘI DUNG ..................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNGĐẾN THƠ MỚI TỪ GÓC
NHÌN CỦA VĂN HỌC SO SÁNH ................................................................ 10
1.1. Ảnh hưởng giao thoa văn hoá từ góc nhìn văn học so sánh .................... 10
1.2 .Ảnh hưởng thơ Đường đến Thơ mới trong bối cảnh giao lưu quốc tế đầu
thế kỷ XX......................................................................................................... 19
1.3. Khái quát về hành trình sáng tạo của Huy Cận và Vũ Hoàng Chương thời
kỳ Thơ mới ...................................................................................................... 23
1.3.1. Hành trình sáng tạo của Huy Cận thời kỳ Thơ mới .............................. 23
1.3.2. Hành trình sáng tạo của Vũ Hoàng Chương thời kỳ Thơ mới .............. 30
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG DIỆN ẢNH HƯỞNG THƠ ĐƯỜNG TRONG
THƠ HUY CẬN VÀ THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG ..................................... 35
2.1. Ảnh hưởng về quan niệm nghệ thuật ....................................................... 35
2.1.1. Quan niệm nghệ thuật của Huy Cận ..................................................... 35
2.1.2. Quan niệm nghệ thuật của Vũ Hoàng Chương ..................................... 47


2.2. Sự thể hiện con người .............................................................................. 49
2.2.1. Quan niệm về con người trong Đường thi ............................................ 49
2.2.2. “Lửa thiêng”- nơi hội tụ quan niệm nghệ thuật về con người của Huy Cận
......................................................................................................................... 51
2.2.3. Vũ Hoàng Chương quan niệm về con người trong “Thơ Say” và “Mây”.
......................................................................................................................... 64
2.3. Ảnh hưởng về phương diện thời gian, không gian nghệ thuật ................ 71
2.3.1. Không gian và thời gian trong thơ Huy Cận ......................................... 71
2.3.2. Không gian thời gian nghệ thuật trong thơ Vũ Hoàng Chương ........... 91
CHƯƠNG 3: THƠ ĐƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHƯƠNG THỨC BIỂU
HIỆN TRONG THƠ ....................................................................................... 94
3.1. Dấu ấn trong hệ thống thi liệu và thi ảnh ................................................. 94
3.2. Dấu ấn trong ngôn từ và giọng điệu:...................................................... 101
3.3.1.Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật: .................................................. 109
3.3.2. Thể thơ tứ tuyệt Đường luật:............................................................... 111
KẾT LUẬN ................................................................................................... 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 115



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thơ Đường một trong những đỉnh cao của văn học Trung Quốc, là thành
tựu văn học nước ngoài có ảnh hưởng sâu rộng đối với văn học Việt Nam. Suốt
thời kỳ trung đại đến nửa đầu thế kỷ XX cha ông ta đã tiếp thu những tinh hoa
của văn học Trung Quốc trong quá trình xây dựng nền văn học nước nhà. Từ
chỗ là một thể loại du nhập của nước ngoài, thơ Đường luật đã được Việt hóa,
trở thành một thể thơ quan trọng trong sáng tác của người Việt hơn 10 thế kỷ.
Ảnh hưởng nhiều mặt của thơ Đường không chỉ thể hiện trong văn học trung
đại mà còn rất sâu đậm trong phong trào Thơ mới -một phong trào thơ nổi bật
đầu thế kỷ XX thuộc văn học Việt Nam hiện đại.
Trên con đường hiện đại hoá văn học đân tộc, Thơ mới đã đóng góp một
vai trò quan trọng. Thơ mới góp phần làm cho văn học nước nhà phát triển trên
tinh thần kế thừa, tiếp thu nước ngoài trong đó có thơ Đường. So sánh tìm ra
mối quan hệ gắn bó giữa thơ Đường và Thơ mới thực chất cũng góp phần tìm
hiểu thành tựu và đặc điểm Thơ mới.
Đứng về mặt lý luận văn học, đây chính là sự vận dụng lý thuyết tiếp thu
có sáng tạo văn học nước ngoài đồng thời vận dụng Văn học so sánh như một
phương pháp nghiên cứu. Lấy đối tượng chịu ảnh hưởng đặt bên cạnh đối tượng
gây ảnh hưởng để tìm ra những mối liên hệ tương đồng và khu biệt là công việc
vô cùng cần thiết và hữu ích.
Tìm hiểu dấu ấn Đường thi trong Thơ mới qua trường hợp Huy Cận, Vũ
Hoàng Chương vừa thấy được tác động sâu rộng của thơ Đường đối với một
hiện tượng thơ ngay cả khi được gọi là Thơ mới, vừa thấy được sự kế thừa và
sáng tạo trong quá trình lao động nghệ thuật của các thi nhân.


2

2. Lịch sử vấn đề
Ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ mới là một vấn đề từ lâu đã được
đề cập tới. Ngay từ năm 1942, Hoài Thanh-Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam
mặc dù dành nhiều trang để miêu tả ảnh hưởng của thơ Pháp (đặc biệt là trường
phái Tượng trưng) nhưng các ông đã trân trọng và có một chút hứng thú đặc
biệt về ảnh hưởng của Thơ Đường đối với Thơ mới (điều này được bộc lộ qua
công phu miêu tả, khảo cứu và cụ thể hơn từ chính số lượng trang viết). Khi
phân chia các dòng mạch Thơ mới, Hoài Thanh- Hoài Chân nói tới dòng mạch
chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, dòng mạch mang tính cách Việt, đồng thời cũng
nói tới dòng mạch chịu ảnh hưởng từ Đường thi:Hoài Thanh, Hoài Chân viết
“Đó là ba dòng thơ đã đi song song trong mười năm qua.Cố nhiêntrong sự
thực, ba dòng ấy không có cách biệt rõ ràng như thế”[26, tr.36]. Riêng đối với
dòng thứ hai các ông khẳng định: “Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao
giờ cũng lớn”[26, tr.33] và các nhà Thơ mới đã “đi tới thơ Đường với một tấm
lòng trong sạch và mới mẻ, điều kiện cần thiết để hiểu thơ”[26, tr.33].
Tiếp sau Thi nhân Việt Nam, những tác động của Thơ Đường đối với Thơ
mới cũng là đối tượng được nghiên cứu trong một loạt những chuyên luận,
những bài viết của Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Phương Lựu...
Phan Cự Đệ trong cuốnVăn học lãng mạn Việt Namcũng có nhiều trang
nói về việc tiếp thu của Thơ mới đối với thơ Đường. Ông viết: “Phong trào Thơ
mới lãng mạn chủ yếu chịu ảnh hưởng của thi ca Pháp, nhưng cũng tiếp thu
khá sâu sắc thi ca Trung Quốc…và nhất là thi ca đời Đường” [8, tr.199-200].
Để giải thích về ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ mới, Phan Cư Đệ cho
biết: “Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc của
thơ Đường. Ngay tuổi ấu thơ họ đã nghe giọng ngâm thơ Đường giàu nhạc
điệu của cha anh, lớn lên các nhà Thơ mới đều thuộc ít nhiều thơ Đường. Có
người làm quen với bản thơ Đường qua bản chữ Hán nhưng cũng có người chỉ


3

biết một số thơ Đường qua các bản dịch của Tùng Vân, Tản Đà, Ngô Tất Tố,
Trúc Khê…Lại có người mang duyên nợ với thơ Đường qua Kiều, Chinh Phụ
Ngâm, thơ Tản Đà.” Hồn thơ Đường đã tan vào câu thơ lục tài tình của Nguyễn
Du và trong Chinh Phụ Ngâm ta thấy những ảnh hưởng khá rõ của Lý Bạch.
Một mặt khác thơ Đường phần nào cũng có nét giống với thơ tượng trưng Pháp
mà các nhà Thơ mới chịu ảnh hưởng: “Những sắc thái hàm súc, thâm trầm, kín
đáo, giàu nhạc điệu, giàu khả năng gợi cảm đã phảng phất trong thơ của một
số thi sĩ đời Đường như Lý Thương Ẩn, Giả Đảo, Mạnh Giao, Lý Hạ”[8, tr.202203]
Trong cuốn Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Huy Cận – Hà
Minh Đức chủ biên, 60 năm phong trào Thơ mới, các bài viết của Anh Thơ,
Ngô Văn Phú, Phan Cự Đệ cũng tiếp tục cho thấy sự gặp nhau giữa thơ Đường
và Thơ mới. Trong bài “Kỷ niệm và cảm nghĩ khi sáng tác Bức tranh quê trong
phong trào Thơ mới”. Anh Thơ đã nói rõ tác giả học tập được gì ở thơ Đường.
Còn Ngô Văn Phú qua bài “Suy ngẫm về phong trào Thơ mới trong thơ ca hiện
đại Việt Nam” thì cho biết nhiều nhà Thơ mới đã gắn bó máu thịt với thơ Đường
ra sao. Và Phan Cự Đệ cũng nhấn mạnhthêm vấn đề Thơ mới có chịu ảnh hưởng
khá đậm nét của thơ Đường trong bài “Một bước tiến mới của thi ca Việt Nam
trên con đường hiện đại hoá”[3, tr.77].
Ngô Văn Phú một trong những người đã rất trân trọng nguồn sống tinh
thần dào dạt Đường thi. Trong cuốn Thơ Đường ở Việt Nam với bài viết“Các
nhà thơ trong phong trào Thơ mới và thơ Đường”, ông cho người đọc thấy văn
minh phương Đông đã ăn sâu vào tâm hồn chúng ta như thế nào. Ông cũng lý
giải điều này như sau: “Những vương vấn ấy là lẽ tất nhiên, bởi các nhà thơ
trong phong trào Thơ mới trước khi hấp thụ văn minh phương Tây, trong cái
gien của họ, văn minh phương Đông đã thành máu thịt, từ cha ông truyền
lại”[21, tr.113]


4

Phương Lựu với cuốn Văn hoá , văn học Trung Quốc cung một số liên hệ
ở Việt Namđã chỉ rõ ảnh hưởng của Thơ mới, cụ thể hơn là qua bài viết “Vài
suy nghĩ nhân đi tìm ảnh hưởng của Trường hận ca và Tỳ bà hành trong thơ ca
nước nhà”. Ông viết “một số nhà thơ chúng ta trong khi phản ánh vấn đề ca kỹ
đều ít nhiều chịu sự gợi ý trực tiếp hoặc gián tiếp về cách đề xuất và giải quyết
vấn đề, thái độ đối với nhân vật, cấu tứ hình tượng, sử dụng ngôn ngữ…”[17,
tr.335].
Nguyễn Xuân Diện và Trần Văn Toàn qua bài viết “Bước đầu tìm hiểu
ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ mới”, đã đặt vấn đề một cách tương đối
hệ thống ở cấp độ hình thức với những biểu hiện có thể quan sát được. Hai tác
giả đã “tiến hành phân loại và bước đầu đưa ra một số kết luận về mức độ,
phạm vi cũng như cơ chế ảnh hưởng của thơ Đường vào Thơ mới”(Tạp chí Hán
Nôm, số 3(36) – 1998).
Nhìn chung xung quanh vấn đề này, nhiều cứ liệu cũng như những vấn
đề lý luận đã được bổ sung và tổng kết, ý kiến của các nhà nghiên cứu là khá
thống nhất. Ai cũng nhận thấy diện mạo Đường thi trong Thơ mới và chiều
hướng tiếp thu có sáng tạo của các tác giả. Ai cũng nhận thấy chất liệu Đường
thi đã thấm sâu và đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong chỉnh thể của thế giới
nghệ thuật Thơ mới. Tuy vậy, một sự khảo cứu toàn diện và công phu về ảnh
hưởng của thơ Đường đối với Thơ mới nhìn chung vẫn là một công việc trong
tương lai. Mặc dù vậy đó chính là những gợi ý hết sức quý báu cho luận văn.
Chúng tôi kế thừa những thành tựu đó và bổ sung thêm những tìm tòi mới,
trong đó có một số khía cạnh vấn đề mong muốn được trao đổi. Luận văn của
chúng tôi mang tên: “Dấu ấn Đường thi trong Thơ mới (qua trường hợp Huy
Cân, Vũ Hoàng Chương)” mong đóng góp một phần rất nhỏ bé của mình vào
việc nghiên cứu ảnh hưởng của thơ Đường đến Thơ mới nói chung và thơ Huy
Cận, thơ Vũ Hoàng Chương nói riêng.


5

3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Thơ Đường, tập trung trong ba tác giả lớn là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch
Cư Dị.
- Thơ Huy Cận tập trung trong tập “Lửa thiêng”, thơ Vũ Hoàng Chương
với hai tập thơ “Thơ Say” và “Mây”.
- Dấu ấn thơ Đường trong các tập thơ “Lửa thiêng”, “Thơ Say” và “Mây”.
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
-Tìm ra dấu ấn Đường thi trong sáng tác thơ của Huy Cận, Vũ Hoàng
Chương qua những cấp độ để thấy được đóng góp, sự kế thừa và sáng tạo của
hai ông đối với thi ca nghệ thuật.
- Hai thi nhân đã tiếp thu tinh hoa Đường thi, từ đó làm giàu và phát
triển thơ ca dân tộc.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm đọc và nghiên cứu các tập thơ của Huy Cận, Vũ Hoàng Chương
trước cách mạng tháng Tám năm 1945 như: “Lửa thiêng”, “Thơ Say” và “Mây”,
tuyển tập thơ Đường.
- Sưu tầm và nghiên cứu những bài phê bình và nghiên cứu về thơ
Đường, thơ Huy Cận, thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ mới.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1.Phương pháp loại hình
- Giới thuyết về phương pháp: loại hình là tập hợp các sự vật hiện tượng
có đặc điểm chung nào đó. Loại hình học là khoa học nghiên cứu về loại hình


6

nhằm giúp cho việc phân tích, phân loại những hiện tượng phức tạp. Chỉ có thể
nói tới loại hình khi các hiện tượng ấy có chung một cộng đồng giá trị, tức giá
trị chung có ý nghĩa.
Nghiên cứu văn học loại hình có từ lâu trong lịch sử: Pi-ta-go chia khoa
học thành bốn ngành Số học, Hình học, Âm nhạc và Thiên văn; Ari-xtốt chia
văn học thành ba loại Tự sự, Trữ tình và Kịch. Đến thế kỷ XX loại hình học
mới trở thành khoa học tự giác. Công trình đầu tiên là Hình thái học cổ tích của
Propp, ông nhận thấy nhiều nhân vật có chức năng hành động như nhau nên
ông coi đó là yếu tố cùng loại hình. Ông đã lấy tiêu chuẩn chức năng để xây
dựng khoa học loại hình học. Về sau có Khrap-chen-co. Ở Việt Nam nghiên
cứu loại hình nghệ thuật thơ ca có các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, Nguyễn
Đăng Điệp...
Phương pháp loại hình (nghiên cứu loại hình) thường được sử dụng trong
những trường hợp như phân loại các hiện tượng văn học trên cơ sở giữa chúng
có hiện tượng tương đồng; từ những đặc điểm chung giữa một loạt hiện tượng
có thể nói tới sự xuất hiện của một hiện tượng văn học nào đó; phân kỳ văn học
trên cơ sở sự xuất hiện các khuynh hướng văn học.
- Vận dụng trong luận văn: phương pháp loại hình được sử dụng để cắt
nghĩa, lí giải các hiện tượng văn học có sự tương đồng, ở đây là sự tương đồng
giữa thơ Đường và Thơ mới.
4.2.2.Phương pháp hệ thống
- Giới thuyết về phương pháp: là phương pháp sắp xếp tri thức khoa học
thành hệ thống trên cơ sở một mô hình lí thuyết làm cho sự hiểu biết của ta về
đối tượng được đầy đủ và sâu sắc hơn.Hệ thống là phương pháp tuân theo quan
điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu khoa học. Những thông tin đa dạng từ
các nguồn, các tài liệu khác nhau nhờ phương pháp hệ thống mà ta có được một


7

chỉnh thể với một kết cấu chặt chẽ để từ đó mà ta xây dựng một lý thuyết mới
hoàn chỉnh.
- Vận dụng trong luận văn: Phương pháp hệ thống được sử dụng để nhìn
thấy mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống thể loại, từ đó, nhìn thấy rõ
hơn sự biến đổi trong cấu trúc thể loại.
4.2.3.Tiếp cận văn hóa học
- Giới thuyết về phương pháp: làchọn góc độ văn hóa để quan sát và giải
thích các hiện tượng văn học. Nguồn gốc của phương pháp này là đi tìm ảnh
hưởng không chỉ của văn hóa đương thời đối với văn học, mà còn truy tìm đến
các truyền thống văn hóa xa xưa của cộng đồng, thấy được quan hệ trực tiếp
giữa văn hóa với văn học hay giữa văn học với kinh tế-xã hội là những mối
quan hệ không loại trừ lẫn nhau.
Cách tiếp cân văn hóa học cung cấp thêm một con đường mới để đến
với văn học. Đây là con đường đặc sắc nhưng cũng rất phức tạp, bởi lẽ văn hóa
là nơi hội tụ của mọi ý tưởng sáng tạo của con người. Việc lựa chọn yếu tố văn
hóa nào để lí giải cho văn học là một việc làm không dễ dàng. Điều quan trọng
là phải lí giải được động cơ mục đích cuối cùng của sự lựa chọn các mô típ văn
hóa của văn học. Nghiên cức văn học dựa trên góc độ văn hóa cũng là cơ hội
chúng ta tiếp xúc, tìm hiểu diện mạo đa dạng và phong phú của văn hóa.
- Vận dụng trong luận văn: hướng tiếp cận này cho phép luận văn nhìn
thấy ảnh hưởng giữa thơ Đường đến Thơ mới như là sản phẩm của quá trình
giao lưu, ảnh hưởng, tiếp thu và tiếp biến văn hóa.

4.2.4.Phương pháp so sánh:
- Giới thuyết về phương pháp: là so sánh các hiện tượng văn học với nhau,
bất kể chúng thuộc các nền văn học khác nhau hay thuộc cùng một nền văn


8

học. So sánh là để xác định sự vật về mặt định tính, định lượng hay hoặc ngôi
thứ trong mối tương quan với các sự vật khác. Phương pháp so sánh giúp chúng
ta hiểu rõ bản chất và vị trí của một hiện tượng văn học trong các mối tương
quan đa chiều của nó, đồng thời giúp ta nhìn nhận hiện tượng văn học một cách
toàn diện hơn và tăng thêm tính sinh động, hấp dẫn của đối tượng nghiên cứu.
Về phương pháp nghiên cứu văn học so sánh, trên thế giới, trường phái Âu –
Mĩ chia thành phương pháp“nghiên cứu ảnh hưởng” và “nghiên cứu song
song”;ở XôViết là “so sánh lịch sử” và “so sánh loại hình”.
- Vận dụng trong luận văn:Luận văn sẽ vận dụng so sánh thơ Đường –
Thơ mới như những hiện tượng có giao lưu ảnh hưởng, mặt khác, so sánh theo
phương thức: so sánh đối chiếu theo lịch đại giữa hai thời đại thơ ca; so sánh
đối chiếu đồng đại trên cùng một phương diện nhưng các nhà Thơ mới đã vận
dụng khác nhau như thế nào.
4.2.5.Tiếp cận thi pháp học
- Giới thuyết về phương pháp: là phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, phê
bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, để
tìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm như ý nghĩa mỹ học,
triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học. Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các
hình thức nghệ thuật bao gồm kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian,
không gian, cú pháp...yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể, ở đó các yếu tố
ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống, để biểu đạt ý tưởng,
tình cảm, tư duy, nhân sinh quan...,tức là cái đẹp của thế giới, con người.
- Vận dụng trong luận văn: tiếp cận thi pháp học trước hết là nghiên cứu
các phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó mới
tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm. Thi pháp học giúp ta công
cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy của tác giả cũng như


9

nắm bắt mã văn hóa nghệ thuật của các tác giả và các thời kỳ văn học nghệ
thuật, từ đó nâng cao năng lực thụ cảm tác phẩm.
5. Phạm vi nghiên cứu
Dấu ấn, ảnh hưởng của thơ Đường tới quan niệm về thế giới và con người
của Huy Cận, Vũ Hoàng Chương trong thơ; dấu ấn trong thi liệu, thi ảnh, giọng
điệu,ngôn ngữ và thể loại.
6. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Ảnh hưởng của thơ Đường đến Thơ mới từ góc nhìn của văn
học so sánh
Chương 2: Các phương diện ảnh hưởng thơ Đường trong thơ Huy Cận và
thơ Vũ Hoàng Chương
Chương 3: Thơ Đường ảnh hưởng đến phương thức biểu hiện của các tập
thơ “Lửa thiêng”, “Thơ Say”và “Mây”
7. Đóng góp của luận văn
- Tìm ra sự học tập, kế thừa những tinh hoa Đường thi của Thơ mới nói
chung và hai thi nhân Huy Cận, Vũ Hoàng Chương nói riêng.
- Trên cơ sở đó thấy được sự sáng tạo và những cống hiến của thi nhân
đối với phong trào Thơ mới và đối với văn học Việt Nam.


10

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNGĐẾN THƠ MỚI
TỪ GÓC NHÌN CỦA VĂN HỌC SO SÁNH
1.1. Ảnh hưởng giao thoa văn hoá từ góc nhìn văn học so sánh
Văn học so sánh là “một ngành của nghiên cứu văn học chuyên khảo sát
những quan hệ có tính quốc tế của văn học, những tương đồng và khác biệt
giữa các hiện tượng văn học ở các nước khác nhau. Tính tương đồng có thể do
những tương đồng trong sự phát triển xã hội và văn hóa của các dân tộc, nhưng
cũng có thể do sự tiếp xúc về văn hóa, văn học giữa các dân tộc”[ 10, tr.179].
Do vậy người ta phân biệt những tương đồng loại hình của quá trình văn học
và những liên hệ và ảnh hưởng của văn học. Hai phương diện nghiên cứu này
tuy có tương tác nhưng không lẫn lộn. Tiền đề của nghiên cứu so sánh là tính
thống nhất của nhân loại trong sự phát triển về mặt xã hội – lịch sử. Do có sự
giống nhau về các quan hệ xã hội ở các dân tộc khác nhau nên trong sự phát
triển của các nền văn học khác nhau ở cùng một thời đại lịch sử có thể quan sát
thấy những tương đồng loại hình – lịch sử. Đối tượng của nghiên cứu so sánh
có thể là những tác phẩm, thể loại, phong cách và khuynh hướng nhất định hoặc
sáng tác của những nhà văn nhất định.
Con đường phát triển của văn học giống nhau ở các dân tộc khác nhau
thường đan chéo với những tiếp xúc và ảnh hưởng quốc tế. Tuy vậy chỉ có thể
có sự ảnh hưởng nếu có nhu cầu nội tại cho một sự nhập cảng về văn hóa, tức
là có những xu thế phát triển tương tự ở xã hội ấy, văn học ấy. Mọi ảnh hưởng
của văn học đều gắn với việc làm biến đổi ít nhiều những hình mẫu vay mượn,
tức là gắn với việc sáng tạo lại cho phù hợp với trình độ,truyền thống dân tộc,
với đặc sắc tư tưởng nghệ thuật của cá tính sáng tạo ở nhà văn. Mối liên hệ và


11

quan hệ quốc tế giữa các nền văn học và các nhà văn các nước khác nhau là
một phạm trù lịch sử, ở những điều kiện lịch sử khác nhau chúng cũng có hình
thức và mức độ khác nhau. Từ thế kỷ XX chúng đã trở nên năng động và trở
thành một yếu tố thường xuyên trong đời sống văn học ở hầu hết các nước trên
thế giới.
Khi bàn đến cụm từ ảnh hưởng trong giao lưu văn hoá, người ta phân biệt
thành hai loại. Có loại ảnh hưởng tức thời chỉ thông qua một thời gian ngắn nhất
định. Có loại ảnh hưởng sâu sắc, trở thành một nếp sống hoặc nếp nghĩ của con
người. Loại ảnh hưởng thứ hai này có thể nói đã được bộ lọc của bản sắc văn hoá
dân tộc thông qua và chấp nhận, thông qua sự sáng tạo và cách tân đã trở thành
một nét truyền thống, thành sự phát triển tất yếu của văn hoá dân tộc. Nó còn được
gọi là hoạt động tiếp biến văn hoá. Tiếp nhận nhưng có biến đổi và phát triển. Như
vậy, ta có thể khẳng định, ảnh hưởng của thơ Đường đến Thơ mới là loại ảnh
hưởng sâu sắc, thơ Đường đã trở thành máu thịt trong nguồn gốc sáng tạo văn
chương Việt Nam qua hàng nghìn năm. Và càng ngày, nó càng trở nên tinh vi hơn
trong cảm xúc cũng như trong thể hiện.
Cũng cần bàn đến các cách khác nhau trong tiếp thu, ảnh hưởng. Ở đây ta
xác định hai cách cơ bản đó là thông qua quan hệ tiếp nhận và quan hệ đồng loại
hình. Cá nhà Thơ mới trong khi sáng tạo thực sự là có ý thức trong việc kế thừa
sâu sắc Đường thi, chủ trương vận dụng hình ảnh ngôn ngữ, thi pháp của Đường
thi trong thơ mình. Đó là sự tiếp nhận chủ động nhằm bồi đắp kinh nghiệm và khả
năng sáng tác. Nhưng bên cạnh đó cũng phải xét đến sự gặp gỡ giữa thơ Đường
và Thơ mới, phải chăng cũng là sự gặp gỡ đồng loại hình, đó là quan hệ tự sinh có
gặp gỡ. Tức là cũng có khi, nó không phải là sự mượn dùng mà chỉ là những tương
quan đồng dạng, vô tình gặp gỡ nhau.
Vì thế, khi cắt nghĩa hiện tượng ảnh hưởng thơ Đường đối với Thơ mới
cần cắt nghĩa bằng sự tất nhiên và cả sự ngẫu nhiên. Hơn nữa chuyện văn


12

chương có liên quan đến chuyện tâm hồn. Thơ là loại hình dễ gây xúc động
nhất, tạo sự thông cảm kéo con người đến gần nhau nhất.
Nói đến nguồn ảnh hưởng trực tiếp là nói đến tính tích cực chủ động, tính
có ý thức của người tiếp nhận. Một nền văn chương đóng kín sẽ không bao giờ
phát triển được dù nội lục có mạnh đến đâu. Người nghệ sĩ hơn ai hết phải hiểu
thấu được điều đó để không bị cô lập và tự giết chết mình, phải biết học hỏi và
kế thừa. Viên Mai- nhà lý luận thơ cổ Trung Hoa đã quan niệm tài thơ là sự kết
hợp của tiên thiên và hậu thiên, ông xem trọng năng khiếu nhưng cũng nhấn
mạnh học tập: thơ văn toạ ý dùng bút cũng như tóc da cười nói của người đẹp
là những cái tiên thiên, thơ văn đặt câu dùng điển như quần áo trang sức của
người đẹp là những cái hậu thiên. Như vậy tiên thiên thuộc về năng khiếu còn
hậu thiên là do học tập mà thành nhưng cũng là hệ quả tất yếu của một nền văn
học rực rỡ và phát triển như văn học đời Đường.
Ảnh hưởng gián tiếp, Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường một
phần do hoàn cảnh lịch sử xã hội chi phối,do nhu cầu tiếp nhận giao lưu văn
học, chủ yếu qua nền văn học truyền thống của dân tộc, đặc biệt là văn học
trung đại. Văn học trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường. Thơ Đường
có mặt rất sớm ở Việt Nam, từ thế kỷ X thơ Đường đã được truyền bá và có
nhiều bậc thức giả am hiểu và sáng tác. Mỗi nhà thơ trung đại Việt Nam đều ít
nhiều chịu ảnh hưởng của thơ Đường. Thơ Đường đi vào thơ trung đại Việt
Nam khá sâu sắc và nhuần nhuyễn, kết họp với hồn riêng dân tộc để tạo nên
những kiệt tác văn học bất hủ. Nắm được điều đó chủ trương học tập các nhà
thơ cổ điển những thi nhân trong phong trào Thơ mới đã tiếp thu mạnh mẽ văn
học truyền thống cũng là hấp thụ được âm hưởng Đường thi tuy đã bị khúc xạ
nhưng vẫn còn sâu sắc.
Ảnh hưởng văn học là mối quan hệ tác động qua lại giữa các nhà văn, các
tác phẩm và các nền văn học. Ảnh hưởng văn học chỉ xảy ra trong điều kiện có


13

tiếp nhận và sáng tạo và chủ yếu thể hiện trong phương diện sáng tạo, làm ra
tác phẩm mới, là cái tác động đem lại sự phong phú hay biến đổi về quan điểm
thẩm mỹ hay các tư duy nghệ thuật mà truyền thống văn học dân tộc của nhà
văn không có, hoặc sự phát triển tự nhiên của tài năng nhà văn không dẫn đến.
Ảnh hưởng văn học là một quá trình, có thể tác động tới các khâu khác nhau
trong quá trình ảnh hưởng như gợi ý, thúc đẩy, làm cho giống nhau, tiêu hóa
biến dạng, thay đổi biểu hiện nghệ thuật. Có ảnh hưởng diễn ra toàn diện, có
ảnh hưởng giới hạn trong từng khâu. Ảnh hưởng văn học có thể xảy ra trên
những quy mô, trong những phạm vi khác nhau. Một giai đoạn hoặc một thời
đại văn học có thể ảnh hưởng tới sáng tác của nhà văn thuộc nhiều giai đoạn,
nhiều thời đại khác. Có ảnh hưởng văn học thuần túy mang tính chất cá nhân
như ảnh hưởng qua lại giữa nhà văn này với nhà văn khác. Có ảnh hưởng văn
học giới hạn trong nội bộ văn học của một dân tộc. Có ảnh hưởng văn học mở
rộng trên phạm vi một vùng, một khu vực văn học của nhiều dân tộc có quan
hệ gần gũi với nhau. Ảnh hưởng văn học lớn nhất mang quy mô toàn thế giới.
Giao lưu văn hóa và sự tương đồng lịch sử là những nhân tố quan trọng bậc
nhất tạo ra những ảnh hưởng qua lại giữa các khu vực, các nền văn học của
nhiều dân tộc khác nhau trong tiến trình chung của văn học nhân loại.
Một trong những thành quả của thế giới hiện đại, của nền văn minh công
nghiệp, là cái tôi cá nhân mà sự ra đời của nó gắn liền với các đô thị công
thương nghiệp. Ở Việt Nam, vào những năm đầu thế kỷ, những đợt khai thác
thuộc địa ồ ạt của người Pháp đã đân dần tạo nên những đô thị kiểu mới. Mặc
dù sự xen ghép của các thành phần kinh tế công nghiệp và tiền công nghiệp thể
hiện tính chất thực dân, nhưng các thành phố, nhất là những thành phố nhượng
địa như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn, đã sinh ra một tầng lớp dân cư
mới, với lối cảm, lối nghĩ và lối sống chẳng những khác với người tiểu nông
mà khác cả với gã thị dân cổ truyền. Sau đó, do nhu cầu cần người làm trong


14

bộ máy hành chính, các hãng, công ty,…người Pháp đã mở ra hệ thống tiểu học
Pháp – Việt trên toàn cõi Việt Nam. Bởi vậy, vào những năm hai mươi, tầng
lớp trí thức “Tây học bản địa” ra đời. Khác với lớp con quan được đi dào tạo ở
“mẫu quốc” để trở thành những “ông Tây An Nam” và lớp học sinh tiểu học
Pháp – Việt khóa đầu được đào tạo vội vàng để ra làm việc, tầng lớp trí thức
Tây học bản địa vừa đông về số lượng vừa cao về chất lượng. Họ lớn lên trong
không khí dân tộc, dân chủ của phong trào đòi ân xá Phan Bội Châu, đám tang
Phan Châu Trinh…Ý thức dân tộc thức tỉnh. Đồng thời, họ đủ điều kiện bỏ qua
thứ “văn hóa thuộc địa”để tiếp thu tinh hoa của văn hóa Pháp. Chính họ là chủ
dân của nền văn hóa mới, văn hóa đô thị, dựa trên tinh thần khoa học thực
nghiệm. Chữ quốc ngữ ra đời góp phần thúc đẩy các phương thức truyền bá
văn hóa như báo chí, nhà xuất bản. Văn học lần đầu tiên được coi như một loại
hình nghệ thuật ngôn từ . Các thể loại văn chương mới như: kịch nói, tiểu
thuyết, phóng sự, thơ mới ra đời …Cái tôi cá nhân với tư cách vừa là sản phẩm,
vừa là chủ thể của nền văn hóa mới xuất hiện. Một mặt, nó tiếp nối cái tôi tập
đoàn của xã hội cổ truyền đã phát triển qua các hình thái như cái tôi làng xã,
cái tôi vô ngã Lý- Trần, cái tôi quân tử và nhất là cái tôi tài tử. Nhân cách và cá
tính cao của con người tài tử là yếu tố nội sinh cần thiết để cái tôi cá nhân ra
đời khi gặp điều kiện thuận lợi từ bên ngoài đưa vào. Mặt khác cái tôi cá nhân
này là sự khác biệt về chất ra đời trên cơ sở một xã hội đang có biến động về
cấu trúc. “Như vậy, cái tôi cá nhân (1932- 1945) không phải là một kẻ vong
bản, một thứ hàng nghập ngoại, mà là sự phát triển tương ứng, tuy lệch pha
thời gian với hình thái phổ quát của loài người đã ra đời ở phương Tây trước
đó” [27, tr.14]
Tuy nhiên, ra đời trong điều kiện không bình thường của lịch sử, cái tôi
thị dân Việt Nam giai đoạn này mang trên mình nó dấu ấn riêng và nhanh chóng
phân hóa. Một bộ phận ưu tú của tầng lớp này vì quyền lợi dân tộc đã làm cuộc


15

khởi nghĩa Yên Bái, “sát thân thành nhân”. Bộ phận khác đi vào con đường
cách mạng vô sản. Ở đây, vì sự nghiệp lớn, họ khẳng định bản ngã của mình
bằng sự phủ định nó. Cái tôi của họ vì thế, hồi quang những hình thái cổ truyền.
Số đông còn lại đi tìm cuộc sống bình thường trong cái không bình thường của
dân tộc. Họ có điều kiện để phát triển và khám phá cái tôi của mình. Những
người có tài năng và tâm huyết đến với văn chương nghệ thuật để nói lên tiếng
nói mới, để được bộc lộ mình như một giá trị riêng và bằng cách đó, đóng góp
vào văn hóa dân tộc, dấy lên một cuộc cách mạng văn chương.
Cuộc cách mạng đó, trước hết, ở cái nhìn thế giới. Mỗi nền hoặc thời đại
văn hóa tạo ra một vùng khí hậu riêng mà bất kỳ ai sống trong đó đều nhiễm
lâu dần đọng lắng lại thành tâm thế ngụ ở cả hai cõi, hữu thức và vô thức. Chính
tâm thế này quyết định cái nhìn thế giới của mỗi loại hình cá nhân đó là những
quan niệm về con người, quan niệm về thời gian, quan niệm về không gian…,
những viên gạch phạm trù xây nên bức tranh thế giới. Cái nhìn thế giới của cá
nhân cá thể trong nền văn hóa đô thị khác với cái nhìn của cá nhân tập đoàn
trong xã hội nông nghiệp cổ truyền. Do vậy, bức tranh thế giới của họ, không
chỉ khác về chất liệu,vật liệu, mà quan trọng hơn ở cái cảm xúc, ở cái đầu duy
lý và bàn tay đo đạc, tính đếm kiểu phương Tây. Nếu thiên nhiên trong tranh
cổ truyền không phải là thiên nhiên thực mà nặng về tượng trưng ước lệ, ngay
trong cả những bài thơ nhằm tả cảnh, vịnh vật, thì thiên nhiên trong con mắt đô
thị là khách quan. Người xưa coi mình chỉ là một bộ phận của thế giới, một tiểu
vũ trụ nên dùng thiên nhiên như một tấm gương để soi ngắm mình và chiêm
nghiệm các định luật vũ trụ. Với người thị dân, thiên nhiên đã trở thành một
đối tượng phải chinh phục. Bởi vậy, người ta mới đo đạc và tính toán. Đồng
thời, với vẻ đẹp của nó, thiên nhiên cũng trở thành một đối tượng hưởng thụ.
Nó được xúc cảm, được mô tả một cách sống động, chân thực và cụ thể.


16

Đời sống đô thị giải phóng con người trước hết ở không gian. Đầu tiên là
không gian địa lí, sau đó là không gian xã hội và cuối cùng là không gian tinh
thần. Con người làng xã bị cột chặt vào mảnh đất họ sinh sống : “Núi cao chi
lắm núi ơi!Núi che mặt trời chẳng thấy người thương”, hoặc “ Yêu nhau tam tứ
núi cũng trèo, Thất bát sông cũng lội, ngũ lục đèo cũng qua”. Bởi vậy, mọi sự
đi lại buôn bán, đi lính hay ra sống ở kẻ chợ đều làm con người mất đi sự thuần
nhất của thôn quê. Loại như Chí Phèo, đúng như Bá Kiến nhận xét, mười thằng
thì có đến chín thằng đi xa về. Người thiếu nữ “chân quê” của Nguyễn Bính chỉ
ra tỉnh có một hôm mà đã bay đi chút “hương đồng gió nội”…Những người
định cư hẳn ở thành phố cởi bỏ được ràng buộc của các cộng đồng làng xóm
cũ: họ đã vượt không gian xã hội cổ truyền. Sự phân công lao động, khoa học
thực chứng đã dẫn đến sự định lượng hóa không gian. Xưa kia, những cảm xúc
không gian bao giờ cũng nhuốm màu tôn giáo và triết học. Không gian là một
khối thiêng liêng không thuần nhất, cái trung tâm và có ngoại vi. Trong cái nhìn
đô thị, tính không thuần nhất và toàn khối của nó bị biến mất. Đúng hơn nó đã
vỡ vụn ra thành những không gian nhỏ, trần thế như những con đường, bến đò,
khúc sông, quán trọ,… cho vừa tâm sự của những cá nhân.
Thời gian trong xã hội cổ truyền là thời gian vũ trụ được ngắt theo nhịp
điệu của mùa màng, như một cuốn lịch thiên nhiên: “Tháng giêng là tháng ăn
chơi,Tháng hai trồng đậu trồng khoai trồng cà…”thời gian sản xuất và nghỉ
ngơi để hội hè đình đám cứ xen kẽ và quay vòng hàng năm khiến con người có
cảm giác là con người sống ngoài thời gian. Trong quan niệm bác học chỉ có
một thứ thời gian tuần hoàn theo nhịp điệu vĩnh hằng của vũ trụ. Mọi vật dường
như chỉ tồn tại trong không gian. Vì thế người ta không hề lo lắng đến quỹ thời
gian cá nhân. Mọi người nhìn thời gian trôi một cách bình thản: “Nhất nhật
thanh nhàn, nhất nhật tiên”.


17

Con người của xã hội thị dân không còn sống theo nhịp điệu muôn thuở
của mùa màng, thời tiết nữa, họ tuân theo nhịp điệu của công việc của sự thành
đạt của cá nhân trong cuộc sống. Thời gian đối với họ dường như trôi chảy
nhanh hơn. Cảm giác thời gian, nhất là thời gian lịch sử được mài sắc và chuốt
nhọn hơn. Ý niệm về phát triển theo thời gian dần dần được hình thành. Trước
đây, tuổi đời được coi là tuổi tự nhiên. Con người cứ lần lượt trải qua các giai
đoạn ấu thơ, hoa niên, thanh niên, trung niên, già...một cách tự nhiên. Còn đô
thị người ta trở thành người như thế nào là do sự cố gắng của chính nó trong
thời gian. Thời gian là của cải, là công danh, là sự nghiệp. Bởi vậy, người ta có
nhu cầu đo đếm thời gian một cách chính xác. Đồng hồ cơ khí thay thế cho
đồng hồ thiên nhiên: Sen tàn, cúc lại nở hoa…; Thời gian đã trở nên khoa học
và khách quan.
Những quan niệm của con người về thế giới phản ánh quan niệm về chính
nó về bản thân mình. Thiên nhiên, không gian, thời gian thay đổi làm đổi thay
chính con người. Ở thời Phục hưng, khhi con người cắt đứt với các ràng buộc
cộng đồng nông nghiệp xác định mình như là chủ thể của hành vi và ý chí của
mình thì tương quan giữa nó và thế giới cũng thay đổi. Nếu cá nhân tập đoàn
khẳng định bản ngã thông qua các quan hệ xã hội thì cá nhân cá thể khẳng định
cái tôi bất chấp các quan hệ xã hội. Nó cảm thấy mình là trung tâm. Toàn thế
giới xoay quanh nó. Điều này phản ánh rất rõ trong nghệ thuật Phục hưng ở
Châu Âu, thời của những người khổng lồ. Ngược lại các họa sĩ đời Tống coi vũ
trụ như một chuỗi xích, con người chỉ là một mắt. Trong tranh Tống, con người
không xuất hiện ở vị trí trung tâm. Trong khoảng núi non trùng điệp nó hiện
diện khiêm nhường lặng lẽ như một chiếc cầu tre, một cọng cỏ …Các họa sĩ
Phục hưng bao giờ cũng đặt con người vào vị trí trung tâm theo một điểm nhìn
cố định : thiên nhiên chỉ tô điểm cho con người. Cái nhìn này cũng bộc lộ rõ
trong văn chương đô thị, đặc biệt ở thơ Xuân Diệu, Đinh Hùng,…Nếu trong


18

thơ cổ điển và dân gian, người ta thường lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn
mực cho vẻ đẹp của con người (“mặt hoa da phấn”; “Những người thắt đáy
lưng ong- Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”) thì ngược lại Xuân Diệu lấy
con người làm mẫu mực cho thiên nhiên (“Lá liễu dài như một nét mi”, “Mây
đa tình như thi sĩ thời xưa”, “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần…”), còn
Đinh Hùng thì lấy thân xác mình ra mà cảm nhận thiên nhiên (“Thời gian qua
trên một nét mi dài, Núi mùa thu buồn gợn sóng đôi vai”), hoặc lấy mình ra
làm trung tâm mà vạn vật thời gian phụ thuộc vào nó (“ Chúng ta đến, mùa
xuân thay sắc diện, Chúng ta đi mùa hạ vụt phai nhòa, Gương mặt mùa thu phút
chốc phôi pha, Ta dừng gót chợt mùa đông tàn phế…”). Lấy con người làm
thước đo là một nguyên tắc mĩ học mới là một cái nhìn nhân văn, một cách tân
nghệ thuật độc đáo của văn hóa đô thị.
Sự đảo lộn địa vị của con người trong giới tự nhiên đã mang lại cho nó
nhiều giải phóng. Trước hết là giải phóng thể xác, giải phóng giác quan. Những
quan niệm miệt thị thể xác và những gì cùng đi với nó được phá bỏ. Các giác
quan thoát khỏi sự kìm hãm của những định kiến được tự do chứng nghiệm.
Văn chương đô thị tràn ngập ngững cảm giác tươi mới, ban sơ. Tuy nhiên điều
có ý nghĩa nhất trong sự giải phóng con người là quyền tự do lựa chọn. Chính
sự lựa chọn tự do là một tiêu chí quan trọng để con người trở thành một cá
nhân đích thực. Nhân vật sử thi không hề lựa chọn những hành động anh hùng
mà nó thực hiện là siêu cá nhân. Con người chịu sự sai khiến của số phận, sự
đỏng đảnh của thần linh, hay các quy tắc về danh dự của tập thể. Bi kịch đặt
con người trước sự lựa chọn nhưng đó là sự lựa chọn giữa hai trật tự sự vật siêu
cá nhân.
Ngay khi ra đời con người thị dân Việt Nam đã phải đứng trước sự lựa
chọn tất yếu : tình yêu và hôn nhân. Là những thanh niên Tây học, họ yêu theo
tiếng g đang ở trong thời ấy mã vẫn có những hoài niệm da diết. Tuổi
học sinh chưa xa nhưng qua cách nhìn của nhà thơ nó như là thời nào xa lắm,
chỉ còn là hoài niệm:
Gió thổi sân trường chiều chủ nhật
Ôi thời thơ bé tuổi mười lăm
(Học sinh)
Giờ nao nức của một thời trẻ dại


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×