Tải bản đầy đủ

Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt (Luận văn thạc sĩ)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Quang Năng

THÁI NGUYÊN - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu: “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong
ca dao người Việt” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Hà Quang Năng là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
chưa được công bố.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Người thực hiện

Nguyễn Thị Thùy Dương

i


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn
nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia
đình… Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất đến PGS.TS.
Hà Quang Năng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho
tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, tổ Ngôn ngữ học,
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và tạo
mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại khoa.
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng sau Đại học đã tạo điều
kiện cho tôi trong việc hoàn thành thủ tục để bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 12 tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn


Nguyễn Thị Thùy Dương

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ........................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................. v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát.......................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 3
5. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 3
6. Cấu trúc luận văn ............................................................................................. 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT...........5
1.1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu................................................................ 5

1.1.1. Những nghiên cứu chung về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ............... 5
1.1.2. Những nghiên cứu về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt ......... 6
1.2.

Cơ sở lí thuyết ........................................................................................... 7

1.2.1. Lí thuyết hội thoại ..................................................................................... 7
1.2.2. Lí thuyết hành động ngôn ngữ................................................................. 14
1.2.3. Giới thiệu khái quát về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của
người Việt ................................................................................................ 19
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 23
Chương 2. LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO
NGƯỜI VIỆT - DẠNG ĐẦY ĐỦ ......................................................... 24
2.1.

Kết cấu của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng đầy đủ ............. 24

2.1.1. Các dạng lượt lời của bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ........................... 24
2.1.2. Kiểu câu được sử dụng trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp..................... 27
iii


2.1.3. Các mô típ thường gặp ............................................................................ 29
2.2.

Cách thức thể hiện của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng
đầy đủ ...................................................................................................... 31

2.2.1. Thể hiện bằng các hình ảnh, biểu tượng.................................................. 31
2.2.2. Thể hiện trong bối cảnh giao tiếp ............................................................ 34
2.2.3. Thể hiện qua các nhân vật giao tiếp ........................................................ 38
2.3.

Nội dung của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng đầy đủ .......... 43

2.3.1. Lời tỏ tình và lời hồi đáp thuận tình ........................................................ 43
2.3.2. Lời tỏ tình và lời hồi đáp không thuận tình ............................................. 51
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 53
Chương 3. LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO
NGƯỜI VIỆT - DẠNG KHÔNG ĐẦY ĐỦ ........................................ 55
3.1.

Kết cấu của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ ......... 55

3.1.1. Các dạng lượt lời của bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không
đầy đủ ...................................................................................................... 55
3.1.2. Kiểu câu được sử dụng trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng
không đầy đủ ........................................................................................... 57
3.1.3. Các mô típ thường gặp ............................................................................ 58
3.2.

Cách thức thể hiện của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng
không đầy đủ ........................................................................................... 60

3.2.1. Thể hiện bằng các hình ảnh, biểu tượng.................................................. 60
3.2.2. Thể hiện trong bối cảnh giao tiếp ............................................................ 63
3.2.3. Thể hiện qua các nhân vật giao tiếp ........................................................ 65
3.3.

Nội dung của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ ..... 69

3.3.1. Nội dung của các bài ca dao tỏ tình khuyết lời hồi đáp .......................... 70
3.3.2. Nội dung của những bài ca dao là lời hồi đáp khuyết lời tỏ tình ............ 79
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 84
KẾT LUẬN....................................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 90

iv


DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

HĐH

: Hành động hỏi

HĐML

: Hành động mượn lời

HĐNN

: Hành động ngôn ngữ

HĐOL

: Hành động ở lời

HĐOLGT : Hành động ở lời gián tiếp
HĐTL

: Hành động tạo lời

Sp1

: Người nói

Sp2

: Người nghe

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.

Về sự luân phiên lượt lời trong bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp.......... 24

Bảng 2.2.

Các kiểu câu được sử dụng trong ca dao lời tỏ tình có lời hồi đáp ...... 27

Bảng 2.3.

Kiểu câu hỏi trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ............... 27

Bảng 2.4.

Từ chỉ không gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ...... 34

Bảng 2.5.

Từ ngữ chỉ thời gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ...... 36

Bảng 2.6.

Thống kê về chủ thể trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ............... 39

Bảng 2.7.

Các từ xưng hô trong bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ................. 41

Bảng 2.8.

Các từ để hỏi trong các bài ca dao tỏ tình có hồi đáp thuận tình ....... 43

Bảng 3.1.

Các kiểu câu được sử dụng trong ca dao lời tỏ tình có lời hồi
đáp - dạng không đầy đủ ............................................................... 57

Bảng 3.2.

Từ ngữ chỉ không gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi
đáp - dạng không đầy đủ ............................................................... 63

Bảng 3.3.

Chủ thể trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ ...... 65

Bảng 3.4.

Từ xưng hô trong bài ca dao là lời tỏ tình khuyết lời hồi đáp ...... 66

Bảng 3.5.

Các nhóm nội dung cơ bản trong ca dao tỏ tình khuyết lời
hồi đáp ........................................................................................... 70

Bảng 3.6.

Lời hồi đáp thuận tình và lời hồi đáp không thuận tình trong
các bài ca dao là lời hồi đáp khuyết lời tỏ tình ............................. 79

v


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Từ xưa đến nay, ca dao Việt Nam được ví như cây đàn muôn điệu,
dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân trải qua nhiều thế hệ. Ca dao
còn là viên ngọc quý sáng lấp lánh trong kho tàng vô giá của văn học dân gian.
Trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt nhưng công bằng của thời gian, ca dao dân ca
vẫn luôn được khẳng định là: “kho báu trí tuệ của nhân dân”. Như một thanh
nam châm chứa trong mình trí tuệ, nếp sống, tâm lí, tình cảm, kinh nghiệm của
người đi trước, ca dao luôn thu hút sự tìm tòi, khám phá, mang đến niềm say
mê cho bao thế hệ đến sau.
1.2. Ở bài viết “Lời nói đầu” trong Kho tàng ca dao người Việt, nhóm
biên soạn đã khẳng định: “Ca dao của người Việt hết sức phong phú và có giá
trị, đã có nhiều cuốn sách phản ánh được khối lượng thơ ca dân gian này”.
Thực ra, việc sưu tầm, nghiên cứu ca dao, dân ca từ lâu đã nhận được sự quan
tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, giống như một kho báu
còn rất nhiều điều quí giá chưa được khai phá, ca dao vẫn là mảnh đất màu mỡ
để những cây trí tuệ gieo mầm. Bài học từ ca dao, câu chuyện của ca dao, tình
yêu cuộc sống, con người trong ca dao…sẽ mang đến cho chúng ta bao điều
quí giá, thiết thực, bồi đắp trong ta tình yêu tiếng Việt, tình yêu quê hương đất
nước, niềm tự hào về những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. Đặc biệt là,
trong hoàn cảnh ngày nay, sự bùng nổ của khoa học công nghệ khiến cuộc sống
hiện đại có nhiều thay đổi. Nhiều người, nhất là giới trẻ mải mê với những trò
chơi giải trí, mạng xã hội và đang dần dần quên lãng những giá trị tinh tế, sâu
sắc của các loại hình văn hóa dân gian, trong đó có ca dao, dân ca. Là một
người thầy, nhiều năm gắn bó với sự nghiệp trồng người, chúng tôi thấy cần có
trách nhiệm giúp cho học trò của mình hiểu, yêu mến, có thái độ hợp lý, biết
trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nhất là hình thành
cho học sinh thói quen sử dụng tục ngữ, ca dao, dân ca trong cuộc sống hàng
ngày để lời nói được hay hơn, đẹp hơn, tinh tế và sâu sắc hơn.
1


Chúng tôi tin chắc rằng, rất nhiều người Việt Nam ngay từ khi cất tiếng
khóc chào đời đã được đắm mình trong thế giới bay bổng của những câu
chuyện cổ tích, trong lời ca dao, dân ca trữ tình ngọt ngào, tha thiết từ lời ru ầu
ơ của bà, của mẹ và cả những câu nói bình dị, dân dã mà nặng nghĩa, sâu tình
của những người sống xung quanh ta. Đó là lý do khiến mỗi người Việt Nam ít
nhiều đã mang trong mình một niềm yêu mến, tự hào với những câu tục ngữ, ca
dao, dân ca mượt mà, hàm súc. Vậy làm thế nào để sự am hiểu của mọi người
về ca dao được sâu sắc hơn, tình yêu mến, tự hào với ca dao được lan tỏa hơn
là điều chúng tôi luôn trăn trở. Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi thấy thích
thú và muốn tìm hiểu nhiều hơn về những câu ca dao là lời tỏ tình và lời hồi
đáp của người Việt.
Xuất phát từ những lí do trên, qua thực tế đã khảo sát, chúng tôi nhận thấy
rằng chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào trùng với vấn đề mà chúng tôi
quan tâm. Vì vậy chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Lời tỏ tình và lời hồi
đáp trong ca dao người Việt”.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao, tìm ra những đặc
trưng về hình thức, nội dung của lời tỏ tình, lời hồi đáp trong ca dao người Việt
để thấy được vẻ đẹp tâm hồn con người Việt được bộc lộ trong những bài ca
dao này. Từ đó góp phần lưu giữ, bảo tồn những vẻ đẹp của ngôn ngữ, tâm hồn
dân tộc Việt. Đồng thời kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng làm tư liệu tham
khảo cho những người muốn nghiên cứu về hành động ngôn ngữ trong ca dao.
2.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi là:
- Xác lập một khung lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Thống kê, phân loại lời tỏ tình và lời hồi đáp trong kho tàng ca dao
người Việt.
- Miêu tả, phân tích đặc điểm của lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao
người Việt.
2


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: nghiên cứu lời tỏ tình và hồi đáp trong kho tàng ca
dao người Việt trong cuốn Kho tàng ca dao Người Việt, Nguyễn Xuân Kính
(Chủ biên) Nxb văn hóa.
- Nội dung nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn là:
+ Cấu tạo hình thức của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp.
+ Hành động ngôn ngữ trong các bài cao dao tỏ tình có lời hồi đáp.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê phân loại
Chúng tôi dựa vào phương pháp này để thu thập ngữ liệu trong từng vấn
đề cụ thể theo định hướng của luận văn. Phương pháp này cũng được sử dụng
để tập hợp định lượng những hiện tượng ngôn ngữ ẩn chứa trong ca dao trữ
tình, từ đó có sự phân tích định tính và đưa ra những nhận xét, đánh giá hay
những kiến giải phù hợp.
4.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này lấy xuất phát điểm là lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca
dao người Việt gắn liền với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể; do vậy cần phải dựa
vào hoàn cảnh cụ thể, vào chủ thể tham gia giao tiếp để xác định, miêu tả và
phân tích hình thức, nội dung, từ đó hiểu sâu sắc các ý nghĩa của lời tỏ tình và
lời hồi đáp trong ca dao của người Việt.
4.3. Phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả, phân tích diễn ngôn với
nguồn tư liệu đã lựa chọn, từ đó có những nhận xét, kết luận phù hợp. Phương
pháp này tạo nên tính logic, chặt chẽ trong lập luận.
5. Đóng góp của luận văn
5.1. Về lý luận
Đến với một vấn đề nghiên cứu còn nhiều mới mẻ mà năng lực và trình độ
còn hạn chế nên những điều chúng tôi trình bày trong khóa luận chỉ là kết quả
3


của một bước khởi đầu. Chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc
nghiên cứu tục ngữ ca dao dân ca. Qua đó giúp người học hiểu và tiếp cận tục
ngữ ca dao dân ca một cách trọn vẹn hơn. Vì thế, có thể xem luận văn này là
một tư liệu tham khảo nhỏ bé về ca dao Việt Nam cho những ai quan tâm và
yêu thích đề tài này.
5.2. Về thực tiễn
Cùng với sự cuốn hút thú vị của vốn ca dao dân tộc, việc nghiên cứu đề
tài này sẽ giúp khẳng định các đặc điểm về cấu trúc, chủ thể, bối cảnh, hình
thức và nội dung của lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao trữ tình người
Việt. Nó là cơ sở để hiểu thêm về cách mà người Việt bày tỏ tâm tư, tình cảm
của mình qua ca dao; đồng thời qua đó cũng để hiểu thêm phong tục, tập quán
và con người của dân tộc Việt Nam.
Khóa luận còn có ý nghĩa sư phạm, kết quả của đề tài sẽ góp thêm một cứ
liệu trong lĩnh vực nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá, văn học dân gian và
văn hoá dân gian; là nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu và
giảng dạy ngữ dụng học, văn học dân gian trong nhà trường. Từ đó, góp phần
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Lời tỏ tình và lời hồi đáp - dạng đầy đủ.
Chương 3: Lời tỏ tình và lời hồi đáp - dạng không đầy đủ.

4


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu chung về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
Từ xưa đến nay, vấn đề nghiên cứu tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ít
nhiều đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và tiếp nhận. Tuy
nhiên, phần lớn những công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, dân ca chỉ dừng
lại ở việc sưu tầm giới thiệu sơ lược. Được đánh giá cao là công trình sưu tầm
nghiên cứu: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ
Việt Nam của tập thể tác giả, Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Trù,
Kho tàng ca dao Người Việt, 3 tập của tập thể tác giả Nguyễn Xuân Kính, Phan
Đăng Nhật, Phan Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang.
Chu Xuân Diên trong “Văn học dân gian Việt Nam” đã nghiên cứu một
cách khá toàn diện về cả nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao. Theo tác
giả “Ca dao phản ánh quan điểm tự do yêu đương, tự do hôn nhân của nhân dân
lao động”. Mã Giang Lân trong “Tục ngữ, ca dao Việt Nam” đã có những nghiên
cứu tổng quan về ca dao nhưng chưa có những diễn giải cụ thể. Còn Vũ Ngọc
Phan cũng đã nghiên cứu về ca dao một cách hệ thống. Tuy nhiên, các nghiên
cứu còn tập trung nhiều đến phương diện biểu hiện tình cảm của người bình dân
ở các góc độ đấu tranh giai cấp.
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu còn chú ý khai thác ca dao nói
chung và ca dao trữ tình nói riêng trên nhiều phương diện như văn học dân
gian, thi pháp học, ngôn ngữ học, văn hóa học. Có thể kể đến sự đóng góp của
các tác giả như:
+ Trần Thị An (1990) với “Về một phương diện nghệ thuật của ca dao
tình yêu”, Văn hóa dân gian.
+ Phan Huy Dũng (1991) với “Hình thức lấp lửng của lời tỏ tình trong
bài ca xin áo”, Văn hóa dân gian).
+ Hoàng Tiến Tựu (1998) với “Bình giảng ca dao”, Nhà xuất bản Giáo dục.
5


+ Đỗ Thị Kim Liên (2003) với “Cách sử dụng từ xưng hô trong ca dao
tình yêu”, Ngôn ngữ.
+ Nguyễn Xuân Kính (2006) với “Thi pháp ca dao”, Nhà xuất bản khoa
học Hà Nội.
+ Hoàng Kim Ngọc (2009) với “So sánh ẩn dụ trong ca dao trữ tình”, nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã tiếp cận ca dao trữ tình từ góc nhìn của lý
thuyết giao tiếp ngôn ngữ và phân tích diễn ngôn.
+ Hà Thị Hồng Mai (2013) với luận án “Hành động hỏi trong ca dao”.
Tác giả đã tập trung làm rõ các đặc điểm của hành động hỏi trong ca dao trên
các phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng xử, trong đó nổi bật là phép
lịch sự.
+ Nguyễn Bích Hảo (2014) với “ Lời khen trong ca dao Việt Nam dưới
góc nhìn ngôn ngữ văn hóa”.
1.1.2. Những nghiên cứu về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt
Đến nay, trong số các tài liệu mà chúng tôi tham khảo và sưu tầm được,
chưa phát hiện đề tài nào trùng tên với đề tài của luận văn này. Có thể trên thực
tế, tùy theo khuôn khổ của từng bài viết, và tùy theo mục đích yêu cầu nghiên
cứu cụ thể mà một vài khía cạnh của vấn đề đã được đề cập đến, nhưng chưa có
nghiên cứu nào về “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt”. Trên
cơ sở tiếp nhận và kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,
với mong muốn góp phần làm rõ thêm mảng đề tài nghiên cứu một số hành
động ngôn ngữ được thể hiện trong một thể loại của văn học dân gian là ca dao,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao
người Việt”.
Qua đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi mong muốn mang đến một
cách nhìn, cách cảm mới về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của người
Việt; góp một phần công sức nhỏ bé vào gìn giữ và phát huy những giá trị cao
đẹp của ca dao, dân ca. Chúng tôi cho rằng đó cũng là cách thiết thực để bảo
tồn, phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.
6


1.2. Cơ sở lí thuyết
1.2.1. Lí thuyết hội thoại
1.2.1.1. Khái niệm hội thoại
Hội thoại là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và hiện
nay ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia đều bàn đến hội thoại. Ở nước ta, kế
thừa những thành quả của ngôn ngữ học thế giới, hội thoại đã trở thành mảng
nghiên cứu hấp dẫn của ngôn ngữ học ứng dụng. Xoay quanh khái niệm “hội
thoại”, chúng ta phải kể đến một số khái niệm sau:
Theo Hồ Lê thì “Hội thoại là hành vi thể hiện ngôn giao hai chiều, cụ
thể và xác định, làm chuyển hóa vị thế của người thụ ngôn thành vị thế của
người phát ngôn và ngược lại, đồng thời tạo ra sự liên kết hành vi phát ngôn
với hành thụ ngôn tạo thành một thể thống nhất” (dẫn theo [29, tr.13]).
Còn Nguyễn Thiện Giáp thì khẳng định: “Giao tiếp hội thoại là hành
chức cơ bản của ngôn ngữ. Giao tiếp hội thoại luôn luôn có sự hài hòa giữa
người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn
nhau mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau” [19, tr.63].
Nhìn chung, khái niệm “hội thoại” được các nhà nghiên cứu nhắc đến
đều bao gồm yếu tố chỉ nhân vật tham gia hội thoại và quy tắc luân phiên lượt
lời giữa các vai giao tiếp thúc đẩy hội thoại phát triển.
Riêng Đỗ Hữu Châu lại đưa ra khái niệm “hội thoại” một cách bao quát
rộng hơn, có thể áp dụng cho nhiều loại hình ngôn ngữ: “Hội thoại là hình thức
giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của
mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội thoại là khái niệm dành cho mọi hình thức
hội thoại khác nhau” [8, tr.201].
Cũng theo Đỗ Hữu Châu thì hội thoại có một số đặc điểm sau:
- Thoại trường khác nhau sẽ có cuộc hội thoại khác nhau. Tức là với một
không gian - thời gian cụ thể sẽ tương ứng với hình thức hội thoại phù hợp với nó.
- Số lượng tham gia hội thoại cũng khiến hội thoại mang những tính chất
với những tên gọi khác nhau. Chẳng hạn, với hai người tham gia, chúng ta đặt tên
7


hình thức hội thoại là song thoại, ba người tham gia - tương ứng với nó là hình
thức tam thoại, nhiều người tham gia hội thoại hơn nữa thì có hình thức đa thoại.
- Cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại cũng sẽ ảnh
hưởng lớn đến cuộc thoại. Theo đó, vị thế giao tiếp sẽ trở thành nhân tố nhằm
duy trì, thúc đẩy hoặc kết thúc cuộc thoại.
- Các cuộc hội thoại đều có những “đích” cụ thể của mình. Để bắt đầu
cuộc thoại, các đối tác đối thoại đã phải xác định mục tiêu giao tiếp mà mình
cần đạt được từ đó xây dựng chiến lược phù hợp. Tuy nhiên, đối với những
cuộc tán gẫu thì “đích” này thường không cụ thể và mang tính tự phát.
- Các cuộc hội thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có hình
thức. Căn cứ vào từng cuộc thoại mà hình thức thể hiện, quy trình tổ chức, dẫn
dắt,... cũng khác nhau... có khi không cần hình thức tổ chức hỗ trợ nào cả.
- Với những hình thức hội thoại khác nhau thì ngữ vực để thể hiện nó
cũng khác nhau [8, tr.201].
1.2.1.2. Cấu trúc hội thoại
Theo Đỗ Hữu Châu [8,tr.90] cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có ba
trường phái với những quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại. Thứ nhất là
trường phái phân tích hội thoại ở Mĩ (Conversation analysis) - Trường phái này
cho rằng hội thoại có hai tổ chức cơ bản là lượt lời và cặp thoại. Thứ hai là
trường phái phân tích diễn ngôn (discourse analysis) - Trường phái này dựa
trên mô hình cấu trúc bậc (rank) chia hội thoại thành năm bậc. Trong cấu trúc
tầng bậc này, hành động (act) là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại tức cuộc tương
tác. Các hành động tạo nên bước thoại, các bước thoại tạo nên cặp thoại và đơn
vị lớn nhất, bao trùm là cuộc thoại. Trong đó, ba đơn vị cuộc thoại, đoạn thoại,
cặp thoại có tính chất lưỡng thoại (dialogal) có nghĩa là hình thành do vận động
trao đáp của các nhân vật hội thoại. Hai đơn vị có tính chất đơn thoại, có nghĩa
là do một người nói ra là tham thoại và hành động ngôn ngữ. Thứ ba là trường
phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp - Trường phái này đã phân định các
8


đơn vị cấu trúc hội thoại thành các đơn vị cơ bản: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp
trao đáp, hành động ngôn ngữ và tham thoại. Do điều kiện và mục đích của đề
tài, chúng tôi không thể đi sâu tìm hiểu các đơn vị cấu trúc của các trường phái
khác mà chỉ xin trình bày một số đơn vị hội thoại theo trường phái lý thuyết hội
thoại nhằm làm cơ sở lý thuyết cho đề tài.
a. Cuộc thoại
Cuộc thoại hay còn gọi là cuộc tương tác (interaction) là đơn vị hội thoại
bao trùm, lớn nhất tính từ khi các nhân vật tham gia cuộc thoại gặp nhau, khởi
đầu nói cho đến lúc chấm dứt [8, tr.312]. Một cuộc thoại được xác định bởi các
nhân tố sau:
- Nhân vật hội thoại: Một cuộc hội thoại được xác lập bởi sự đương diện
liên tục của hai hay nhiều người tham gia.
- Tính thống nhất về thời gian và vị trí diễn ra hội thoại: Thời gian có thể
ban ngày, ban đêm, chiều tối, hôm qua. Không gian có thể là một khu vườn,
bên bờ ruộng, trên đường đi, trên thuyền,... Tiêu chí này chỉ có tính chất tương
đối bởi vì trong quá trình hội thoại thời gian và không gian có thể thay đổi.
- Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: “Đề tài là cái phạm vi hiện thực mà
người nói đề cập đến” [24, tr.189]. “Chủ đề là cái chủ đích mà người nói,
người nghe cùng đề cập đến trong toàn bộ cuộc thoại”. Một cuộc thoại có độ
dài ngắn khác nhau song đòi hỏi phải có sự thống nhất về đề tài - tức các nhân
vật tham gia cuộc thoại phải cùng hướng đến một vấn đề, một cái đích chung.
Theo Grice một cuộc thoại phải theo một hướng nhất định từ đầu cho đến khi
kết thúc (dẫn theo [8, tr.312]). Tuy nhiên, trên thực tế lại tồn tại rất nhiều cuộc
thoại mà đề tài liên tục được thay đổi. Do tính chất không chặt chẽ của các tiêu
chí trên, C.K. Orecchioni đã đưa ra một định nghĩa mềm dẻo hơn về cuộc thoại:
“Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật
có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian
có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng
không đứt quãng” (dẫn theo [8, tr.313]).
9


Như vậy, để nhận diện một cuộc thoại điều kiện cần và đủ là có một nhóm
nhân vật, nhóm nhân vật này cùng nói về một vấn đề - đề tài trong một phạm vi
thời gian, không gian nhất định.
b. Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một cặp trao đáp liên kết chặt chẽ
với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng. Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ
đề: một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích [8, tr.313].
Cấu trúc tổng quát trong một cặp thoại là:
- Đoạn thoại mở thoại: Mang tính chất “đưa đẩy”, có chức năng mở ra
cuộc thoại và nêu đề tài diễn ngôn.
- Đoạn thân thoại: Là đoạn thoại phản ánh nội dung chính của cuộc thoại.
- Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại có chức năng tổng kết, kết luận về chủ đề
hội thoại. Để kết thúc chúng ta có thể đưa ra những lời hứa hẹn, cảm ơn, chúc
mừng, xin lỗi, từ biệt...
c. Cặp thoại
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại
tạo nên “Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một cá nhân nói ra cùng với tham
thoại khác lập thành một cặp thoại” [8, tr.315]. Về nguyên tắc, một cặp thoại ít
nhất phải do hai tham thoại tạo nên. Tham thoại thứ nhất ở lượt lời người trao
là tham thoại dẫn nhập. Tham thoại thứ hai ở lượt lời người đáp là tham thoại
hồi đáp.
Trong giao tiếp, như đã biết, mỗi cặp thoại bình thường gồm ít nhất hai
tham thoại. Tuy nhiên, trong giao tiếp vẫn có những cặp thoại chỉ có một
tham thoại còn phổ biến là trường hợp cặp thoại có từ hai tham thoại trở lên.
Gọi là cặp thoại một tham thoại là căn cứ vào hình thức biểu hiện của nó trên
bề mặt diễn ngôn, còn thực tế quan hệ trao đáp trong cặp thoại luôn giả định
sự thực tồn của tham thoại thứ hai. Quả thực những cặp thoại một tham thoại
là cặp thoại đơn giản nhưng lại không bình thường về cấu tạo. Nó tạo ra cấu
10


trúc hẫng của cặp thoại (theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu) (gọi là cặp thoại
hẫng) nhưng là một hiện tượng khá phổ biến. Hơn nữa, trong nhiều tình
huống hội thoại, việc có những “tham thoại” không có lời lại mới là bình
thường của sự trao đáp.Thông thường một cặp thoại ít khi kéo dài đến 5, 6
tham thoại. Tuy nhiên, sự có mặt các tham thoại tiêu cực làm cho cấu trúc và
chức năng của các cặp thoại trở nên phức tạp, khó miêu tả [8, tr.328].
d. Tham thoại
Theo tác giả Nguyễn Đức Dân, đơn vị cơ bản của hội thoại là lượt lời và
trong một cặp thoại, lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ
hai. Vì thế, ông đã gộp hai khái niệm tham thoại và lượt lời làm một. Đỗ Hữu
Châu lại phân biệt rạch ròi hai khái niệm tham thoại và lượt lời. Tác giả cho
rằng, lượt lời khác tham thoại: “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật nói
ra, kể từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi
của mình là một lượt lời” [8, tr.205] và một lượt lời có thể có nhiều tham thoại,
mà cũng có thể nhỏ hơn tham thoại (một tham thoại gồm nhiều lượt lời).
Trong các tham thoại, lời dẫn nhập và lời hồi đáp có những chức năng
khác nhau:
Chức năng ở lời dẫn nhập, là chức năng ở lời quy định quyền lực và
trách nhiệm đối với nhân vật hội thoại. Chức năng ở lời dẫn nhập thường thuộc
các tham thoại chủ hướng.
Chức năng ở lời hồi đáp là chức năng ở lời của các tham thoại hồi đáp lại
chức năng ở lời dẫn nhập. Chức năng này thuộc các tham thoại hồi đáp nói
chung (đáp không chỉ có nghĩa là trả lời) và chỉ rõ mức độ thỏa mãn các trách
nhiệm mà tham thoại ở lời dẫn nhập đặt ra. Theo tiêu chí này, các chức năng ở
lời hồi đáp có thể chia thành ba nhóm: chức năng hồi đáp tích cực (khẳng
định), chức năng hồi đáp tiêu cực (phủ định) và chức năng hồi đáp trung gian
(không thể hiện rõ phủ định hay khẳng định). Các chức năng hồi đáp tiêu cực
lại có chức năng hồi đáp tiêu cực đối với phát ngôn (tức đối với nội dung của
phát ngôn) và hồi đáp tiêu cực đối với chính sự phát ngôn.
11


Một tham thoại hồi đáp không chỉ đáp lại nội dung của tham thoại ở lời
dẫn nhập, nó không chỉ thực hiện vế thứ hai của hiệu lực ở lời tức thực hiện
trách nhiệm đối với tham thoại dẫn nhập. Tự nó khi thực hiện trách nhiệm thì
cũng đồng thời đưa ra một quyền lực: quyền lực buộc người đối thoại (người
đưa ra tham thoại dẫn nhập) phải tin vào, phải đáp lại điều mà tham thoại hồi
đáp đưa ra (do trách nhiệm phải hồi đáp). Chính vì vậy khi một tham thoại hồi
đáp cho tham thoại dẫn nhập thứ nhất thì nó tự khắc trở thành một tham thoại
đòi hỏi sự hồi đáp của người đối thoại. Như vậy trong một cặp thoại có các
tham thoại sau:
- Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng).
- Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại.
- Tham thoại hồi đáp.
1.2.1.3. Vận động hội thoại
Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có 3 vận động chủ yếu: trao lời, trao
đáp và tương tác.
a. Sự trao lời
Vận động đầu tiên xuất hiện trong một cuộc hội thoại là vận động mà Sp1
(người nói) nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình vào Sp2 (người
nghe) làm cho Sp2 nhận biết lượt lời đó là dành cho Sp2.
b. Sự trao đáp
Sau khi tiếp nhận phát ngôn của Sp1, Sp2 đưa ra phát ngôn để thể hiện
quan điểm, ý kiến, tình cảm của mình để đáp lại lời trao từ Sp1, và cuộc thoại
chính thức được bắt đầu. Đây gọi là vận động trao đáp.
c. Sự tương tác hội thoại.
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác
động tác động đến cách ứng xử của nhau. Đây được xem là vận động tương tác
xảy ra trong hội thoại. Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một
khoảng cách nhất định về sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi
hội thoại, nếu những khoảng cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có
12


thể nói đã có một cuộc hội thoại tích cực. Ngược lại, khoảng cách ấy vẫn giữ
nguyên hoặc mở rộng ra, khi ấy cuộc thoại có thể bị xem là tiêu cực. Tương tác
là một kiểu quan hệ xã hội giữa người với người. Có một hoạt động xã hội thì
tất nhiên sẽ có sự tương tác. Tương tác bằng lời là một kiểu tương tác, mà hình
thức giao tiếp bằng ngôn ngữ.
1.2.1.4. Các quy tắc hội thoại
Để một cuộc hội thoại có thể diễn tiến bình thường, các đối ngôn trong
cuộc thoại phải tuân thủ những quy tắc nhất định khi tham gia hội thoại. Qua
nghiên cứu thực tế, chuyên gia ngữ dụng học C. K. Orecchioni người Pháp đã
đề ra một số quy tắc cụ thể như sau: quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy
tắc quan hệ cá nhân trong hội thoại. Khi tham gia hội thoại, các đối ngôn phải
có ý thức rõ ràng về các vai trò nói và nghe của nhau. A đóng vai trò nói thì B
sẽ đóng vai trò nghe, và sau khi nhận ra dấu hiệu thể hiện hết vai của A, B sẽ
tiếp nhận vai trò của A để tiến trình hội thoại không bị gián đoạn. Các lượt lời
nói có thể được một người điều chỉnh hoặc do các đối ngôn tự thương lượng
ngầm với nhau. Đó chính là quy tắc được gọi là quy tắc điều hành luân phiên
lượt lời.
Trong hội thoại, còn có quy tắc điều hành nội dung của hội thoại, chủ yếu
quy định về quan hệ nội dung giữa các phát ngôn được đưa ra trong quá trình
hội thoại. Theo quy tắc này, một cuộc hội thoại không phải là sự lắp ghép ngẫu
nhiên, tùy tiện các phát ngôn, các hành vi ngôn ngữ. Nguyên tắc liên kết không
chỉ chi phối các diễn ngôn đơn thoại mà chi phối cả những lời tạo thành một
cuộc thoại. Tính liên kết hội thoại thể hiện bên trong một phát ngôn, giữa các
phát ngôn, giữa các hành động ở lời, giữa các đơn vị hội thoại…
Trước đó, Grice cũng đã từng xuất phát từ quy luật trong hội thoại mà đề
ra nguyên tắc cộng tác hội thoại và các phương châm hội thoại. Nội dung chủ
yếu của nguyên tắc cộng tác hội thoại được P. Grice đề xuất là: Hãy làm cho
phần đóng góp của anh đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện
phù hợp với mục đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp
nhạn tham gia vào (Grice 1967).
13


Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần thuật những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgic) còn có quan hệ
được gọi là liên cá nhân (quan hệ giữa các vai trong gia tiếp). Liên quan trực
tiếp đến quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp.
1.2.2. Lí thuyết hành động ngôn ngữ
1.2.2.1. Khái quát hành động ngôn ngữ
Giữa những năm 1950, J.L.Austin - nhà triết học người Anh đã trình bày
12 chuyên đề liên quan đến hành động ngôn ngữ (HĐNN) (cũng gọi là hành vi
ngôn ngữ). Ông đã tiến hành phân biệt phát ngôn khảo nghiệm với phát ngôn
ngữ vi và phát hiện ra được bản chất hành động của ngôn ngữ. “Khi chúng ta nói
năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà
phương tiện là ngôn ngữ. Một HĐNN được thực hiện khi một người nói (hoặc
viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong
một ngữ cảnh C” (dẫn theo [7, tr.446]).
1.2.2.2. Các hành động ngôn ngữ
J.L.Austin cho rằng có ba loại HĐNN lớn là: hành động tạo lời
(locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act), hành động ở lời (Illocutionary act).
a. Hành động tạo lời (HĐTL)
"Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ,
quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc)
hay những văn bản có thể hiểu được" (dẫn theo [25, tr.70]).
b. Hành động mượn lời (HĐML)
"Là những hành động mượn những phương tiện ngôn ngữ, hay nói một
cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra một tác động hay hiệu quả
ngoài ngôn ngữ đối với người nghe. Hiệu quả này không đồng nhất ở những
người khác nhau" (dẫn theo [25, tr.71]).
Ví dụ: Khi nghe thông báo: “Kí túc xá sẽ cắt điện hôm nay để sửa đường
điện”, phát ngôn này sẽ gây ra những phản ứng khác nhau như: một số người sẽ
tỏ ra lo lắng thiếu ánh sáng sẽ không học được, một số người lười học thì sẽ tỏ
14


ra vui vì đó là lí do chính đáng để họ đi chơi, một số người sẽ lo lắng vì việc
mất điện sẽ đi đôi với việc mất nước và như vậy sẽ không có nước sinh hoạt.
Đó chính là hiệu quả mượn lời ở phát ngôn trong ví dụ trên.
Như vậy có thể nói HĐML là hành động nhằm gây ra những biến đổi
trong nhận thức, trong tâm lí, trong hành động vật lí có thể quan sát được, gây
ra một tác động nào đó đối với ngữ cảnh. Hiệu quả mượn lời là những hiệu quả
ngoài ngôn ngữ (ngoài diễn ngôn), phân tán, không có tính qui ước và khó tìm
ra cơ chế.
c. Hành động ở lời (HĐOL)
"Là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu
quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản
ứng với người nghe. Sở dĩ ta gọi là hành động ở lời là vì khi nói thì ta đồng
thời thực hiện luôn một hành động ở trong lời (còn gọi là hành động ở lời,
hành động trong lời)” (dẫn theo [25, tr.72]).
1.2.2.3. Điều kiện sử dụng các hành động ở lời
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu để một hành động nói chung, một HĐNN
nói riêng đạt được hiệu quả đúng với đích của nó thì phải thoả mãn các điều
kiện sử dụng. “Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời là những điều kiện mà một
hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự
phát ngôn ra nó” [7, tr.111].
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên lại chỉ ra rằng: “Điều kiện sử dụng HĐOL
(hành vi ở lời) là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiện một HĐOL nhất
định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể” [25, tr.82].
Điều kiện sử dụng các HĐOL theo J.L.Austin là các điều kiện “may mắn”
(felicic conditions) vì nếu chúng được bảo đảm thì hành động mới thành công.
- Phải có thủ tục có tính quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả có
tính quy ước; Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiện quy
định trong thủ tục.
15


- Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ.
- Thông thường thì những người thực hiện hành động ở lời phải có ý nghĩ
tình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục, và khi hành động diễn ra
thì ý nghĩ tình cảm, ý định đúng như nó đã có (dẫn theo [7, tr.112]).
J.R.Searle gọi HĐOL là điều kiện thoả mãn, bao gồm bốn loại sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động.
- Điều kiện chuẩn bị: bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về
năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và
người nghe.
- Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người
phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa
người nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mong
muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói.
- Điều kiện căn bản: là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói,
người nghe bị ràng buộc khi HĐOL đó được phát ra.
Sở dĩ chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới HĐOL và điều kiện sử dụng HĐOL
bởi chính các điều kiện sử dụng đó sẽ giúp cho việc nhận diện và phân biệt các
hành động ở lời trực tiếp (HĐOLTT) và hành động ở lời gián tiếp (HĐOLGT).
1.2.2.4. Hành động ở lời trực tiếp - gián tiếp
a. Hành động ở lời trực tiếp
“Khi nào có một quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng
thì chúng ta có một hành động ngôn từ trực tiếp” [43, tr.55].
Cũng có thể coi những HĐNN (hành động ở lời) chân thực (hành động
ngôn ngữ trực tiếp) là những HĐNN được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng
với điều kiện sử dụng của chúng.
Ví dụ:
Sp1: Cô sinh được mấy cháu?
Sp2: Em có tất cả ba cháu bác ạ!
Trong phát ngôn trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH, được đánh dấu bằng
phương tiện hình thức là dùng đại từ nghi vấn mấy để hỏi về số lượng (số ít, đếm
16


được, dưới 10). Xét về các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát ngôn không
vi phạm điều kiện nào. Với đích ở lời là hỏi, phát ngôn đã mang tới hiệu lực của
HĐOLH bằng sự phản ứng của Sp2 trả lời và cung cấp cho Sp1 thông tin về số
lượng mà Sp1 muốn biết. Như vậy, phát ngôn chúng tôi vừa phân tích trên đây
đã thực hiện HĐOLH trực tiếp.
Ví dụ:

Gặp đây anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này có lấy anh không?

Trong bài ca dao trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH bằng phương tiện đánh
dấu về hình thức là cặp phụ từ nghi vấn có... hay không để hỏi về việc có đồng
ý lấy anh không. Tuy nhiên, khi xét các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát
ngôn không thỏa mãn đầy đủ 4 điều kiện. Sp1 không biết rõ câu trả lời, nhưng
Sp1 thực hiện hành động hỏi không hoàn toàn nhằm mục đích để Sp2 cung cấp
cho mình thông tin chưa rõ, Sp1 cũng không cố gắng nhận thông tin đồng ý hay
không đồng ý từ Sp2. Sp1 thực hiện HĐOLH nhưng là để làm quen, để bông
đùa. Như vậy, phát ngôn đã vi phạm điều kiện 3 và 4 trong các điều kiện sử
dụng HĐOL mà Searle đưa ra. Từ đó có thể thấy phát ngôn trên thực hiện
HĐOLH nhưng nhằm mục đích thực hiện hành động gián tiếp là làm quen, là
bông đùa.
b. Hành động ở lời gián tiếp
Có một nguyên lí đặc biệt của ngôn ngữ đó là: trong nói năng, chúng ta
truyền báo nhiều hơn là điều chúng ta nói ra. Trong thực tế giao tiếp, một phát
ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời, mà đại bộ phận phát ngôn được
xem như là thực hiện đồng thời một số hành động ở lời.
Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt HĐOL này nhưng lại
nhằm hiệu quả của một HĐOL khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động
ngôn ngữ theo lối gián tiếp.
Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng: “Một hành vi được sử dụng gián
tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng
lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×