Tải bản đầy đủ

Huong dan ky thuat nuoi ga rừng tai đỏ lai

Phần I
KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ RỪNG LAI
I. GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG.
- Là thế hệ con lai F1 giữa gà Rừng tai đỏ với gà Ri vàng rơm, về hình thái chúng
đều có mỏ màu xám chì và mắt nâu đen
- Con trống có mào đơn và hai tích màu cờ. Viền cổ lông kiếm dài mầu đỏ lửa. Phần ức
bụng lông mầu đen, có con màu vàng. Lưng và cánh mầu đỏ thẫm, pha đen, có con pha vàng.
Gốc đuôi có túm lông màu trắng, có một số con không có đặc điểm này, lông đuôi dài mầu
đen. Da chân phần lớn mầu trắng ngà, một số con chân màu xám chì.
- Con mái có viền cổ lông vàng nhạt, pha xám, điểm những nốt đen nâu hình hạt
dưa. Phần ức bụng lông màu nâu, có con màu vàng. Lưng và cánh mầu nâu xỉn, có con màu
vàng pha nâu. Lông đuôi ngắn màu đen. Da chân phần lớn mầu xám chì, một số con chân
màu trắng ngà.
- Qua nghiên cứu lai tạo và chăn nuôi tại Vườn quốc gia Bến En gà lai có những đặc
điểm cụ thể như sau:
- Tỷ lệ nuôi sống sau 4 tuần tuổi đạt: 88,8%.
- Tỉ lệ nuôi sống từ 4 – 26 tuần tuổi đạt: 86,2%.
- Bình quân tỉ lệ nuôi sống tư sơ sinh đến 26 tuần tuổi đạt 75,8% .
- Thức ăn bình quân từ sơ sinh đến 26 tuần tuổi: 32,6 gam/con/ngày.
- Tiêu tốn thức ăn cho 1kg trọng lượng cơ thể: 5,76 kg.
- Trọng lượng cơ thể bình quân đến 26 tuần tuổi: Gà trống đạt 1.290 gam, con mái

đạt 820 gam .

II. KỸ THẬT CHĂN NUÔI (giai đoạn từ SS – 26 tuần tuổi)
2.1. Yêu cầu chung về chuồng trại
- Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, dễ thoát nước, thoáng mát, cách xa các
trại chăn nuôi gia cầm, gia súc khác càng xa càng tốt nhằm hạn chế tối thiểu mức rủi ro do
lây nhiễm chồng chéo.
- Hướng chuồng thiết kế giữ được mùa Đông thì ấm, mùa Hè thoáng mát. Mái hiên
có thể đua ra từ 1-1.2 mét để hạn chế mưa hắt. Chuồng được ngăn chia giữa các ô bằng
lưới mắt cáo hoặc bằng các phên tre, nứa có các lỗ đan rộng từ 2-4 cm. Xung quanh chân
tường xây gạch cao 40 cm, nền đổ cát vàng dầy từ 20-25 cm. Mặt khác phải đảm bảo thực
hiện được các biện pháp vệ sinh san toàn sinh học.
2.2. Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi
-Trước khi đưa gà vào nuôi dù qui mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọi điều kiện
vật chất kỹ thuật, như: Rèm che, cót quây, chụp sưởi, máng ăn, máng uống, chất độn
1


chuồng trong giai đoạn úm gà con, tiêu độc khử trùng và chọn người nuôi có kinh nghiệm
về chăn nuôi.
- Chuồng trại: Dụng dụ chăn nuôi phải được cọ rửa sạch sẽ, để trống chuồng trước
khi đưa gà vào nuôi 15-20 ngày và phải được sử lý theo đúng qui định về vệ sinh phòng
dịch, tường, nền được quét vôi đặc nộng độ 40%. Sau đó để khô phun tiêu độc bằng xút 2%
(NaOH) với liều 1 lít/m2 hoặc bằng các loại thuốc sát trùng khác như Foocmol 3% phun 2-3
lần. Trước khi thả gà vào nuôi 1-2 ngày phun tẩy uế lại lần nữa.
- Máng ăn: Hai tuần đầu có thể dùng mẹt tre hoặc khay tôn (kích thước 50 x 100 x
2.5 cm) cho từ 80-100 gà con. Từ tuần thứ 3 trở đi dùng máng ăn (có thể là máng dài hoặc
máng tròn).
- Máng uống: Thông thường dùng máng tròn (Gallon) gồm phần đáy và thân lắp
vào nhau làm bằng nhựa, thể tích máng uống tuỳ theo tuổi gà: Gà con 1.5-2 lít, gà hậu bị,
sinh sản 4-8 lít. Có thể dùng máng uống dài tương đương với máng ăn nhưng thiết diện nhỏ
hơn.
- Chụp sưởi: Gà con sau khi nở ra chưa có khả năng điều tiết nhiệt do đó phải có hệ
thống chụp sưởi để cung cấp nhiệt độ cho gà đến khi chúng có khả năng điều tiết được thân
nhiệt phù hợp với nhiệt độ môi trường, thường dùng nguồn là bóng điện nhiệt năng, tuỳ
theo số lượng gà con mà bố trí hệ thống sưởi cho hợp lý và hiệu quả kinh tế.
- Rèm che: Dùng vải bạt, bạt dứa hoặc có thể tận dụng bao tải dứa khâu lại thành
rèm che bên ngoài chuồng để giữ nhiệt độ chuồng nuôi và tránh gió lùa hoặc mưa hắt vào.
- Thùng úm gà: Trong thời gian úm gột, để tập chung nguồn nhiệt tránh gió lùa ta
sử dụng thùng úm được đóng bằng cót ép ở phần đáy và xung quanh, phần nắp có tấm đậy


khung gỗ buộc lưới sắt mắt cáo. Chiều cao thùng úm từ 50-60 cm, rộng 50 cm và dài 1-1.2
m. Mỗi thùng như vậy có thể nuôi được 100 con gà.
- Độn chuồng: Thường dùng chất độn chuồng là cát vàng bê tông sạch. Lưu ý lớp
cát này càng dày càng tốt và hàng tháng dùng xẻng để đảo 1lần và hàng năm phải thay cát
từ 1-2 lần tuỳ theo mức độ ô nhiễm. gà Rừng lai sinh sản sinh trưởng chậm nên giai đoạn
gà con được tính từ 1- 60 ngày tuổi, ở giai đoạn này các cơ quan nôi tạng nhất là bộ máy
tiêu hoá chưa hoàn thiện, dạ dầy chưa tiêu hoá được các loại thức ăn xơ cứng, men tiêu hoá
chưa đầy đủ, gà rất nhậy cảm với điều kiện ngoại cảnh do đó phải tạo điều kiện tốt cho gà
phát triển nhanh và khoẻ.
2.3. Chọn gà giống nuôi sinh sản
- Chọn gà sơ sinh: Gà con phải nhanh nhẹn, mắt sáng, bụng gọn, chân mập mạp,
lông bông và có các viền nâu, đen chạy dọc theo cơ thể từ đầu cho tới đuôi, trọng lượng 2224 gram/con.

2


- Chọn gà 4 tuần tuổi: Để có được những con gà lai sinh sản đạt tiêu chuẩn cần lưu ý
phần chọn lọc này rất quan trọng. Những con mái được chọn làm giống sinh sản phải có
màu lông thuần nhất (cánh và lưng màu nâu xám), da chân màu xám chì.
2.4. Nhiệt độ, ẩm độ và thông thoáng
- Hai tuần đầu tiên gà con không tự điều chỉnh được thân nhiệt một cách hoàn hảo,
do đó các bệnh về hô hấp, tiêu hoá rất dễ phát sinh khi ẩm độ môi trường lên cao và ảnh
hưởng trực tíêp đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng của gà. Yêu cầu cụ thể về
nhiệt độ và độ ẩm ở các giai đoạn tuổi, cụ thể như sau:
Ngày tuổi

Nhiệt độ trong thùng úm Nhiệt độ chuồng nuôi
Ẩm dộ tương đối
(00c)
(00c)
(%)
1-7
37
28-30
8-14
35
25-28
15-21
32
23-25
60-70
22-28
28
22-23
Sau 28 ngày
26
18-21
- Trong qua trình nuôi phải chú ý quan sát phản ứng của gà đối với nhiệt độ để điều
chỉnh nhiệt độ cho phù hợp. Nếu thấy gà tập trung nhiều tại nguồn nhiệt, chen lấn chồng
lên nhau là thùng úm không đủ nhiệt và gà bị lạnh. Nếu gà tản xa nguồn nhiệt, nháo nhác,
kêu, khát nước, há mỏ để thở là bị quá nóng cần phải điều chỉnh giảm nhiệt độ. Khi đủ
nhiệt, gà vận động ăn, uống bình thường, ngủ nghỉ tản đều trong thùng úm.
- Gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ trong 3 tuần đầu tiên, sau 4-6 tuần giảm thời gian
chiếu sáng (ban ngày dùng ánh sáng tự nhiên, ban đêm mới thắp đèn điện cường độ 3W/m2.
2.5. Nước uống
- Nước là nhu cầu đầu tiên của gà mới nở. Cần cung cấp nước sạch, tốt nhất là pha
thêm đường Glucoza 5 gram và Vitamin C 1 gram/lít nước uống vào những ngày đầu tiên,
nhiệt độ nước tốt nhất là 18-21 0c.
- Sử dụng máng nước tự động bằng nhựa 1 lít/50 gà con. Vị trí đặt máng nước là góc
của thùng úm.
2.6. Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
- Gà mới nở cho uống nước trước 2-3 giờ thì mới cho ăn thức ăn, thường cho ăn theo
bữa. Thức ăn được trải đều vào nhiều khay tuỳ thuộc qui mô đàn để tránh sự tranh giành
thức ăn. Chỉ nên cung cấp lượng thức ăn vừa đủ, một ngày đêm cho ăn từ 5-8 lượt để thức
ăn luôn được mới thơm, hấp dẫn và tránh lãng phí.
- Thức ăn nuôi gà được phối chế cân đối đảm bảo nhu cầu dình dưỡng cho từng giai
đoạn phát triển. Khẩu phần ăn có thể phối chế đa nguyên liệu, sử dụng thức ăn bổ xung
động vật, thực vật, Premex khoáng vi lượng và Vitamin. Không sử dụng nguyên liệu hôi
mốc, hoặc bột cá mặn, đỗ tương phải rang chín.
- Gà lai F1 có thể sử dụng thức ăn là cám công nghiêp, thức ăn tự nhiên hoặc là cám
tổng hợp (kết hợp giữa thức ăn tự nhiên và cám công nghiệp theo tỷ lệ 1/1), tuy nhiên cần
3


cho ăn bổ sung thêm các yếu tố khoáng vi lượng và vitamin. Khẩu phần ăn bình quân cho
từng giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: 7 gam/con/ngày
+ Giai đoạn từ 1 - 4 tuần tuổi: 15,2 gam/con/ngày
+ Giai đoạn từ 4 - 26 tuần tuổi: 36,2 gam/con/ngày
2.7. Mật độ nuôi
- Tuỳ thuộc vào điều kiện chuồng trại, mùa vụ, khí hậu mà quyết định mật độ đàn
nuôi. Cần lưu ý trong điều kiện tất cả các yếu tố khác là thích hợp thì mật độ càng thấp sẽ
cho khả năng tăng trưởng cao và tỷ lệ nhiễm bệnh thấp.
- 1 tuần tuổi mật độ 25 con/m2.
- 2 - 4 tuần tuổi mật độ 20 con/m2.
- 5 - 8 tuần tuổi mật độ 8-10 con/m2.
- Trên 9 tuần tuổi mật độ 8 con/m2.
2.8. Chuồng trại và độ thông thoáng.
Thùng úm gà con 1 ngày tuổi phải che kín, sự thay đổi không khí gần như bằng
không. Khoảng 3 ngày sau khi sự trao đổi chất của gà tăng lên cần phải thay đổi không khí
để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm phát sinh bệnh cầu trùng và hô hấp.
2.9. Vệ sinh phòng bệnh.
- Với phương châm phòng bệnh là chính do đó cần đảm bảo nghiêm ngặt các biện
pháp vệ sinh phòng bệnh phù hợp với tình hình dịch tễ tại địa phương. Phải theo dõi quan
sát đàn gà thường xuyên, như: Ăn, uống, ngủ, nghỉ, chất bài tiết.... để phát hiện và sử lý
nhanh tróng tất cả các dấu hiệu bất thường.
- Trong ô chuồng chỉ nên nuôi gà cùng một lứa tuổi, không nuôi các động vật khác
như chó, mèo. Định kỳ diệt trừ các loài gặm nhấm, chim hoang và côn trùng khác.
III. MỘT SỐ KHẨU PHẦN THỨC ĂN THAM KHẢO.
3.1. Giai đoạn từ 0- 4 tuần tuổi
Thành phần nguyên liệu

Tỷ lệ(%)
52.5
31.0
10.7
3.4
0.5
1.3
0.5
0.2

Ngô
Proconco C21
Gạo lất
Bột cá nhạt loại (55%CP)
Dầu thực vật
Dicanxi Photphát
Premex Vitamin
Muối ăn (nacl)

3.2. Giai đoạn 5- 8 tuần tuổi
Thành phần nguyên liệu

Tỷ lệ(%)
4


Ngô
Proconco C21
Cám gạo loại I
Bột cá nhạt loại I
Rau xanh
Bột xương
Premex Vitamin

45.0
25.0
20.0
5.2
2.6
2.0
0.2

3.3. Giai đoạn 9- 16 tuần tuổi
Thành phần nguyên liệu

Tỷ lệ(%)
29.0
22.0
18.0
12.0
5.0
4.0
3.3
2.0
3.0
0.2
1.5

Ngô
Proconco C25
Cám gạo loại I
Thóc tẻ
Đỗ tương
Rau xanh
Bột cá nhạt loại I
Bột xương
Bột xương
Premex Vitamin
Premex khoáng
3.4. Giai đoạn 17- 26 tuần tuổi
Thành phần nguyên liệu

Tỷ lệ(%)
37.0
32.0
18.0
9.0
4.0

Ngô
Proconco C21
Thóc
Cám gạo loại I
Bột cá nhạt loại I
3.5. Giai đoạn gà đẻ > 26 tuần tuổi.
Thành phần nguyên liệu

Tỷ lệ(%)
34.0
20.0
15.0
10.0
8.0
4.0
3.7
3.0
2.0
0.3

Ngô
Thóc tẻ
Proconco C21
Cám gạo loại I
Đỗ tương
Rau xanh
Bột cá nhạt loại I
Bột xương
Premex khoáng
Premex Vitamin

Phần 2
KỸ THUẬT PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CHO GÀ RỪNG LAI
5


I. LỊCH DÙNG THUỐC VÀ VẮC XIN
1.1. Lịch dùng thuốc phòng bệnh
Ngày tuổi Thuốc dùng và cách sử dụng
1-4
Đường Glucoza
Vitamin C và Bcomlex
7
Vitamin C và Bcomlex
10-12
Vitamin C và Bcomlex
Tylosin
15-20
Bổ xung men tiêu hoá vào
thức ăn
21-26
ESB3 30%
Multivitamin
56
Piperazin (chộn vào thức ăn)

Liều lượng
5 gr/lít nước
1gr/lít nước
1gr/lít nước
1gr/lít nước
0.5gr/lít nước
Theo hướng dẫn
của nhà sản xuất
1gr/lít nước
1gr/lít nước
50 gr/100kg

Phòng bệnh
Phòng bệnh đường ruột,
hô hấp, tăng đề kháng
Tăng đề kháng
Tăng đề kháng, phòng
bệnh CRD
Cân bằng hệ vi sinh vật
đường ruột
Phòng cầu trùng
Tẩy giun sán

1.2. Lịch dùng vắc xin phòng bệnh
Ngày tuổi
Vắc xin
1
- Marek tiêm dưới da
5
- Lasota lần 1 nhỏ mũi, mắt 2-4 giọt.
- Viêm PQTN – IB lần 1
7
- Gumboro lần 1 nhỏ mũi, mắt 2-4
giọt.
- Đậu gà lần 1 chủng vào cánh
21
- Viêm PQTN – IB lần 2
- Gumboro lần 1 nhỏ mũi, mắt 2-4
giọt.
28
- Lasota lần 2 nhỏ mũi,mắt 2-4 giọt.
56
120

Phòng bệnh
Bệnh Marek
- Bệnh Newcastle
- Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm
- Bệnh Gumboro
- Bệnh đậu gà
- Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm
- Bệnh Gumboro
- Bệnh Newcastle

- Newcastle hệ 1 tiêm dưới da - Bệnh Newcastle
0,2ml/con
-Đậu gà lần 2 chủng vào cánh
- Bệnh đậu gà

II. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ LAI VÀ PHƯƠNG PHÁP
ĐIỀU TRỊ
2.1. Bệnh cầu trùng
2.1.1. Nguyên nhân
Bệnh cầu trùng do loại ký sinh trùng đơn bào gây ra, có nhiều loại cầu trùng
gây bệnh trên gia súc gia cầm, giống cầu trùng gây bệnh trên gà là Eimeria.
6


Có 11 loài Eimeria được phát hiện ở gà, trong đó có 5 loài gây thiệt hại đáng
kể là:
- E.acervulina ký sinh ở tá tràng hồi tràng.
- E. maxima và E.necatrix ký sinh ở phần giửa ruột và bao noãn hoàng.
- E. brunetti và E.tenella ký sinh ở vùng thấp hơn ở ruột non.
- Cầu trùng có sức đề kháng cao với các chất sát trùng thông thường và điều
kiện ngoại cảnh. Người ta thường sử dụng nhiệt độ cao để tiêu diệt cầu trùng.
- Gà mắc bệnh do ăn phải kén hợp tử (oocysts) có trong phân của gà bệnh hoặc
gà khỏi bệnh thải ra môi trường ngoài.
2.1.2. Triệu chứng
Gà tất cả các lứa tuổi đều có thể mắc cầu trùng, nhưng tuổi hay bị bệnh nhất là
2 - 3 tuần tuổi.
Gà trưởng thành hay bị bệnh ở thể mãn tính.Lúc đầu gà bỏ ăn, khát nước, lông
xù, thường ngồi trên hai chân, đi lại loạng choạng. Phân loãng, lúc đầu có màu xanh,
sau đó có màu nâu có lẫn máu, đôi khi trong phân có nhiều máu. Lỗ huyệt bẩn do
dính phân, cuối thời kỳ bệnh có thể bị liệt. Bệnh ở thể cấp tính gà thường chết nhanh
sau 2 - 7 ngày, bệnh cũng có thể kéo dài, khỏi dần nhưng chậm.
2.1.3. Bệnh tích
Mào, tích, cơ bắp nhợt nhạt. Mổ khám nếu là cầu trùng manh tràng thì thấy
manh tràng ứ đầy máu, sưng to. Nếu là cầu trùng ruột non thì tá tràng sưng to, ruột
phình to từng đoạn, niêm mạc tá tràng viêm, trên bề mặt thấy các ổ tròn xám.
2.1.4. Phòng bệnh
Không để nền chuồng ẩm ướt, dọn sạch phân và thường xuyên trộn vào thức
ăn thuốc chống cầu trùng. Thuốc phòng và chữa cầu trùng cần thay đổi theo từng
thời kỳ để tránh cầu trùng thích ứng với loại thuốc đó.
2.1.5. Điều trị
Dùng một trong các loại thuốc sau để phòng và trị bệnh :
-Vicox toltra : 1ml/ 1 lít nước uống liên tục trong 2 ngày
- Vime Anticoc: 1g pha với 1 lít nước hoặc 5g trộn vào 4kg thức ăn dùng liên tục 5
ngày.
Cần bổ sung thêm :
- Vimix Plus : 1g pha cho 1 lít nước dùng pha nước cho uống liên tục 3 - 5
ngày.
- Vimeperos : 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ liên tục 5 ngày.
7


- Khi gà bệnh cần bổ sung vitamin K, E, A và Selenium vào khẩu phần để làm
giảm mức độ chết của gà
2.2. Bệnh thương hàn
2.2.1. Nguyên nhân
Bệnh bạch lỵ gà là một bệnh nhiễm trùng truyền nhiễm do Samonella
pullorum gây nên, thường nhiễm cho gà con. Đặc điểm của bệnh là gà ỉa phân trắng
đục như vôi, nên gọi là "bạch lỵ". Gà con mắc bệnh thường chết tới 70-80%. Nếu
trong thức ăn lại thiếu vitamin, nhất là B1 sẽ gây chết tới 100%. Nhiều vùng chăn
nuôi gà coi đây là một bệnh nguy hiểm, làm cản trở đến phát triển chăn nuôi. Đối với
gà trưởng thành mắc bệnh bạch lỵ (phân trắng) gọi là bệnh thương hàn gà, do
Samonella gallinarum gây nên. Gà mái đẻ mắc bệnh, trứng nở, gà con sẽ mang bệnh bạch
lỵ. Vì vậy, trên thực tế hai bệnh này, coi như là một bệnh bạch lỵ do hai loại vi khuẩn
pullorum và gallinarum gây nên. Từ đó, sự nhiễm trùng gây bệnh mang tính di
truyền là phương thức truyền bệnh phổ biến, mang tính truyền nhiễm dai dẳng, lưu
hành trong từng địa phương. Gà là loại cảm thụ bệnh mạnh nhất, gà con mới nở vài
ngày tuổi thường mắc bệnh nhiều hơn cả. Gà trưởng thành ít mắc và mắc ở thể mạn
tính, trở thành những ổ chứa vi khuẩn. Gà tây, gà gô, vịt con, ngỗng con có thể mắc
bệnh này. Gà trống khi giao phối với gà mái mắc bệnh sẽ truyền bệnh cho nhiều gà
mái khác.
2.2.2. Triệu chứng
- Gà con mắc bệnh, đứng một chỗ, buồn rầu kêu "chiếp chiếp" liên tục, kém
ăn, đi lảo đảo, lông tơ khô, dựng đứng, mắt nhắm, niêm mạc mắt, mào, yếm đều nhợt
nhạt. Phân lúc đầu xanh nhạt, sau trắng, đặc, cứng như vôi, có khi lẫn tia máu, phân
khô bao quanh và bịt chặt lỗ đít làm gà không ỉa được. Kéo dài vài ngày thì chết,
nhiều khi còn thấy gà con biểu hiện đau, sưng khớp, què.
- Gà trưởng thành, thường mắc chủ yếu ở thể mạn tính, gà mái sẽ đẻ thưa, sau
ngừng hẳn do buồng trứng bị viêm, nếu viêm nặng buồng trứng sẽ vỡ gây viêm
xoang bụng gà sẽ chết.
2.2.3. Phòng bệnh
- Thường xuyên dọn vệ sinh, thay độn chuồng, dùng nước vôi 10% tiêu độc.
- Máng ăn, máng uống, dùng xút 3% để rửa, sau dội lại bằng nước sôi.
- Tiêu độc lò ấp hoặc phòng ấp, cần dùng formol và thuốc tím (MnO4K2) theo
tỷ lệ 2g formol và 1,5g thuốc tím, trộn vào nhau để hơi formol bay ra khử trùng cho
8


một mét khối không khí. Hoặc có thể để formol bốc hơi trong lò ấp mỗi tháng 1 lần kéo dài
từ 30-60 phút.
- Kiểm tra máu gà mái để phát hiện bệnh, cứ 6 tháng một lần, nếu cần, gửi
máu gà mái trong đàn nghi có bệnh về phòng chẩn đoán thú y trung ương kiểm tra.
Nếu có bệnh, tiêu diệt và vệ sinh tiêu độc chuồng trại, rồi mới nhập gà mái khác.
2.2.4. Điều trị
Dùng một trong các loại thuốc sau:
- Chloramphenicol (Tyfomycine) pha nước tỷ lệ một phần vạn đến hai phần
vạn (từ 1/10.000 đến 2/10.000) cho gà con uống tự do trong một tuần.
- Sulfamerazine (hoặc Sulfamethazine) cho uống tự do từ 1-2 ngày.
- Tetracycline và Nitrofurazolidon, mỗi thứ 25g trộn trong 10kg thức ăn hỗn
hợp cho gà ăn tự do 5 ngày rồi nghỉ, mỗi tháng 1 lần. Ngoài ra, còn nhiều thứ thuốc
khác như Neomycine, Ampicolifort... đều có hiệu quả phòng và trị bệnh này, trước
khi sử dụng đọc kỹ lời chỉ dẫn ở nhãn thuốc.
2.3. Bệnh Marek
2.3.1. Nguyên nhân
Bệnh do Herpesvirus gây ra, đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh của tế bào lâm
ba dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên và các cơ quan nội tạng, da,
cơ, làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn cơ năng vận động và bại liệt. Gà và gà tây,
gà sao đều mắc bệnh, nhất là gà con trên 6 tuần tuổi dễ mắc bệnh hơn. Phổ biến nhất
là từ 8 - 24 tuần tuổi. Đường lây lan chủ yếu là đường hô hấp và tiêu hoá.
2.3.2. Triệu chứng
* Thể cấp tính : Xảy ra chủ yếu trên gà con 4 - 8 tuần tuổi, ít có triệu chứng
điển hình, chết đột ngột từ 20 - 80%. Gà bệnh kém ăn, gầy còm, bại liệt chỉ thấy ở
cuối ổ dịch, bệnh có thể chuyển sang thể mãn tính. Thể mãn tính Xảy ra ở gà từ 4 - 8
tháng ở thể thần kinh và thể mắt.
* Thể thần kinh: Gà đi lại khó khăn, liệt nhẹ dần rồi đến toàn thân. Đuôi gà rũ
xuống. Gà bị liệt một chân hay cả 2 chân. Gà bệnh vẫn ăn uống bình thường, gà mái
bệnh giảm đẻ, gà trống giảm khả năng đạp mái.
* Thể mắt: Mắt lúc đầu bị viêm nhẹ, gà tỏ ra mẫn cảm với ánh sáng, chảy
nước mắt trong, dần dần bị viêm màng tiếp hợp, rồi viêm mống mắt, gà có thể bị mù
mắt
Sau 14 ngày nhiễm bệnh, sự suy giảm miễn dịch bắt đầu xuất hiện do virus tấn công
vào lách, tuyến ức và Fabricius. Từ 5 đến 6 tuần sau khi bị nhiễm các khối u trong cơ
thể gà bắt đầu xuất hiện do nhiều tế bào lymphô T đã biến đổi thành tế bào ung thư
9


2.3.3. Bệnh tích
*Thể cấp tính: Chủ yếu hình thành khối u ở gan, lách thận, phổi, buồng trứng,
dịch hoàn, có 2 dạng khối u là Khối u tràn lan: Gan lách có khối u to hơn bình
thường, nhạt màu và bở. Khối u hạt: Bề mặt cơ quan sần sùi với những hạt to nhỏ
không đều nhau. Một số trường hợp có khối u ở dạ dày tuyến, thành ruột, cơ, da .
Bệnh tích ở da thường không rõ, trong vài trường hợp tuyến lông có thể bị nhiễm gây
xuất huyết dưới da đùi gọi là "đùi đỏ Alabama".
*Thể mãn tính: Chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại
vi như: dây thần kinh cánh, hông, dây thần kinh xuất phát từ phần dưới của tuỷ sống,
như dây thần kinh liên sườn, dây thần kinh sinh dục. Ở một số trường hợp còn có
thấy tuỷ sống bị sưng to, cơ bị teo, mắt bị mù, con ngươi biến dạng.
2.3.4. Phòng bệnh
Bệnh không có thuốc điều trị do đó việc áp dụng qui trình phòng bệnh bằng vệ
sinh, diệt trùng và tiêm phòng vắc xin cho gà lúc 1 ngày tuổi ngay tại phòng ấp là cần thiết.
Chú ý: Tất cả các loại vắc xin phòng bệnh Marek đều phải dùng hết trong 2 giờ sau
khi pha, tốt nhất là 30 phút. Để quá 2 giờ hoặc đông lạnh trở lại đều làm mất hiệu lực của vắc xin.

2.4. Bệnh newcastle
2.4.1. Nguyên nhân
Bệnh do siêu vi trùng thuộc nhóm Paramyxovirus gây bệnh cho gà mọi lứa
tuổi, đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hoá. Bệnh lây lan
nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể đến 100% trên đàn gà bệnh.Virus dễ bị diệt
bởi thuốc sát trùng thông thường nhưng có thể tồn tại nhiều năm trong môi trường
mát. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hoá, do tiếp xúc gà bệnh
2.4.2. Triệu chứng
Thời kỳ nung bệnh thường là 5 ngày, có thể biến động từ 5 – 12 ngày.
*Thể quá cấp tính:Thường xảy ra đầu ổ dịch, bệnh tiến triển nhanh, gà ủ rũ
sau vài giờ rồi chết, không thể hiện triệu chứng của bệnh.
*Thể cấp tính: Gà ủ rũ, ăn ít, uống nước nhiều, lông xù, gà bị sốt cao 42 – 43
0
C, hắt hơi, sổ mũi, thở khó trầm trọng, mào và yếm tím bầm, từ mũi chảy ra chất
nhớt. Gà rối loạn tiêu hoá, thức ăn ở diều không tiêu, nhão ra do lên men, khi dốc gà
ngược thấy có nước chảy ra có mùi chua khắm. Vài ngày sau gà tiêu chảy phân có
màu nâu sẫm, trắng xanh hay trắng xám. Niêm mạc hậu môn xuất huyết thành những
tia màu đỏ.
Gà trưởng thành triệu chứng hô hấp không thấy rõ như ở gà giò. Ở gà đẻ sản
lượng trứng giảm hoặc ngừng để hoàn toàn sau khi nhiễm bệnh 7 – 21 ngày
10


*Thể mãn tính: Xảy ra ở cuối ổ dịch. Gà có triệu chứng thần kinh, cơ quan
vận động bị tổn thương biến loạn nặng. Con vật vặn đầu ra sau, đi giật lùi, vòng tròn,
mổ không đúng thức ăn, những cơn co giật thường xảy ra khi có kích thích. Chăm
sóc tốt gà có thể khỏi những triệu chứng thần kinh vẫn còn, gà khỏi bệnh miễn dịch
suốt đời.
2.4.3. Bệnh tích
*Thể quá cấp: Bệnh tích không rõ, chỉ thấy những dấu hiệu xuất huyết ở
ngoại tâm mạc, màng ngực, cơ quan hô hấp.
*Thể cấp tính: Xoang mũi và miệng đều chứa dịch nhớt màu đục. Niêm mạc
miệng, mũi, khí quản xuất huyết, viêm phủ màng giả có Fibrin.- Tổ chức liên kết
vùng đầu, cổ, hầu bị thuỷ thũng thấm dịch xuất huyết vàng.
*Thể mãn tính: Bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hoá Niêm mạc dạ
dày tuyến xuất huyết màu đỏ, tròn bằng đầu đinh ghim, các điểm xuất huyết này có
thể tập trung thành từng vệt. Dạ dày cơ xuất huyết. Ruột non xuất huyết, viêm. Trong
trường hợp bệnh kéo dài có thể có những nốt loét hình tròn, hình bầu dục, cúc áo.
Trường hợp bệnh nặng nốt loét có thể lan xuống ruột già, ruột non. Gan có một số
đám thoái hoá mỡ nhẹ màu vàng. Thận phù nhẹ có màu nâu xám. Bao tim, xoang
ngực, bề mặt xoang ức xuất huyết Dịch hoàn, buồng trứng xuất huyết thành từng vệt
từng đám. Trứng non vỡí trong thành xoang bụng.
2.4.4. Phòng bệnh
Virus gây bệnh Newcastle làm tế bào vật chủ sản sinh interferon, vì vậy không
tiêm thêm vắc xin virus khác sau khi chủng ngừa Newcastle từ 5 – 7 ngày. Hiện nay
thường sử dụng phổ biến vắc xin do Công ty thuốc thú y TW II sản xuất, lịch chủng
ngừa như sau:
- Vắc xin Newcastle hệ 2 dùng nhỏ mắt mũi cho gà lúc 3 ngày tuổi
- Do miễn dịch không bền nên tiếp tục dùng vắc xin Newcastle hệ 2 nhỏ mắt
tiếp cho gà lúc 21 ngày tuổi hoặc dùng vắc xin Lasota pha nước cho gà uống, hoặc nhỏ mắt,
nhỏ mũi
- Phòng lần 3 bằng vắc xin Newcastle hệ 1, tiêm dưới da cho gà khi được 2
tháng tuổi, sau đó định kỳ hàng tháng lấy máu kiểm tra bằng phản ứng HA-HI, khi
GMT dưới 20 phải tiêm phòng lập lại. Vắc xin ngoại nhập phòng bệnh Newcastle
của hãng MBL & TRI BIO chủng ngừa theo lịch sau:
- Gà 3 ngày tuổi nhỏ mắt hoặc cho uống bằng vắc xin Inacti/vac B1-M48 ngừa
bệnh Newcastle và viêm phế quản truyền nhiễm
11


- Gà 21 ngày tuổi ngừa bằng vắc xin BIO-SOTA Bron MM nhỏ mắt, cho uống hoặc phun
sương.
- Gà trên 3 tháng tuổi tái chủng bằng INACTI/VAC ND-BD-FC3 tiêm dưới da 0,5ml/
con.
2.4.5. Điểu trị
Không có thuốc điều trị bệnh đặc hiệu. Nên bổ sung thêm Vitamin C và
Vitamin nhóm B, cải thiện khẩu phần thức ăn có thể làm giảm bớt tỉ lệ tử vong trong
giai đoạn cuối ổ dịch. Hiện nay một số công ty thuốc thú y trong nước có giới thiệu
sản phẩm kháng thể Gumboro dùng phòng trị cùng lúc các bệnh Gumboro, Newcastle,
Viêm khí quản truyền nhiễm.
2.5. Bệnh viêm phế quản mãn tính
2.5.1. Nguyên nhân
Bệnh gây ra do vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum. Bệnh không làm chết
nhanh và nhiều, nhưng làm cho gà chậm lớn, giảm đẻ, trứng gà bệnh không ấp nở
được, gây chết phôi. Bệnh lây lan qua đường hô hấp và qua đường sinh dục. Khi gà
khỏi bệnh chúng mang trùng suốt đời nên gọi là hô hấp mãn tính.Gà 2 - 4 tháng tuổi
mắc bệnh nhiều nhất, gà nuôi công nghiệp hoặc mật độ nuôi cao dễ mắc bệnh hơn gà nuôi
gia đình, mật độ nuôi thấp.
2.5.2. Triệu chứng
Bệnh thường phát ra vào mùa đông, gà trống thường bị nhiễm nhẹ, tỉ lệ mắc
bệnh lên đến 100%. Bệnh thường nặng hơn khi nhiễm thêm các bệnh khác như
Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm và E.coli. Gà bệnh niêm mạc mắt đỏ, xung
huyết, chảy nước mắt, nước mắt đặc dần, đóng dày khóe mắt, tích tụ fibrin ngày
càng nhiều tạo thành những khối to bằng hạt đậu trong mắt có thể làm cho gà bị mù.
- Viêm mũi, chảy nước mũi, lúc đầu loãng sau đó đặc có màu trắng sữa bám
đầy khóe mũi làm gà nghẹt thở.
- Vách các xoang nhất là xoang dưới mắt sưng làm cho mặt gà bị biến dạng.
Đây là triệu chứng điển hình của bệnh.
- Niêm mạc họng, hầu các túi khí bị viêm làm cho con vật càng khó thở, mào
và yếm tím bầm kiệt sức rồi chết. Ngoài ra một số trường hợp gà bị viêm khớp, viêm
bao màng hoạt dịch. Ngoài ra cũng có một số trường hợp gà có triệu chứng thần
kinh. Trứng bị nhiểm khuẩn thì phôi bị chết trước khi nở ra, thường khoảng 10 30%.
2.5.3. Bệnh tích
12


Nếu gia cầm chết ở giai đoạn đầu thì những biến đổi bệnh tích không đặc
trưng lắm. Bệnh tích bao gồm các dịch xuất tiết ra từ các xoang khí quản và túi khí.
Thành các xoang dưới mắt phù, chứa nhiều dịch nhớt màu vàng xám. Viêm cata
niêm mạc đường hô hấp: Xoang mũi, khí quản tích đầy chất nhầy như keo dính chặt
vào bề mặt niêm mạc. Phổi phù thủng, bề mặt phủ fibrin có những vùng viêm hoại
tử. Các túi khí dầy đục, bên trong chứa dịch màu sữa, nếu bệnh kéo dài chất này sẽ
khô lại và có màu vàng, bở. Viêm gan, phúc mạc, lách hơi sưng. Vi khuẩn có thể
xâm nhập phần trên cơ quan sinh dục gà gây viêm vòi trứng, làm giảm đẻ, vi khuẩn
nhiễm thẳng vào trứng, gà ấp nở èo uột
2.5.4. Phòng bệnh
Có thể sử dụng vắc xin chết MG để phòng bệnh cho gà bằng cách tiêm dưới
da hoặc tiêm bắp. Nhưng để thực hiện qui trình phòng bệnh bằng vắc xin thì trại ấp
phải nhận trứng từ những trại gà được kiểm tra là không bị nhiễm bệnh. Trong thực
tế một số gà đẻ nhiễm MG vẫn giữ lại làm giống vì MG không ảnh hưởng quan trọng
trên năng suất trứng, nhưng tỉ lệ nhiễm bệnh trên gà con từ những gà bố mẹ có thể
đến 30% và là nguồn lây lan cho các gà con khác nở cùng lúc. Do đó việc phòng
bằng vắc xin tỏ ra không hiệu quả về mặt kinh tế mà nên dùng kháng sinh đặc trị cho
gà trong vòng 10 ngày khi nở.
2.5.5. Trị bệnh
Dùng một trong các kháng sinh dạng bột pha vào thức ăn hay nước uống liên tục 3-5
ngày:
- Anti-CCRD Plus: Pha 2g thuốc với 1 lít nước cho gà uống.
- ETS : 1g dùng cho 2 kg thể trọng/ngày.
- Tylenro 5+5 : 1g dùng cho 3 kg thể trọng/ngày.
- Vimenro : Gói 10g dùng cho 15-20 kg thể trọng. Hoặc các kháng sinh dạng
tiêm để điều trị cho đàn gia cầm bệnh nặng:
- Tylenro 5+5 : 1ml dùng cho 5kg thể trọng/ngày.
- Dilog : 1ml/ 5kg thể trọng/ ngày
Các kháng sinh trên tiêm liên tục trong 3 - 5 ngày. Bên cạnh việc dùng kháng
sinh trị bệnh cho gia cầm việc bổ sung các chất điện giải và vitamin cũng rất cần thiết, có thể
dùng :
- Vimevit C 120 : 1g pha cho 2lít nước dùng liên tục 3 - 5 ngày.
- Aminovit : Gói 100g pha cho 500 lít nước uống liên tục 3 - 5 ngày.
- Vitaral : 1ml pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 - 5 ngày.
2.6. Bệnh E.Coli
13


2.6.1. Nguyên nhân
Bệnh do E.coli ở gia cầm xuất hiện ở nhiều thể bệnh khác nhau như
Colibacillosis, Colisepticemia, Coligranuloma, Peritonitis, Salpingitis, Synovitis,...
gây tổn thất kinh tế trong chăn nuôi gia cầm. E.coli là một vi khuẩn gây bệnh kế phát
khi gia cầm bị stress hay bị bệnh, gây thiệt hại nhiều nhất trong chăn nuôi công
nghiệp.
2.6.2. Triệu chứng
Triệu chứng bệnh thường không đặc hiệu. Thời gian đầu ổ dịch gà ăn kém,
tăng trọng kém. Ở gà con thường có biểu hiện ủ rũ, xù lông, gầy rạc. Một số con có
triệu chứng cảm cúm, sổ mũi, thở khó, phân loãng có màu trắng xanh, chết hàng loạt.
Gà thường chết trong 5 ngày đầu. Đôi khi có hiện tượng sưng khớp.
2.6.3. Bệnh tích
Thường thấy là viêm túi khí, viêm màng bao lá gan, viêm xoang bụng. Ở gà
mái đẻ có bệnh tích cục bộ ở vòi trứng, buồng trứng, ống dẫn trứng, viêm khớp. Nếu
kế phát sau bệnh CRD thì có thêm bệnh tích ở phổi và thường được gọi là bệnh viêm
túi khí.
2.6.4. Phòng bệnh
Do có nhiều chủng kháng nguyên E.Coli nên việc phòng bệnh bằng vắc xin ít có hiệu
quả.
Quản lý tốt làm giảm lượng E.coli nhiễm nên ngừa được bệnh E.coli bộc
phát.Vệ sinh trứng ấp bằng thuốc sát trùng trứng, vệ sinh máy ấp, khu chăn nuôi.
Tăng cường vệ sinh chuồng trại, nuôi dưỡng chăm sóc nâng cao sức đề kháng, giảm
tối đa stress, gió lùa, khí ammoniac từ chất độn chuồng. Việc sử dụng kháng sinh và
sulfamid có tác dụng hạn chế bệnh.
2.6.5. Điều trị
Có nhiều loại thuốc được dùng để trị E.coli, để biết loại nào hiệu quả nhất nên
làm kháng sinh đồ để xem độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với thuốc. Dùng một trong
các loại kháng sinh thông dụng như:
- Vime-Apracin : 10g dùng cho 30-40kg thể trọng pha nước, cho uống trực tiếp hoặc
trộn thức ăn, liên tục 3 ngày.
-Vime-S.E.C : 10g dùng cho 40kg thể trọng , cho uống trực tiếp hoặc trộn thức ăn, liên tục
3 ngày.
- Dilapat:1g/ 5-7kg thể trọng, 1-2gram pha với 1 lít nước uống Trường hợp
bệnh nặng có thể dùng những kháng sinh tiêm bắp:
- Spectylo : 1ml/5kg thể trọng , dùng liên tục từ 3-5 ngày.
14


- Colinorcin : 1ml/5kg thể trọng , dùng liên tục từ 3-5 ngày.
- VimexysoneC.O.D: 1ml/5kg thể trọng, dùng liên tục từ 3-5 ngày. Bên cạnh
việc dùng kháng sinh trị bệnh cho gia cầm, nên bổ sung các chất điện giải và
vitamine, có thể dùng : Vimeperos : 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ pha
nước cho uống tự do.
- Vime C Electrolyte : 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 - 5 ngày.
- Vimevit Electrolyte : Gói 100g pha cho 200 lít nước uống cho uống tự do.
2.7. Bệnh gumboro
2.7.1. Nguyên nhân
Do Birnavirus gây ra, đặc trưng bởi sự phá huỷ túi Fabricius . Mầm bệnh có
thể sống hàng tháng trong chuồng trại, hàng tuần trong nước uống, thức ăn, phân.
Lứa tuổi gà mắc bệnh cao nhất là từ 3 - 6 tuần tuổi, gà nhỏ hơn có thể mắc bệnh ở
thể tiềm ẩn, không biểu hiện triệu chứng, nhưng ảnh hưởng rất quan trọng vì nó làm
ức chế miễn dịch, gà dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác
2.7.2. Triệu chứng
Thời gian nung bệnh từ 2 - 3 ngày, bệnh xảy ra thình lình, gà bệnh suy nhược,
ủ rũ, lông xù, đi loạng choạng, tiêu chảy, phân có màu trắng xám, xanh lá cây, có
nhiều nước, gà thường quay đầu lại mổ vào hậu môn, hậu môn dính đầy phân, gà bỏ
ăn, suy nhược trầm trọng, và có thể chết. Tỉ lệ gà mắc bệnh có thể lên đến 100%. Gà
bắt đầu chết từ ngày thứ 3 sau khi phát bệnh, tỉ lệ chết tăng nhanh, sau 5 - 7 ngày thì
ngưng, những con còn sống sót khỏi bệnh. Tỉ lệ chết thường thấp, nhưng nếu điều
kiện chăn nuôi kém tỉ lệ chết có thể lên đến 30% hoặc cao hơn.
2.7.3. Bệnh tích
Cơ ngực và cơ đùi xuất huyết thành từng vệt dài, nơi tiếp xúc dạ dày tuyến và
dạ dày cơ bị xuất huyết. Niêm mạc ruột bị tăng tiết dịch. Lách có thể hơi sưng, có
những chấm xám nhỏ trên bề mặt. Bệnh tích điển hình của bệnh tập trung ở túi
Fabricius: Ngày thứ ba sau khi nhiễm trùng, túi Fabricius bắt đầu tăng kích thước,
thủy thủng và có màu đỏ, bề mặt phủ một lớp gelatin, có thể xuất huyết. Ngày thứ 4,
túi Fabricius tăng gấp đôi về kích thước và trọng lượng, sau đó bắt đầu teo dần. Ngày
thứ 5 túi Fabricius trở lại kích thước bình thường và bắt đầu teo lại. Ngày thứ 8 có
kích thước bằng 1/3 so với bình thường.
2.7.4. Phòng bệnh
Tiêm phòng vắc xin cho gà 1 tuần tuổi bằng BIO-Burs I, nhỏ mắt mũi hoặc
cho uống, lập lại lần 2 khi gà được 3 tuần tuổi. Gà 3 tháng tuổi chủng lần 3 bằng
15


INACTI/VAC BN-ND tiêm dưới da 0,5ml/ con. Nếu sử dụng vắc xin phòng bệnh
Gumboro do Công ty TW 2 sản xuất thì chủng ngừa vắc xin 2 lần:
- Lần 1: gà 5 - 10 ngày tuổi (nhỏ mắt, mũi)
-Lần 2: gà 20 - 25 ngày tuổi (uống hoặc nhỏ mắt, mũi) Cần tiêm phòng cho
đàn gà bố mẹ để tạo miễn dịch thụ động cho gà con trong những ngày đầu mới nở.
Hiện nay có chế phẩm kháng thể Gumboro do một số công ty thuốc thú y trong nước
sản xuất được giới thiệu là có hiệu quả phòng trị bệnh Gumboro, Newcastle, Viêm khí quản
truyền nhiễm.
2.7.5. Điều trị
Bệnh không có thuốc trị bệnh, khi đàn gà phát bệnh biện pháp chủ yếu để
giảm tỉ lệ chết là tăng cường sức đề kháng bằng việc nuôi dưỡng, quản lý, chăm sóc,
cung cấp đầy đủ chất điện giải, vitamin có thể làm giảm tỉ lệ chết. Khi gà mắc bệnh
Gumboro, việc dùng kháng sinh để điều trị càng làm bệnh trầm trọng và tăng tỉ lệ
chết. Khi gà bệnh cần cho uống đường gluco và một trong các loại thuốc hỗ trợ sức
đề kháng sau:
- Vime C Electrolyte: 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
- Vimeperos : 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ.
- Vimix Plus : 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
- Vemevit Electrolyte : Gói 100g pha cho 200 lít nước uống.
- Aminovit : Gói 100g pha cho 500 lít nước uống.
- Vitaral : 1cc pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
2.8. Bệnh tụ huyết trùng
2.8.1. Nguyên nhân
Bệnh do vi khuẩn Pasteurella multocida, thường xảy ra ở gà từ 3 tháng tuổi trở
lên, hiện nay tuổi mắc bệnh thường sớm hơn ở đồng bằng sông Cửu Long. Tất cả các
loài gia cầm đều cảm thụ bệnh. Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa, hô hấp, vết thương
ngoài da, tiếp xúc với gia cầm bệnh.Vi khuẩn gây bệnh dễ bị diệt bởi thuốc sát trùng,
ánh nắng và nhiệt độ cao. Tuy nhiên, chúng có thể tồn tại hàng tháng trong xác gia
cầm chết nên cần chú ý xử lý xác gia cầm chết trong thời gian bệnh bộc phát
2.8.2. Triệu chứng
Bệnh thường xảy ra ở đàn gà đang đẻ. Thời gian nung bệnh 1- 2 ngày, có thể kéo dài 4 –
9 ngày.
*Thể quá cấp: Diễn biến nhanh, khó quan sát kịp triệu chứng, chỉ thấy con vật
ủ rũ cao độ. Sau đó 1-2 giờ gà chết.
16


*Thể cấp tính: Đây là thể bệnh phổ biến, con vật sốt cao 42 – 43 0C, ủ rũ, bỏ
ăn, xù lông, đi chậm, từ mũi, miệng chảy ra chất nhớt, có bọt lẫn máu. Tiêu chảy
phân màu nâu. Thở khó, mào và yếm tím bầm.
*Thể mãn tính: Gà gầy còm, mào và tích sưng, thuỷ thủng, hoại tử.
Viêm khớp mãn tính ở đầu gối, viêm phúc mạc mãn tính , ngẹo cổ
2.8.3. Bệnh tích
*Thể quá cấp: Bệnh tích không điển hình chỉ thấy xuất huyết và tụ huyết ở
xoang và các phủ tạng.
*Thể cấp tính: Tụ huyết và xuất huyết ở các tổ chức liên kết dưới da và các cơ
quan phủ tạng. Bụng chứa nhiều dịch tiết
*Thể mãn tính: Viêm hoại tử mãn tính đường hô hấp và gan. Viêm phúc mạc
mãn tính. Ống dẫn trứng sưng màu vàng nhạt, chứa dịch xuất có Fibrin. Viêm khớp,
khớp sưng to chứa nhiều dịch màu xám đục.
2.8.4. Phòng bệnh
Tiêm phòng bằng vắc xin tụ huyết trùng gia cầm cho gà 2 tháng tuổi hoặc vắc
xin INACTI/VAC-FC3 0,5ml/con cho gà khi 45 ngày tuổi, lặp lại lần hai cho gà trên
3 tháng tuổi. Đây là loại vắc xin chết dạng nhũ dầu tạo miễn nhiễm cao, nhưng nên
lưu ý khi chủng ngừa chỉ chủng dưới da cổ. Nếu chủng vào bắp thịt cổ sẽ tạo nốt
sưng nơi chỗ tiêm làm giảm giá trị quày thịt, còn chủng vào cổ gần đầu sẽ làm sưng
đầu. Khi bệnh tụ huyết trùng gia cầm xảy ra , nên phân lập vi khuẩn để biết được
type huyết thanh của chúng mà chọn vắc xin phòng bệnh hữu hiệu.Việc sử dụng
kháng sinh và sulfamid định kỳ trong khẩu phần ăn hàng ngày cũng có tác dụng hạn chế
bệnh tụ huyết trùng.
2.8.5. Điều trị
Cần điều trị sớm khi bệnh mới phát. Bệnh có thể tái phát khi ngưng điều trị và
nếu bệnh chuyển sang thể mãn tính thì điều trị không hiệu quả. Pha vào nước uống
hoặc trộn vào thức ăn một trong các loại thuốc sau: ETS, Vimenro, Genta-Colenro,
Erco-Sulfa, Genroflox, Tylenro 5+5, Cospicomplex, Norgencin,... Trường hợp bệnh
nặng, gà không ăn uống được cần cấp thuốc qua đường tiêm bắp. Dùng một trong
các loại thuốc sau: Ticotin, Erytialin , Colidox GV, Tylenro 5+5, Kampico, GentaColenro, … theo chỉ định.
Bổ sung các vitamine, để tăng cường sức đề kháng của đàn gia cầm. dùng một
trong các loại thuốc sau :
- Vimix Plus: 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
- Vime C Electrolyte: 1g pha cho 1 lít nước dùng liên tục 3 – 5 ngày.
17


- Aminovit : Gói 100g pha cho 500 lít nước uống.
- Vimeperos: 5g cho 1000 gà con, 500 gà giò, 200 gà đẻ.
2.9. Bệnh đậu gà
2.9.1. Nguyên nhân
Do virus thuộc nhóm Avipox gây ra. Bệnh thường xảy ra vào mùa đông xuân,
lúc tiết trời khô. Gà con 1 - 3 tháng rất cảm nhiễm với bệnh.
2.9.2. Triệu chứng
Thể ngoài da mụn đậu thường hình thành ngoài da như mào, yếm, khoé mắt,
khoé miệng, mặt trong cánh, quanh hậu môn và da chân.Lúc đầu là những nốt sần
nhỏ, có màu nâu xám hay xám đỏ, sau đó to dần như hạt đậu, da sần sùi. Nốt đậu
mọc ở mắt làm gà khó nhìn, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, nước mũi, làm gà
khó thở. Nốt đậu từ từ chuyển sang màu vàng, mềm, vỡ ra có chất mủ giống như
kem. Mụn đậu khô đóng vảy, vảy màu nâu sẫm rồi dần dần tróc đi để lại nốt sẹo nhỏ
màu vàng xám, mụn đậu lành nhanh chóng. Thể niêm mạc ( yết hầu) Thường xảy ra
trên gà con. Gà có biểu hiện khó thở, biếng ăn do niêm mạc hầu và họng bị đau. Gà
sốt , từ miệng chảy ra nước nhờn có lẫn mủ, màng giả. Trong niêm mạc hầu họng,
khoé miệng, thanh quản phủ lớp màng giả màu trắng. Khi lớp màng giả tróc đi thấy
lớp niêm mạc màu đỏ. Sau đó là quá trình viêm lan ra ở mũi và mắt. Thể hỗn hợp:
Xảy ra ở cả 2 thể là ngoài da và yết hầu, tỉ lệ chết cao, thường xảy ra trên gà con.
Ngoài ra còn có thể nhiễm trùng huyết con vật không có bệnh tích ở da chỉ sốt cao,
bỏ ăn, tiêu chảy, thể trọng sa sút nghiêm trọng. Bệnh diễn biến trong 3 - 4 tuần, phần
đông gia cầm lành bệnh, nhưng nếu vệ sinh không tốt thì khi có kế phát của vi trùng,
bệnh sẽ nặng hơn, tỉ lệ chết có thể đến 50%. Gà con mắc bệnh nặng hơn gà lớn, gà
nuôi tập trung tỉ lệ chết cao hơn gà nuôi gia đình.
2.9.3. Bệnh tích
Gà ốm gầy, nổi mụn đậu trên da, viêm cata ở niêm mạc miệng , thanh quản .
Các vết viêm này loang dần thành các nốt phồng, dày dần lên cuối cùng tạo thành
lớp màng giả dính chặt vào niêm mạc. Niêm mạc ruột có thể tụ máu đỏ từng đám.
Phổi tụ máu và tích nước. Khí quản chứa nhiều dịch xuất lẫn bọt
2.9.4. Phòng bệnh
Chủng ngừa cho gà con từ 7 – 10 ngày tuổi bằng vắc xin. Dùng kim đâm qua
màng cánh, sau 5 ngày cần kiểm tra lại vết chủng, nếu thấy vết chủng không cương
to như hạt tấm thì phải chủng lại lần hai.
2.9.5. Điều trị
18


Không có thuốc điều trị bệnh đặc hiệu, chỉ điều trị triệu chứng hoặc dùng các
loại kháng sinh để phòng bội nhiễm Đối với mụn đậu ngoài da có thể bóc vảy, làm
sạch các mụn đậu rồi bôi các chất sát trùng nhẹ như Glycerin10%, CuSO4 5% Thể
niêm mạc có thể lấy bông làm sạch màng giả ở miệng rồi bôi các chất sát trùng nhẹ
hay kháng sinh . Nếu đau mắt có thể dùng thuốc nhỏ mắt.
Vườn quốc gia Bến En

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×