Tải bản đầy đủ

sang kien kinh nghiem hoc tot tap lam van 7

I. Đặt vấn đề:
1. Lí do chọn đề tài:
1.1. Lí do khách quan:
Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con
người. Bộ môn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tầm quan
trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng thời cũng là môn
học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác. Học tốt
môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp
phần học tốt môn văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn
học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống .
Tập làm văn là một phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp giữa:
Tiếng việt với Văn học của chương trình Ngữ văn. Khi làm một bài tập làm
văn, học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức tiếng Việt để viết đúng
chính tả, dùng từ chính xác, đặt câu đúng ngữ pháp phù hợp với phong
cách văn bản và diễn đạt mạch lạc nhằm đạt được yêu cầu của đề bài.
Ngoài những kiến thức và kĩ năng ngữ văn, khi làm bài tập làm văn, học
sinh còn phải huy động năng lực quan sát, trí nhớ, vốn sống và khả năng tư
duy của mình để nội dung bài làm có được những nét tinh tế, những vẻ sinh
động và một phong cách riêng. Tập làm văn giúp học sinh có năng lực sử dụng
tiếng Việt để học tập, giao tiếp; trau dồi những ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong
công việc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài làm.

Mỗi bài tập làm văn có thể coi là một “tác phẩm nhỏ” của học sinh. Tác
phẩm ấy phản ánh khá rõ ràng nhận thức tình cảm của học sinh đối với vấn
đề văn học và cuộc sống. Nó cũng phản ánh khá rõ năng lực và tư duy, trình
độ ngôn ngữ và một phần cá tính của học sinh.
Là một giáo viên dạy văn, tôi thực sự không yên tâm trước nhiều cách
nghĩ và cách cảm nhận của học sinh qua bài viết của mình. Có những em
bê nguyên si bài văn hay, có những em lắp ghép từ những mảnh vụn mà
các em đã nhặt nhạnh được để tạo một bài văn thiếu logic. Nguyên nhân từ
1


đâu? Hiện nay có khá nhiều sách tham khảo, những bài văn hay, những
bài văn mẫu tràn ngập trên thị trường. Dường như ở mỗi em học sinh ít
nhất cũng có được vài quyển sách làm “bảo bối” cho riêng mình. Và khi đề
tập làm văn cô giáo ra trùng với những bài văn mẫu, thì các em cũng chẳng
ngần ngại gì mà không chép. Để giáo viên khó phát giác việc sao chép, các
em đã trích góp nhặt từ nhiều bài văn mẫu thế là không khéo lại “lấy râu
ông nọ cắm cằm bà kia”. Mỗi giáo viên chúng ta phải làm gì để khắc phục
tình trạng đó. Bằng cách là việc dạy của người thầy phải làm sao tiếp cho
“ngọn lửa” bùng cháy lên niềm khát vọng chiếm lĩnh kiến thức, phải kiến
tạo cho học trò một “con đường” để các em tự học. Giáo viên cần có trách
nhiệm rèn cho các em có thói quen vận động trí óc khi gặp một vấn đề cần
tư duy, rèn cho học sinh ý có được những kĩ năng, kĩ xảo khi làm bài cũng
như ý thức học tập với môn này. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Kinh
nghiệm giúp học sinh học tốt môn Tập làm văn 7” từ đó viết tốt các bài
làm văn của mình. Và tôi muốn giúp các em phát huy năng lực sáng tạo của
mình và tự tin làm bài bằng khả năng của chính mình.
1.2 . Lý do chủ quan:
Người giáo viên bao giờ cũng muốn học trò của mình học tốt môn Tập làm văn để làm
được những bài văn hay nhưng đó không phải là một việc dễ. Bài văn hay trước hết phải là viết
đúng (đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường). Hay và đúng có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Bài văn hay trước hết phải viết theo đúng yêu cầu của đề bài, đúng
những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách …
Xác định đúng yêu cầu của đề bài là rất cần thiết, bước này giúp học sinh thể hiện đúng
chủ đề của bài văn, tránh lạc đề hay lệch đề. Xác định đúng yêu cầu của đề cũng giúp người
viết lập được một dàn ý tốt và do đó cũng tránh được sự dài dòng, lan man “dây cà ra dây
muống”, “ trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” tạo được sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của
bài viết. Bên cạnh đó việc viết đúng kiến thức cơ bản cũng vô cùng quan trọng, kiến thức cơ
bản là “bột”, “có bột mới gột nên hồ”.
2




Hỡnh thc trỡnh by l s th hin hỡnh thc b cc ca bi vn trờn trang giy. Mt bi
vn ỳng quy cỏch l bi vn m khi nhỡn vo t giy, cha cn c ó thy rừ ba phn: m
bi, thõn bi v kt bi. Mun th ngi vit khụng ch phi chỳ ý n ni dung m hỡnh thc
cng phi rừ rng.
Trong thc t dy hc tụi thy bi vn ca hc sinh mỡnh cha ỏp ng c nhng
yờu cu ca bi. Bi vn ca cỏc em vn cũn hin tng lc , lch , sai , do cỏc em
khụng chỳ ý n vic tỡm hiu , khụng c k . on vn trong bi thng sai quy
cỏch,cha cú cõu ch cha bit cỏch trỡnh by on vn. Bờn cnh ú l vic gia cỏc on
vn cha cú s liờn kt,thiu lo gic.
Do ú, tụi thy cn phi tỡm tũi, nghiờn cu tỡm ra gii phỏp giỳp hc sinh hc tt
Tp lm vn lm c nhng vn hay. Chớnh vỡ vaọy, toõi ủaừ choùn ti:
Kinh nghim giỳp hc sinh hc tt mụn Tp lm vn 7.
2. C s lớ lun v thc tin:
2.1 C s lớ lun:
Mụn Ng vn 7 trong chng trỡnh THCS núi riờng v trong nh trng núi chung cú
nhim v cung cp cho hc sinh bn k nng ú l: nghe - núi - c - vit. Trong ú, phõn
mụn Tp lm vn l phõn mụn cú tớnh cht tớch hp cỏc phõn mụn khỏc. Qua tit Tp lm vn,
hc sinh cú kh nng xõy dng mt vn bn, ú l bi núi, bi vit. Núi v vit l nhng hỡnh
thc giao tip rt quan trng, thụng qua ú con ngi thc hin quỏ trỡnh t duy - chim lnh
tri thc, trao i t tng, tỡnh cm, quan im, giỳp mi ngi hiu nhau, cựng hp tỏc trong
cuc sng lao ng. Ngụn ng (di dng núi - ngụn bn, v di dng vit - vn bn) gi vai
trũ quan trng trong s tn ti v phỏt trin xó hi. Chớnh vỡ vy, hng dn cho hc sinh núi
ỳng v vit ỳng l ht sc cn thit. Nhim v nng n ú ph thuc phn ln vo vic ging
dy mụn Ng vn núi chung v phõn mụn Tp lm vn núi riờng. Vn t ra l: ngi giỏo
viờn dy tp lm vn nh th no hc sinh hc tt v vit tt bi vn ca mỡnh? Cỏch thc
t chc, tin hnh tit dy Tp lm vn ra sao t hiu qu nh mong mun?
Qua thc t ging dy tụi nhn thy phõn mụn Tp lm vn l phõn mụn khụng d trong
cỏc mụn ca Ng vn. C th tng Phm Vn ng trong cunDy vn l mt quỏ trỡnh rốn
luyn ton din ( Nghiờn cu giỏo dc, s 28 ,11/1973) ó tng núi : Dy lm vn l ch
3


yếu là dạy cho học sinh diễn tả cài gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành,
sáng tỏ chính xác, làm nỗi bật điều mình muốn nói”. Có như thế mới đem đến cho người học
cái thú phát hiện cũngnhư làm giàu thêm cho tâm hồn người học.
Do đặc trưng phân mơn Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho
học sinh khả năng trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể
chuyện, biểu cảm, nghị luận, ... Trong q trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học
sinh với vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói, ngại viết.
2.2 Cơ sở thực tiễn:
Qua thực tế bài làm của học sinh tơi thấy chất lượng bài viết của học sinh chưa cao,
một số em có chịu khó tìm tòi, suy nghĩ, chọn lọc để viết ra những câu văn nhưng chưa có
nhiều sáng tạo. Còn lại phần lớn bài làm của các em có bố cục chưa cân đối, mang tính liệt kê
các chi tiết, bộ phận một cách đơn giản. Trình tự chưa hợp lí, chọn lọc chi tiết chưa tiêu biểu,
đặc sắc, thiếu từngữ , học sinh thiếu sự tưởng tượng, ít cảm xúc về đối tượng, cách diễn
đạtchưa mạch lạc. Đa số học sinh còn lạm dụng q nhiều vào bài văn mẫu, đặcbiệt là học sinh
hiểu nhưng lại khơng diễn đạt được. Nhiều học sinh khi làm bài văn cảm thấy khó, thấy bí,
thấy khơng biết viết gì, nói gì, một số em thường ngại làm văn hoặc chỉ làm cho xong mà
khơng cần biết bài viết của mình đúng hay sai, thiếu hay đủ.
Khi dạy một bài Tập làm văn, giáo viên hay gặp khó khăn là học sinh thụ động, ít phát
biểu, có chăng cũng chỉ là những học sinh khá giỏi là hoạt độnghoặc các em chỉ trả lời câu hỏi
mà khơng có sự liên kết thành đoạn, diễn đạt lủng củng, ý tưởng nghèo nàn… Nói đã khó, viết
càng khó hơn. Do đó, sau một thời gian giảng dạy, tơi suy nghĩ nên làm cách nào để giúp các
em chú ý, u thích khi học mơn này. Chính vì vậy nên tơi chọn đề tài: “Kinh nghiệm
giúp học sinh học tốt mơn Tập làm văn 7”.
3. Mục đích chọn đề tài:
- Giúp học sinh nắm được lí thuyết, từ đó học các em có thể vận dụng một cách phù hợp để
làm bài đạt kết quả tốt nhất và hào hứng khi học bộ môn Ngữ văn nhất
Tập làm văn.
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân mơn Tập làm văn.
4


4. Lịch sử đề tài:
Từ trước đến nay có rất nhiều cơng trình, tài liệu nghiên cứu để giúp học sinh học tốt các
phân mơn của Ngữ Văn như học tốt Văn, Tiếng việt, hay Tập làm văn ở tất cả các khối lớp.
Tơi chọn đề tài: “Kinh nghiệm giúp học sinh học tốt mơn Tập làm
văn 7”. u cầu đặt ra là giáo viên phải hiểu thực sự trình độ người học: Em nào loại giỏi,
loại khá, loại trung bình, loại yếu về làm văn của lớp mình. Điều đó làm cơ sở, làm điểm xuất
phát cho bài soạn, cho lượng kiến thức và phương pháp dạy mỗi bài.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp khảo sát :
Khảo sát thực trạng dạy học.
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Đọc nghiên cứu sách giáo khoa và một vài tài liệu, khái qt hình thành một số nhận định
và luận điểm chung.
5.3 Phương pháp thực nghiệm:
Hướng dẫn, thực nghiệm với đối tượng học sinh: 7A 6 ; 7A 7; 7A8; 7A9 tại trường THCS
TT Tầm Vu.
6. Phạm vi đề tài:
- Thời gian: Từ tháng 9/2017 đến tháng 5/2018.
- Địa điểm: Trường THCS TT Tầm Vu.
- Đối tượng: Học sinh 4 lớp: 7A 6, 7A 7, 7A 8, 7A9 trong năm học: 2017- 2018.
II. Nội dung cơng việc:
1. Thực trạng đối tượng:
Một số học sinh có tâm lí chán học, lười học, không có thói
quen đọc sách văn học, kể cả những văn bản trong sách giáo
khoa, chứ chưa nói đến việc soạn bài, chuẩn bò bài trước khi
đến lớp. Hiện nay, sách những bài văn mẫu tràn ngập thò
trường khiến cho các em không cần phải động não nhưng vẫn
có thể viết bài một cách tương đối. Lâu dần khả năng cảm
5


thụ và sáng tạo bò thui chột, khiến một số em hoàn toàn bò phụ
thuộc, thành thử không có văn mẫu không làm được bài.
Có lẽ ngồi ngun nhân khách quan từ xã hội một số nhu cầu giải trí như :
xem ti vi, chơi game ngày càng nhiều khiến cho một số em chưa
có ý thức học bò lôi cuốn, thành ra sao nhãng việc học. Thì một
phần cũng do làm văn khó, lại mất nhiều thời gian, “cơng thức” làm văn cho các em lại khơng
hình thành cụ thể. Kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh 4 lớp: 7A 6, 7A 7, 7A 8, 7A9 trong
năm học: 2017- 2018 còn nhiều hạn chế.
1.1. Kết quả khảo sát:
Theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học
bằng phiếu lấy ý kiến:
Học phân môn Tập làm văn:

Thích:

1

Không

thích: 1
Năng lực học Tập làm văn của em ở mức nào?
Giỏi: 1
Khá:1
TB:1
Yếu: 1
Làm bài Tập làm văn:
Khó: 1
Dễ:
1
Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số 174 phiếu điều
tra, trong đó có đến 2/3 ý kiến các em không thích môn Tập
làm văn, các em cho đây là môn học khó và học chưa tốt môn
này.
*Kết quả xếp loại trước khi làm thực nghiệm:
Lớp

Sĩ số

Giỏi
SL

7A6 42
7A7 44
7A8 44
7A9 44

6
7
10
11

TL (%)
14.3
15.9
22.7
25

Trung

Khá
SL
12
16
11
12

1.3 Ngun nhân có những hạn chế:
6

TL
(%)
28.6
36.4
25
27.3

bình
SL
TL
17
15
18
16

(%)
40.5
34.1
40.9
36.3

Yếu
SL

TL

7
6
5

(%)
16.6
13.6
11.4
11.4

5


Hc vn ũi hi vit nhiu (c nhiu) nhng hc sinh nờn vn t li vn din t cha
trong sỏng, cha mch lc, cũn mc cỏc li ng phỏp thụng thng nờn khi vit cng thờm
phn khú khn.
Thờm vo ú, nhiu hc sinh cha chỳ ý n vic hc, ý thc cha cao, v nh khụng
lm bi nờn khi lm bi thng vng v, lỳng tỳng khi vit vn.
lm tt mt bi Tp lm vn cn thc hin cỏc bc nh Tỡm hiu , tỡm ý, lp dn
ý, vit bi, c li v sa cha. Nhng nhiu em sau khi c l tin hnh lm bi luụn
khụng suy ngh xỏc nh , tỡm ý lp dn ýnờn bi vn lng cng, s si, thiu ý
Trong quỏ trỡnh dy v chm bi ca cỏc em tụi thy cỏc em cũn yu v cỏc bc sau:
- Cha tỡm hiu k, cha xỏc nh c ch ,dn ti cỏc em lm sai , sa ,
lc ..
- Cỏc cõu trong on, cỏc on vn trong bi vn thiu s liờn kt. Sp xp ln xn,
cha theo trỡnh t hp lý.
2. Ni dung cn gii quyt:
Trong mc tiờu dy hc mụn Ng vn THCS, v k nng, chng trỡnh mụn Ng vn nhn
mnh trng tõm ca vic rốn luyn k nng Ng vn cho hc sinh l lm cho hc sinh cú k nng
nghe, núi, c, vit ting Vit thnh tho.
C th tng Phm Vn ng tng ỏnh giỏ rt cao la tui hc sinh trong nh trng
nh sau: La tui t 7 n 17 l rt nhy cm, thụng minh l lựng lm. ỳng nh vy cỏc
em khụng phi khụng cú kh nng cm nhn v biu hin t nhng cm nhn y m l do cỏc
em cha bit cỏch. L giỏo viờn dy vn tụi thit ngh mỡnh cú nhim v giỳp hc sinh th hin
s nhy cm, thụng minh y. T thc t ging dy, tụi mnh dn a ra ti: Kinh
nghim giỳp hc sinh hc tt mụn Tp lm vn 7.

3/ Bieọn phaựp giaỷi quyeỏt :
7


Để hoàn thành những đònh hướng đã đặt ra, dựa trên thực
tế đã đã làm, tôi xin trình bày những biện pháp chính đã áp
dụng như sau: trong số 9 tiết học văn biểu cảm ở lớp 7 – học kì I ; 16 tiết văn nghị
luận học kì II cung cấp kiến thức khái qt về văn nghị luận, những
phép lập luận cơ bản là chứng minh và giải thích.
a. Tạo hứng thú để cho học sinh u thích văn chương:
Để học sinh u thích mơn mình dạy - có u thích thì các em mới học - mỗi giáo viên có
những cách riêng: một trong những cách được nhiều giáo viên áp dụng là quan tâm đến học
sinh; đặc biệt chú ý đến những học sinh yếu nhưng cũng khơng nên tạo áp lực nhiều q khiến
các em sợ. Khen thưởng kịp thời khi học sinh học yếu có cố gắng. Khen thưởng bằng nhiều
hình thức: tặng q, cộngđiểm khuyến khích… Còn có giáo viên hướng các em tới thế giới mà
các tác phẩm văn chương đã tạo ra. Học sinh thường rất thích thú khi giáo viên kể truyện hoặc
bình những câu văn, câu thơ hay. Đặc biệt, giáo viên phải hết sức nhiệt tình truyền đạt cho các
em cái hay cái đẹp của văn chương.
b. Rèn chính tả và chữ viết cho học sinh:
Nhiều học sinh nói như thế nào thì viết như vậy. Vì thế, là một giáo viên dạy văn thì cần
chú ý rèn cách phát âm cho học sinh khi các em nói, đọc chưa chuẩn. Những lớp tơi dạy ở
trường THCS TT Tầm Vu, tơi ln tập trung vào uốn nắn học sinh mắc những lỗi về phát âm
như:
Chưa chuẩn: “ x” và “s”; “v” và “d”; “t” và “c”
Giáo viên rèn cho học sinh các phân biệt phụ âm đầu, các âm đệm, âm chính, âm cuối.
Luyện phát âm:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm đúng cho học sinh
để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm - âm thế
nào, chữ ghi lại thế ấy.
Ghi nhớ mẹo chính tả, giải nghĩa từ. Trong Hán Việt các từ có âm: M, NH, N, V, L, D,
NG, thì viết bằng dấu ngã. Để dễ nhớ có thể đọc thuộc lòng câu: mình (m) nhớ (nh) nên (n)
viết (v) là (l) dấu (d) ngã (ng).
VD:

-M: Mĩ mãn, mãng xà, miễn dịch, mã lực, kiểu mẫu, mãn khóa,…
8


-NH: Nhũng nhiễu, nhã nhặn, nhẫn nại, nhiễm độc, nhãn hiệu,…
-N: trung não, trí não, nam nữ, nỗ lực,…
-V: vũ lực, vãng lai, vãn cảnh, vĩ tuyến, hùng vĩ, vũ đạo,…
-L: Phụ lão, kết liễu, lữ khách, lẫm liệt, lãng phí, lễ độ,…
-D: Dã man, dũng cảm, dưỡng sinh, dĩ nhiên, diễm lệ, diễn viên,…
-NG: ngỡ ngàng, ngỗ ngược, ngũ ngôn, ngã ngửa....
Giáo viên phải đặc biệt chú ý rèn chữ cho học sinh. Yêu cầu những em chữ xấu, viết ẩu
phải có vở tập viết. Giáo viên thường xuyên giao bài và kiểm tra. Khen thưởng kịp thời những
em có tiến bộ.
c. Rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh:
Đây là một kĩ năng khó đòi hỏi người dạy và người học phải kiên trì. Giáo viên sửa cách
dùng từ cho học sinh khi ở trên lớp trả lời bài và sửa trong bài làm văn của học sinh. Khi chấm
bài làm văn của các em, giáo viên đánh dấu những lỗi dùng từ. Sau đó yêu cầu học sinh sửa lại
trong vở sửa lỗi. Có thể đưa ra những tình huống để học sinh tìm từ phù hợp. Các em cũng có
thể học cách dùng từ của những bạn học tốt.
d. Rèn cách viết câu cho học sinh:
Đây là công việc của người thầy. Học sinh ngày nay chịu ảnh hưởng rất nhiều từ xã hội.
Các em thường nói những câu cụt ý, thiếu chủ ngữ hay vị ngữ. Và điều này cũng được thể hiện
trong các bài văn. Giáo viên phải kiên trì uốn nắn cho học sinh khi các em trả lời bài và sửa
trên bài kiểm tra, sau đó yêu cầu các em viết lại. Khi chấm bài, giáo viên cần chỉ ra những lối
viết câu mà học sinh mắc phải và yêu cầu học sinh sửa. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh viết
câu theo suy nghĩ ra giấy, sau đó sửa lại.
e. Rèn cách viết đoạn văn:
Cho học sinh ghi nhớ về nội dung và hình thức của đoạn văn. Luôn nhắc các em thuộc
trước khi làm bài.
9


Về nội dung: đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó về logic ngữ
nghĩa. Mỗi đoạn văn diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở
chung là chủ đề của văn bản.
Về hình thức: đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh, mỗi đoạn văn gồm nhiều câu tạo thành,
bắt đầu bằng chữ cái đầu đoạn được viết hoa và lùi vào đầu dòng so với các chữ khác trong
đoạn. Các câu văn có sử dụng phép liên kết.
Sau mỗi tiết học về phần Tập làm văn, giáo viên ra đề và phân công cho mỗi tổ thực hiện
các yêu cầu như: viết đoạn mở bài, viết đoạn thân bài hay kết bài. Ở các tiết học tiếp theo giáo
viên cho các tổ trình bày, các tổ khác thay nhau nhận xét và bổ sung. Như thế các em được
khắc sâu về kỹ năng viết đoạn và cách diễn đạt.
f. Rèn bố cục một bài văn
Sau khi đã cung cấp kiến thức về bố cục bài văn cho học sinh, giáo viên cần kiểm tra
thường xuyên và yêu cầu các em thực hành. Đối với học sinh khối 6, giáo viên cần yêu cầu các
em phải viết đúng: mở bài, các ý phần thân bài và kết bài. Còn học sinh khối 7 và lớp 8 thì
giáo viên yêu cầu các em khi viết bài các em cần triển khai đủ ba phần. Khi viết đặc biệt giáo
viên để ý cách mở bài, việc triển khai ý phần thân bài và phần kết bài.
h. Chấm và trả bài cho học sinh
Chấm và trả bài kịp thời tạo sự tin tưởng cho học sinh. Các em luôn có tâm trạng hồi hộp,
chờ đợi xem bài của mình làm đúng-sai chỗ nào? Được bao nhiêu điểm? Và thầy, cô giáo phê
gì? .... Vì thế khi chấm và trả bài giáo viên cần lưu ý:
- Trong quá trình chấm bài, cách đánh giá của giáo viên qua lời phê rất quan trọng. Lời
phê sẽ khuyến khích tinh thần, tạo sự hưng phấn yêu thích học tập của học sinh.
- Chấm bài nhất thiết phải có nhận xét, nhưng tránh nhận xét chung chung chỉ bằng một
vài từ ngữ: “được”, “chưa được”, “bài yếu”, “bài viết sơ sài”, “không hiểu đề”, “xa đề”, “lạc
đề”…

10


- Lời nhận xét của giáo viên thể hiện trên hai phương diện: Đạt yêu cầu và chưa đạt về nội
dung lẫn hình thức. Qua lời phê, học sinh sẽ nhận thấy khiếm khuyết của bản thân để khắc
phục, phát huy những mặt đạt được.
- Muốn có lời nhận xét đúng đắn với từng bài viết, đòi hỏi giáo viên phải thực hiện nghiêm
túc, có trách nhiệm cao trong việc chấm bài. Bởi chấm bài là một khâu rất quan trọng trong
chu trình chấm - trả bài tác động mạnh mẽ, tích cực đến quá trình dạy và học bộ môn.
* Những yêu cầu của một bài văn đúng và hay:
a. Trước khi làm bài học sinh phải xác định được phần tìm hiểu đề:
Xác định trọng tâm nội dung của đề.
- Xác định các phương thức biểu đạt và nghệ thuật: tự sự, miêu tả, nghị luận; phân tích, so
sánh, ví von, liên tưởng, lập luận chứng minh, giải thích…
Xác định phạm vi đối tượng, tư liệu.
b. Lập dàn ý:
Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được tính hệ thống của bài
văn, tính cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi ý, từ đó phân bố thời gian
hợp lí. Lập dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ biết lựa chọn đúng cách
diễn đạt, cách trình bày bài viết.
Dàn ý gồm cấu trúc 3 phần:[Mở bài (hay còn gọi là Đặt vấn đề), Thân bài (hay còn gọi
là Giải quyết vấn đề), Kết bài (hay còn gọi là Kết thúc vấn đề)].
*Mở bài: Đây là bước đầu tiên có vai trò rất quan trọng đối với một bài văn. Mở bài
đúng và hay sẽ khai thông được mạch văn cho toàn bài. Ở phần mở bài người viết cần giới
thiệu khái quát đối tượng (vấn đề) sẽ viết, nó sẽ dược làm sáng tỏ trong phần thân bài. Để có
được mở bài hay, người viết cần cần nêu trọng tâm và phạm vi đối tượng (vấn đề) sẽ tự sự (kể,
tả, nhận xét, đánh giá), bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ.
*Thân bài: Có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề mà mở bài đã nêu. Thân bài gồm nhiều đoạn.
Giữa các đoạn có câu hoặc từ chuyển tiếp.
11


*Kết bài: Là phần kết thúc bài viết.Vì vậy, nó tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã đặt ra ở mở
bài và giải quyết ở thân bài. Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ “gói lại” mà còn phải
khơi gợi suy nghĩ trong người đọc.
* Lưu ý:
+ Để không lặp lại, thiếu ý cần viết dàn bài định hướng nội dung, xác định cách lam tùy vào
kiểu bài ( thuyết minh , tự sự , miêu tả … )
+ Dàn bài có luận điểm, luận cứ và tập trung và tập trung vào trọng tâm vấn đề, tránh lạc đề.
c. Viết bài văn:
Dựa vào dàn bài viết bài và huy động vốn kiến thức đã học ở nhiều khía cạnh và vận
dụng một cách sáng tạo vào bài tập làm văn để không lập khuôn.
d. Sau khi viết xong bài tập làm văn, kiểm tra bài viết để phát hiện chữa kịp thời .
Để viết bài tốt em cần chú ý các điểm sau:
Tập làm quen với thói quen đọc sách mỗi ngày, mỗi ngày vài trang sách sẽ giúp bạn học hỏi
thêm những cách hay, những ý tưởng hay, sáng tạo của các nhà văn nhằm trau dồi vốn từ vựng,
vốn hiểu biết của mình ( tuyệt đối không đạo văn hay copy bài đã có tác giả ).
*. Đối với bài văn nghị luận cần lưu ý:
- Trình bày dẫn chứng:
+Yêu cầu: khi sử dụng dẫn chứng phải nắm chắc nguyên tắc: lập luận bao giờ cũng quyết
định dẫn chứng; dẫn chứng phải vừa đủ, không thừa, không thiếu, không quá dài, phải cân đối.
+ Phương pháp lựa chọn dẫn chứng: dẫn chứng phải phù hợp với lời văn, song song với
hệ thống ý.
+ Phạm vi dẫn chứng: trong tác phẩm văn học hoặc từ đời sống xã hội.
+ Cách sử dụng dẫn chứng:
Cách 1:Đưa dẫn chứng thành câu văn riêng biệt và trích xuống dòng, thường được dùng cho
những câu thơ, câu văn hay.
Cách 2: Dùng một số chữ đặt ẩn trong câu văn:
Cách 3:Tóm tắt dẫn chứng thành lời văn của mình, thường dùng cho văn xuôi và văn tự sự.
- Cách chuyển ý trong bài làm văn:
+ Nhiệm vụ
Đảm bảo bài văn có sự liên tục, chuyển ý phát triển tự nhiên.
Xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa các ý tạo nên bài văn.
12


+ Cách chuyển ý
Cách 1: Chuyển ý bằng cách dùng các kết từ.
Cách 2: Chuyển ý bằng câu.
Nên chuyển ý linh hoạt để tạo sự hấp dẫn cho bài viết.
-Cách hành văn trong bài làm văn
+ Khái niệm: Hành văn là cách diễn đạt ý (ý lớn, ý nhỏ), những cảm xúc, suy nghĩ thành
lời văn của người viết.
+ Cách hành văn
Chuẩn xác: u cầu này được hiểu là phản ánh đúng tính chất, ý nghĩa của đối tượng nghị
luận.
Truyền cảm: Để có tính truyền cảm câu văn có tính chất triết lí tạo nên tính suy ngẫm và
tính tư tưởng sâu sắc trong bài. Người viết phải tạo ra những câu văn giàu hình ảnh; giàu cảm
xúc; có giọng điệu, nhịp điệu…
* Các em cần thấy được thái độ học tập tích cực, đặt mục tiêu
vào vấn đề học tập, nhận rõ tầm quan trọng của việc tự học,
sự kiên nhẫn, tự tin vào sự thành công.
*u cầu :
A. NHẬN DIỆN ĐỀ:
Trước khi làm bất cứ một bài văn nghò luận nào, điều
đầu tiên hết sức quan trọng đối với người viết là việc nhận
diện đề. Bởi mỗi đề văn nghò luận thường có những đặc
điểm riêng về mặt nội dung và hình thức, không đề nào hoàn
toàn giống đề nào. Vì vậy trong quá trình làm bài văn nghò
luận, việc tìm hiểu đề để nắm vững yêu cầu của đề về cả
hai phương diện: cách thức nghò luận và nội dung nghò luận là
công việc quan trọng có ý nghóa quyết đònh trước tiên đối với
sự thành bại của mỗi bài văn. Tìm hiểu kó đề tránh được tình
trạng lạc đề, xa đề, thừa ý, thiếu ý… trong bài làm. Vì thế
nhận diện đề là khâu hết sức quan trọng trong quy trình làm
văn. Nếu nhận diện sai, bài làm sẽ sai. Đối với học sinh những
lỗi sai về nhận diện đề thường là:
13


- Lạc đề: Là xác đònh sai nội dung, phương pháp, giới
hạn…
- Lệch đề: Là chưa xác đònh được đâu là nội dung
chính, lẽ ra nội dung chính cần phải làm nhiều thì lại nói qua loa,
đại khái, phần phụ trở thành phần chính, thao tác chính lại trở
thành thao tác phụ, cuối cùng viết không đúng trọng tâm…
- Lậu đề: Là còn viết thiếu ý, bỏ sót ý hoặc thiếu
một yêu cầu nào đó của đề.
Khi hướng dẫn học sinh cách làm các bài văn nghò luận
cụ thể, giáo viên cần dạy tốt phần tìm hiểu đề. Giúp các em
hiểu tìm hiểu đề là tìm hiểu về nội dung, thể loại, giới hạn của
đề, … Nói một cách khác giáo viên cần giúp cho học sinh xác
đònh được: vấn đề nghò luận, và những yêu cầu cụ thể mà
người soạn đề đòi hỏi người viết phải giải quyết khi bàn luận
vấn đề đó.
Trước hết, giáo viên hướng dẫn các em tìm hiểu cặn kẽ
ý nghóa của từng từ ngữ quan trọng, vai trò của các vế, các
câu, phân tích quan hệ ngữ pháp và quan hệ logic – ngữ nghóa
của chúng – tức là phải khám phá cho được những điều còn
ẩn kín trong các bộ phận của đề bài: từ nghóa đen đến nghóa
bóng, từ nghóa trực tiếp đến nghóa sâu sa, nghóa trong văn cảnh
và các sắc thái tinh vi phong phú của chúng.
Thông thường khi hướng dẫn học sinh nhận diện đề, tôi
thường đònh hướng cho học sinh trả lời các câu hỏi dưới đây:
- Viết điều gì ? Tức là cần xác đònh được nội dung bài
viết, được vấn đề nghò luận. Yêu cầu về nội dung thường khó
phát hiện hơn cả và là yêu cầu quan trọng nhất. Song song với
đó cần phải xác đònh: phạm vi nghò luận, mức độ nghò luận…
( để tránh dàn trải, làm mờ nhạt nội dung chính)
14


- Viết cho ai ? Tức là phải xác đònh được đối tượng nghò
luận (thầøy cô, bè bạn, hay tất cả mọi người). Việc xác đònh
đúng đối tượng nghò luận và hiểu biết sâu sắc về đối tượng
đó luôn tạo hiệu quả cho bài nghò luận.
- Viết như thế nào ? Tức là cần phải xác đònh được
phương pháp nghò luận, chủ yếu là tìm hiểu xem đề thuộc kiểu
nào? (giải thích, chứng minh), để tránh tình trạng đề yêu cầu
một đằng thì viết một nẻo. Bên cạnh đó, cũng cần xác đònh
xem bài sẽ phải viết theo hướng nào, cần phải có những luận
điểm nào, hệ thống luận cứ và dẫn chứng ra sao?
- Viết để làm gì? Đây là câu hỏi nhằm xác đònh mục đích
viết. Trên cơ sở đó, các em sẽ đưa ra những luận điểm, và lựa
chọn dẫn chứng sao cho phù hợp với mục đích của mình.
B. XÂY DỰNG CÁCH LẬP LUẬN CHO BÀI VĂN:
Lập luận chính là trình bày hệ thống lí lẽ và dẫn chứng của
mình một cách chặt chẽ, rành mạch theo một trình tự hợp lí đúng
với quy luật logic nhằm khẳng đònh hay bênh vực một ý kiến,
làm sáng tỏ một vấn đề. Vì vậy khi dạy cho học sinh cách làm
bài văn nghò luận người giáo viên cần cho học sinh hiểu rõ và
biết cách xây dựng lập luận.
1. Xây dựng luận cứ:
Luận cứ là các lí lẽ và dẫn chứng để chứng minh cho
kết luận. Khi xây dựng một lập luận, điều quan trọng là phải tìm
được các luận cứ có tính thuyết phục cao. Vì vậy, tôi thường
hướng dẫn học sinh tìm luận cứ bằng cách đưa ra các lí lẽ và
đưa ra các dẫn chứng như sau:
a. Sử dụng dẫn chứng từ thực tế:

15


Dẫn chứng từ thực tế có thể là người thật, việc thật,
diễn ra trong cuộc sống hiện tại, trong lòch sử, cũng có thể là
những câu thơ, các sự kiện rút ra từ tác phẩm văn học. Những
dẫn chứng từ thực tế có

tác động trực tiếp vào giác quan

người đọc, cách dẫn chứng này đơn giản, không cần tra cứu
nhiều, điều này rất thích hợp với khả năng nghò luận của đại
bộ phận học sinh lớp 7 nhất là đối tượng học sinh từ yếu đến
khá. Tuy nhiên để luận cứ có tính thuyết phục cao, tôi thường
lưu ý với các em khi lấy dẫn chứng từ thực tế thì cần phải
chọn những dẫn chứng tiêu biểu, đúng bản chất của đối
tượng, phù hợp với kết luận cần hướng tới. Những dẫn chứng
này phải được nhiều người biết và phải có ý nghóa. Đặc biệt
trong bài văn nghò luận xã hội, dẫn chứng từ thực tế thường
được sử dụng nhiều và đóng vai trò hết sức quan trọng.
Với đề: Suy nghó về đạo lí “ Uống nước nhớ nguồn”
Tôi cũng đã gợi ý để học sinh lấy dẫn chứng từ thực
tế, văn học như sau:
Triết lí sống “Uống nước nhớ nguồn” đã hóa thân thành
những tập tục đẹp đẽ của người Việt Nam. Biết ơn

các vua

Hùng dựng nước, dân ta có ngày giỗ tổ Hùng Vương. Biết ơn
các thương binh, liệt só đã đổ xương máu để giữ hòa bình,
chúng ta có ngày 27 – 7. Triết lí sống “Uống nước nhớ nguồn”
đã trở thành bản lónh sống, là một nét nhân cách đẹp đẽ.
Trong thực tế, không phải không có những kẻ vô ơn,
thậm chí quay lưng phản bội lại những người có công lao với
mình. Đó là những kẻ ích kỉ, giả dối như nhân vật Lí Thông
trong truyện cổ tích Thạch Sanh. Những kẻ vô ơn ấy bò xã hội

16


khinh ghét và sớm muộn cũng phải trả giá cho sự vô ơn của
mình.
b. Sử dụng các con số thống kê:
Con số thống kê chính là dẫn chứng thực tế được nâng
lên mức độ khái quát, tổng hợp thành số liệu cụ thể nên
chúng có giá trò thuyết phục cao về mặt lí trí. Đây là kiểu dẫn
chứng khá thích hợp cho dạng văn nghò luận về một sự việc,
hiện tượng đời sống.
Chẳng hạn: Để chứng minh thuốc lá ảnh hưởng sức khỏe
và đời sống con người, tôi đưa ra những số liệu thống kê để
các em tham khảo như sau:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thế kỉ 20, đã có
khoảng 100 triệu người trên thế giới chết do thuốc lá. WHO
cũng dự báo, theo đà sử dụng thuốc lá như hiện nay, thì sau
năm 2020, mỗi người tử vong do nghiện thuốc lá trên toàn cầu
sẽ có khoảng 8 triệu người, trong đó 70% thuộc các nước đang
phát triển…
c. Sử dụng các phương tiện lập luận:
Trong lập luận, một mặt luận cứ, kết luận phải được
trình bày rõ ràng, tách bạch nhau, nhưng mặt khác, chúng phải
được liên kết với nhau một cách chặt chẽ để tạo nên một
chỉnh thể. Vì vậy, các phương tiện liên kết lập luận giữ một
vai trò hết sức quan trọng. Các phương tiện liên kết trong văn
bản nghò luận thường là các từ ngữ hoặc cũng có thể là các
câu văn có tác dụng liên kết.
Đối với học sinh lớp 7, hầu hết bài viết của các em
phần lớn còn rời rạc, chưa có một sự liên kết chặt chẽ, sự kết
dính thật sư,ï bởi các em chưa biết cách sử dụng các phương tiện
lập luận. Để giúp các em viết văn nghò luận tốt hơn, GV cần
17


thiết cung cấp cho các em những phương tiện liên kết cơ bản để
giúp cho các em viết bài tốt hơn cụ thể như sau:
Về mặt nội dung, các phương tiện liên kết được sử
dụng để chỉ các mối quan hệ sau đây giữa các luận
cứ:
- Ý nghóa trình tự: trước tiên, trước hết, sau đó, tiếp
theo, một là, hai là, ba là, …
- Ý nghóa tương đồng: ngoài ra, bên cạnh đó, vả lại, hơn
nữa, một mặt, mặt khác, …
- Ý nghóa tương phản (đối lập) : nhưng, song, tuy vậy, tuy
nhiên, ngược lại, thế mà, có điều, …
- Ý nghóa nhân quả: bởi vậy, vì vậy, như vậy, do đó, …
 Về mặt chức năng, các phương tiện liên kết có thể
đảm nhiệm các chức năng sau:
- Dẫn nhập luận cứ: vì, bởi vì, do vì, …
- Dẫn nhập kết luận: nên, cho nên, vì vậy, do đó, do
vậy, …
- Nối kết giữa các luận cứ: ngoài ra, bên cạnh đó, vả
lại, nhưng, hơn thế nữa, thêm vào đó, …
2. Một số cách lập luận cơ bản:
a. Lập luận suy lí (suy luận).
b. Lập luận diễn dòch.
c. Lập luận quy nạp.
d. Lập luận Tổng – Phân – Hợp.
e. Lập luận so sánh.
Kó năng trình bày luận chứng:
Tính thuyết phục của lập luận còn phụ thuộc vào các
luận chứng, tức là vận dụng các suy luận logic để đưa ra các lí
lẽ, các bằng chứng cần thiết nhằm chứng minh cho kết luận
được nêu ra. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng một số
cách trình bày luận chứng sau:
a. Cần nêu luận chứng một cách toàn diện:
18


Một vấn đề, một sự kiện, một hiện tượng thường bao
gồm nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, nhiếu mức độ… cho
nên luận chứng đưa ra phải nhiều mặt, nhiều khía cạnh, bao quát
được toàn bộ vấn đề. Nếu không vấn đề được trình bày sẽ
mắc thiếu sót, phiến diện; luận cứ, luận điểm sẽ khó đứng
vững vì thiếu căn cứ đầy đủ.
Khi một luận điểm đưa ra liên quan đến nhiều mặt, nhiều
vấn đề thì phải huy động nhiều luận chứng thuộc nhiều bình
diện, nhiều phạm vi, nhiều lónh vực, đặc biệt là trong văn chứng
minh. Không bỏ sót những luận chứng cần thiết, nhất là
những luận chứng có giá trò, nhiều ý nghóa.
b. Chọn lọc và sắp xếp luận chứng:
Trong những dẫn chứng phong phú thuộc nhiều phạm vi,
nhiều lónh vực, có những dẫn chứng cùng một ý nghóa, có giá
trò tương đương nhau, phải chọn lọc để có những dẫn chứng tiêu
biểu, có ý nghóa mang tính khái quát, đại diện, tránh tình trạng
dẫn chứng tràn lan (dù đó là dẫn chứng hay). Bởi vì nếu
không biết chọn lọc dẫn chứng rất dễ rơi vào tình trạng lan man,
khiến cho bài viết bò loãng, thiếu sức thuyết phục, phản tác
dụng.
Khi nêu luận chứng để chứng minh cho luận điểm cũng
cần chú ý đến sự hài hòa, cân đối trong toàn bộ bài văn,
tránh chất dồn vào phần này để phần khác sơ sài, nghèo
nàn, thiếu hụt. Cũng nên tránh những dẫn chứng quá quen
thuộc, sáo mòn, ít mang lại hiệu quả.
Luận chứng cần có tính hệ thống (tức là nó phải được
sắp xếp theo một trình tự hợp lí, chặt chẽ). Tùy theo những mục
19


tiêu cần chứng minh, giải thích, phân tích,… để có thể sắp xếp
các luận chứng theo trình tự thích hợp.
C. NGÔN NGỮ TRONG VĂN NGHỊ LUẬN:
Văn nghò luận đòi hỏi việc sử dụng từ ngữ phải chính
xác, khoa học. Vì vậy ngôn ngữ trong văn nghò luận có những
đặc điểm sau đây:
1. Về cách dùng từ ngữ:
Văn nghò luận vừa mang tính chất trừu tượng, lại vừa mang
tính cụ thể, gợi cảm. Đểø bài văn giàu hình tượng, có sức
thuyết phục, hấp dẫn người đọc, thì ngôn ngữ trước hết phải
mang tính toàn dân.
Trong văn nghò luận, câu văn thường có tính cân đối và
sử dụng nhiều điệp từ, điệp ngữ, câu hỏi…, khi đọc lên phải
có ngữ điệu trang trọng, thiết tha, hấp dẫn. Phép điệp từ, điệp
ngữ thường được dùng phối hợp với phép lặp cấu trúc cú
pháp và phép đối, vừa có tác dụng nhấn mạnh, tô đậm, gây
cảm giác tăng tiến, vừa tạo được nhòp điệu và âm hưởng cho
câu văn, tạo sự trang trọng, đónh đạc hoặc thiết tha hùng hồn.
Ngoài ra, khi viết văn nghò luận cũng cần chú ý vận
dụng các biện pháp tu từ từ vựng, dùng từ, đặt câu có hình
ảnh, có ngữ điệu, gợi cảm để bài viết có sức truyền cảm,
lôi cuốn, hấp dẫn và thuyết phục người đọc.
2. Về cách dùng câu:
Câu văn trong văn nghò luận trước hết phải có cấu
trúc cú pháp chuẩn. Câu thường có đủ thành phần, quan hệ
giữa các vế rành mạch. Văn nghò luận hầu như không sử dụng
câu đặc biệt. Văn nghò luận thường sử dụng câu ghép với
những cặp liên từ hô ứng và phụ thuộc.
Ví dụ: tuy nhiên … nhưng, vì … cho, nếu … thì, …
3. Về đoạn văn nghò luận:
20


Mỗi một luận điểm trong bài văn nghò luận thường được
trình bày thành một đoạn văn. Mỗi đoạn văn nghò luận thường
gồm có nhiều câu, các câu có sự liên kết chặt chẽ với nhau
cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều cách để trình bày nội
dung trong một đoạn văn tương ứng với các kiểu lập luận đã
nêu ở trên như: diễn dòch, quy nạp, móc xích, tổng –phân – hợp,
… nhưng thông thường nhất vẫn là đoạn văn tổng – phân – hợp.
Tóm lại ngôn ngữ trong văn nghò luận cần rõ ràng, chính
xác trong cách dùng từ, đặt câu. Nó phải là ngôn ngữ vừa
trừu tượng trí tuệ, khái quát vừa cụ thể trong sáng gợi cảm để
thuyết phục, kích thích người đọc, người nghe. Song ngôn ngữ trong
văn nghò luận cần được hấp dẫn, lôi cuốn bằng những từ ngữ
có tính hình tượng và sức biểu cảm bằng sự biến đổi linh hoạt
của cách diễn đạt.
Những luận điểm, và lựa chọn dẫn chứng sao cho phù hợp với
mục đích của mình.
Sau khi các em biết làm một bài nghị luận chung, giáo viên giúp các em phân biệt hai dạng:
- Lập luận chứng minh.
- Lập luận giải thích.
* So sánh hai kiểu lập luận trên:
+ Giống nhau:
- Đều là văn nghị luận.
- Dùng lí lẽ và dẫn chứng để trình bày ý kiến, tư tưởng nhằm thuyết phục người đọc, người
nghe.
+ Khác nhau:
Chứng minh

Giải thích

Dùng những lí lẽ, dẫn chứng Bằng cách nêu khái niệm các từ khó, kể các biểu
chân thật để chứng tỏ luận hiện, so sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác,
điểm mới.
Dẫn chứng là chủ yếu.

chỉ ra mặt lợi, mặt hại, nêu ngun nhân, hậu quả,
cách đề phòng hoặc noi theo.
Lí lẽ là chủ yếu.
21


Giáo viên ra một đề nhưng hướng dẫn học sinh làm theo hai cách lập luận trên.
Ví dụ: “ Ăn quả nhớ kẻ trông cây”
Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành tìm ý theo phương pháp chứng minh như sau:
Giáo viên có thể nêu ra một số câu hỏi như sau nhằm hướng học sinh tìm đến nội dung bài:
* Mở bài: Xác định luận điểm chính: lòng biết ơn những người đã tạo ra thành quả cho ta
hưởng thụ.
* Thân bài : Nêu lí lẽ và dẫn chứng để chứng minh luận điểm trên là đúng.
- Con cháu kính yêu và biết ơn ông bà, tổ tiên .
- Các lễ hội văn hoá...
- Truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên.
- Tôn sùng và nhớ ơn các anh huìng liệt sĩ.
- Toàn dân biết ơn Đảng và Bác Hồ.
- Học trò biết ơn thầy cô giáo.
- Dẫn chứng : Muốn sang thì bắc cầu Kiều...
Không thầy đố mày làm nên...
+ Học trò Chu Văn An dám lấy cái chết để cứu nước và trả ơn thầy (truyện đầm mực)
+ Rất nhiều học sinh của thầy Nguyễn Tất Thành ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) theo
gương thầy đi làm Cách mạng.
*Kết bài : Nêu ý nghĩa của luận điểm đã được chứng minh. Cảm nghĩ của em..
Cũng với đề tài này, giáo viên giúp các em tìm ý cho bài văn nghị luận giải thích như sau:
* Mở bài: Giới thiệu điều cần giải thích và gợi ra phương hướng giải thích.
* Thân bài Triển khai việc giải thích
- Nghĩa đen: + Ăn quả là gì ?
+ Nhớ là gì ?
+ Kẻ trồng cây là gì ?
+ Mối quan hệ gữa quả và kẻ trồng cây.
+ Lời khuyên với người ăn hay người trồng ?
- Nghĩa bóng : + ở nghĩa đen, câu tục ngữ nói một vấn đề rất dễ nhận thức trong thực tế
cuộc sống. Nói vậy để làm gì ? Có ý nghĩa thực tế như thế nào ?
- Có thể lập luận một sốm luận điểm :
+Lòng biết ơn là gì ?
+ Tại sao khi hưởng thành quả người khác ta phải biết ơn ? .../.
*. Kết bài : Nêu ý nghĩa của điều được giải thích đối với mọi người.
Như vậy chỉ cần một đề bài, giáo viên có thể khắc sâu cho học sinh về kiến thức văn nghị
luận chứng minh và giải thích khác và giống nhau như thế nào?
Đối với bài này, không chỉ áp dụng trong tiết ôn tập mà trong quá trình dạy các tiết lí thuyết
giáo viên giúp các em nắm kĩ để phần làm bài các em bớt phần khó khăn.
22


Tóm lại, đối với học sinh nằm ở lứa tuổi 13 – 14 về tâm sinh lí chưa phát triển hoàn chỉnh,
khả năng suy luận chưa có, vì vậy việc cung cấp các bài lí thuyết này không phải dễ dàng. Do
đó, đối với giáo viên đứng lớp phải sáng tạo trong cách dạy, phải bằng mọi phương pháp hình
thành trong nhận thức của các em, giúp cho các em sau khi học xong phần văn nghị luận có sự
hình dung văn nghị luận khác với các loại văn khác mà các em đã học. Yêu cầu đối với các em
là phải đọc sách nhiều hơn, am hiểu xã hội nhiều hơn, tập kĩ năng tranh luận, suy luận một vấn
đề, biết nhận thức vấn đề đó đúng hay sai; đúng sai như thế nào để hình thành cho các em một
tư tưởng đúng đắn, có lập trường vững vàng. Vậy học văn nghị luận ngoài việc các em biết
cách làm một bài văn nghị luận cũng là một quá trình giáo dục về nhân cách cho các em, giúp
các em thấy yêu văn thơ hơn...Vì thế khi ra đề văn cần chọn những đề có nội dung giáo dục
cao như các đề:
- Thất bại là mẹ thành công.
- Hãy biết quí thời gian.
Sau mỗi bài viết hình thành cho các em một nhận thức về tư tưởng sâu sắc về bài học
và tính giáo dục.
*Đối với bài văn biểu cảm:
* Giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết cách tạo cảm xúc khi làm văn biểu cảm:
Văn là cuộc sống, vì thế muốn có cảm xúc để viết văn biểu thì cần có cảm xúc với chính
cuộc sống đời thường xung quanh chúng ta. Giáo viên nên khơi gợi cảm xúc của học sinh bằng
cách nói chuyện gợi cho các em có cơ hội nói lên em thấy thế nào trước vật ấy, người ấy, sự
việc ấy? Ví dụ khi biểu cảm về loài cây tôi thường hỏi các em thích cây nào vì sao em thích, vì
sao không thích? Nếu các em không trả lờí được tôi sẽ gợi ý cho các em: vẻ đẹp lơi ích , kỉ
niệm gắn bó….với cây đó. Từ đó để các em nảy sinh tình cảm tích cực về các loài cây. Khi
biểu cảm về người tôi hỏi các em ở khu chúng ta hiện nay có rất nhiều người lang thang và có
vấn đề về thần kinh các em nghĩ gì khi gặp họ? Các em nói: sợ họ, ghét họ, thấy gê tởm, thấy
thương họ…. Tôi nói tiếp các em thử nghĩ nếu nhưng người ấy là bố mẹ, cô dì, chú bác, anh
em mình thì sao? Các em nghĩ một lát rồi đều nói là thương họ. Tôi cũng nói cho các em biết
hàng ngày khi gặp họ tôi đã nghĩ gì cảm thấy thế nào, muốn làm gì. Tôi cảm nhận sau khi chia
sẻ các em nảy sinh tình cảm rất tích cực. Hoặc trước khi viết bài về mẹ tôi đã chia sẻ cảm xúc
23


của tôi khi mẹ mình mắc bệnh nan y và những cảm xúc của mình khi mẹ qua đời… Tất cả
những chia sẻ ấy đã có ích rất nhiều trong việc khơi gợi, nuôi dưỡng cảm xúc của học sinh.
Giáo viên chỉ cho học sinh thấy tất cả mọi thứ quen thuộc đôi khi ta không lắng lòng cảm nhận
ta sẽ quên mất nó và vô cảm với nó rồi dần dần trái tim sẽ chai sạn, khô cằn. Biết nuôi cảm xúc
là cách hiệu quả để có thể làm tốt văn biểu cảm.
* Giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết cách thể hiện cảm xúc khi làm văn biểu cảm:
- Biểu cảm trực tiếp:
Biểu cảm trực tiếp là cách diễn đạt tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ của người viết một cách rõ
ràng bằng các từ ngữ, câu chữ chứ không phải thông qua các hình thức biểu hiện khác. Đây là
cách dùng phổ biến trong văn biểu cảm. Học sinh vận dụng cách biểu cảm trực tiếp vào bài
viết cũng dễ dàng hơn hình thức biểu cảm gián tiếp vì nó dễ nhận biết, dễ thực hiện và dễ tác
động một cách trực tiếp đến tình cảm của người đọc. Nhưng nếu vận dụng không khéo, bài viết
của các em dễ rơi vào tình trạng giả tạo, gượng ép, sáo mòn, gây phản cảm cho người đọc. Vì
thế khi viết bài các em cần chú ý kĩ năng vận dụng cách tạo cảm xúc sao cho tự nhiên, chân
thực. Hình thức biểu cảm trực tiếp thường sử dụng các cách tạo cảm xúc sau:
+ Sử dụng từ ngữ biểu cảm:
 Sử dụng những động từ chỉ cảm xúc, trạng thái tình cảm của con người:
Ví dụ: “Tôi phập phồng cùng những nụ hoa đang bắt đầu hé nở. Tôi mê mẩn trước những
bông hoa đang tỏa bừng rực rỡ. Tôi ngây ngất trước những hàng hoa đang lặng lẽ đưa hương,
như muốn ủ vào đất, ướp lên trời, như muốn len vào hồn người. Tôi ngạc nhiên cùng mảnh đất
ấy, âm thầm và lặng lẽ, giản dị và lớn lao, suốt đời đất ở dưới chân người bất ngờ bung lên tỏa
bao sắc màu…”
( Trích Loài hoa tôi yêu – Hạ Huyền )
Nhận xét: Trong đoạn văn trên để bộc lộ cảm xúc của mình về các loài hoa, tác giả sử dụng
những động từ chỉ trạng thái cảm xúc một cách tự nhiên say mê.
 Sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi cảm, đặc biệt từ tượng thanh, tượng hình:
Ví dụ: “Hằng năm, cứ vào cữ hạ sớm này, người Hà Nội lại được hưởng những cơn mưa lá
sấu vang ào ạt rơi trong hương sấu dìu dịu thơm thơm. Hương lá sấu dịu dàng, ướp cả bầu
không khí tinh khôi khiến ta muốn hít thật sâu cho căng tràn lồng ngực... Những mảng hoa

24


hình sao màu trắng chao nghiêng trong gió, đậu xuống mái tóc các cô gái lấm tấm khắp cả mặt
đường…”
( Tạ Việt Anh )
Nhận xét: Trong đoạn văn trên để bộc lộ cảm xúc của mình về cây sấu, hoa sấu, mùi hương của
hoa tác giả sử dụng những từ láy gợi tình yêu, sự gắn bó với cây sấu Hà Nội. Qua đó bộc lộ
tình yêu của Hà Nội của người viết.
+ Dùng từ cảm thán, câu cảm thán:
Ví dụ: “ Bố ơi! Bố chữa làm sao được lành lặn đôi bàn chân ấy: đôi bàn chân dầm sương
dãi nắng đã thành bệnh”
( Tuổi thơ im lặng – Duy Khán )
Ví dụ: “ Quê tôi lắm nằng nhiều mưa… Chao ôi! Sức sống của cây cau sao mà bền bỉ,
mãnh liệt như vậy!”
Nhận xét: Trong hai ví dụ trên tác giả bộc lộ cảm xúc trực tiếp bằng từ cảm thán và câu cảm
thán.
- Biểu cảm gián tiếp:
Là cách biểu đạt tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ của người viết thông qua các hình thức biểu
hiện khác như dùng biện pháp tu từ ẩn dụ, tượng trưng… Ngoài ra cũng có thể diến đạt qua
cảnh vật, con người có liên quan đến cảm nghĩ; trong trường hợp này họ thường sử dụng yếu
tố từ sự, miêu tả để khơi gợi cảm xúc.
+ Dùng biện pháp tu từ ẩn dụ tượng trưng:
Ví dụ: “ Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên lũy, nên thành tre ơi? (…)
Nòi tre đâu chịu mọc cong
Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nằng phơi sương
Có manh áo cộc tre nhường cho con ”
( Tre Việt Nam – Nguyễn Duy )
Nhận xét: Nhà thơ Nguyễn Duy đã lấy cây tre làm hình ảnh ẩn dụ để thể hiện cảm nghĩ về con
người Việt Nam. Bằng cách này tác giả tạo ra hai lớp nghĩa cho bài thơ: ca ngợi đặc điểm của
cây tre, ca ngợi phẩm chất của con người Việt Nam kiên cường bất khuất nhưng giàu lòng yêu
thương, đùm bọc, nhân hậu.
+ Dùng yếu tố tự sự, miêu tả:
Yếu tố miêu tả:

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×